Hôm nay dọn bàn làm việc, tôi tìm thấy một mẩu tin đăng trên trang 5 của tờ báo Khoa học phổ thông, số 16/10 (1391) ra ngày 30/4/2010, số kỷ niệm 35 ngày thống nhất đất nước.
Mẩu tin này là một phần của bài viết có tựa đề là "TP HCM, dấu ấn 35 năm", trong đó điểm qua các thành tựu nổi bật của thành phố trên các lãnh vực khoa học - công nghệ và giáo dục. Bài viết dài, đăng ngay trang đầu của tờ báo, nhưng vì dài nên phải cắt đôi ra và phần tiếp theo của bài viết được đăng trên trang 5. Trong đó có chứa mẩu tin mà tôi đang đề cập đến.
Mẩu tin gì mà đáng quan tâm thế? Ừ, thật ra thì cũng chẳng có gì quá quan trọng. Đây là thành tựu được nêu cuối cùng trong bài báo, với tựa nhỏ là "Giáo dục đại học: đủ sức hội nhập khu vực".
Cái tựa nghe ấn tượng quá, phải không? Thực ra, có lẽ nói như thế có lẽ cũng ... hơi cường điệu một chút, vì chỉ mới có 3 trong số hàng ngàn (?) chương trình được đánh giá thôi, mà đã khẳng định như cái tựa đó thì thực ra hơi vội. Nhưng quả thật, đây là lần đầu tiên các chương trình đại học của VN tham gia một kỳ đánh giá đồng nghiệp khách quan như vậy. Ở ĐHQG-HCM nơi tôi làm việc, 3 chương trình đó được chọn đăng ký lần đầu tiên, không phải là không có một chút nghi ngại, nhưng cuối cùng cả 3 đều đạt mức trung bình chung của khu vực trở lên.
Chất lượng chương trình đào tạo tất nhiên là do nỗ lực của trường, của thầy cô, và của sinh viên. Và tất nhiên cũng do định hướng của lãnh đạo, sự chỉ đạo, giám sát, quan tâm, tạo điều kiện triển khai, gì gì đấy ... của đảng, của nhà nước. Có thực chất rồi, thì ai đánh giá cũng được, kết quả cũng đều tốt.
Vấn đề là xưa nay ta đóng cửa, không hội nhập, không đối sánh ra bên ngoài, nên khó mà biết được mình ở đâu so với thế giới. Nên những lời khẳng định kiểu "đạt tầm khu vực, hướng đến chất lượng quốc tế" của các trường hay các vị lãnh đạo ngành, lãnh đạo nhà nước vẫn có thể bị xem là ... empty, ungrounded. Vì: chứng cứ ở đâu mà nói vậy?
May quá, với việc đánh giá 3 chương trình tại ĐHQG-HCM thì ta đã đưa ra được chứng cứ rồi đấy. Đó là lý do tại sao kết quả đánh giá 3 chương trình này lại được đưa vào bài viết điểm qua các thành tựu 35 năm.
Đọc lại mẩu tin, tôi cũng thấy vui vui và chút tự hào: trung tâm nơi tôi làm việc (một trung tâm rất nhỏ) đã đóng góp một phần không thể thiếu vào cuộc đánh giá ấy.
Xin lưu lại mẩu tin ấy ở đây, và mong đợi nhiều tin tốt lành như vậy về giáo dục đại học của VN trong tương lai.
----------------
Giáo dục đại học: đủ sức hội nhập khu vực
Việt Nam đã khẳng đinh chất lượng giáo dục của mình ngang tầm khu vực, thông qua việc tham gia đánh giá chất lượng của mạng lưới đại học Đông Nam Á (AUN). Trong đó, chương trình đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) của Trường đại học khoa học tự nhiên đạt điểm số đánh giá cao nhất (4.92), chương trình CNTT của Trường đại học quốc tế đạt 4.61, chương trình điện tử - viễn thông đạt 4.1. Điểm cao nhất cho đến nay của các trường khác trong khu vực ASEAN là 5.2 (trên thang điểm 7). Đáng mừng là cả 4 chương trình của VN [chương trình thứ 4 là ở ĐHQG Hà Nội - chú thích của tôi] đều đạt trên điểm 4, ngang với mức trung bình chung của khu vực, chứng tỏ giáo dục VN nói chung và TP HCM nói riêng đủ sức hội nhập.
Mạng lưới đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - AUN) được thiết lập từ tháng 11/1995. Đến nay AUN bao gồm 21 trường [thực ra, cho đến tháng 3/2011 thì đã là 26 trường rồi - chú thích của tôi] đại học hàng đầu của các quốc gia Đông Nam Á. Việt Nam có ĐHQG Hà Nội và ĐHQG HTM là thành viên của tổ chức này. Mục đích đánh giá của AUN là tiến tới đào tạo liên thông giữa các trường đạt tiêu chuẩn trong khu vực.
Showing posts with label AUN-QA. Show all posts
Showing posts with label AUN-QA. Show all posts
Tuesday, April 5, 2011
Saturday, December 4, 2010
Vị trí của các trường đại học thuộc AUN trong bảng xếp hạng thế giới của QS
Trước hết, một chút dẫn nhập.
Cách đây ít lâu tôi có đưa lên trên blog này bài viết của tôi về benchmarking in higher education, đối sánh trong giáo dục đại học.
Đại khái, trong bài ấy tôi có tổng hợp phần lý luận của các nhà lý luận về benchmarking trên thế giới. Và kết luận của bài viết - cũng chỉ là tổng hợp của các lý luận sẵn có - là:
(1) benchmarking là một việc làm cần thiết để có thể học hỏi từ người khác khá hơn mình;
(2) benchmarking gồm nhiều giai đoạn, mà giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn quan trọng nhất, là tự hiểu mình, bằng cách thu thập những số liệu quan trọng (các chỉ số hoạt động cốt lõi, KPI) và so sánh mình với một đơn vị khác có những đặc điểm tương tự.
Giai đoạn đầu tiên này có tên gọi là metric benchmarking, tôi tạm dịch là đối sánh trắc lượng, ai có từ ngữ hay hơn để dịch nó thì xin cho tôi biết nhé.
Như vậy, ở giai đoạn đầu tiên này thì benchmarking rất giống ranking, chỉ khác nhau ở mục đích. Ranking thì có mục đích muốn khẳng định vị trí và sử dụng vị trí đó để quảng bá thương hiệu (ví dụ, có được cái "mác" top 100, 200, 500 trong bảng xếp hạng quốc tế). Và nó cũng dẫn đến những thay đổi, những hành động để đạt mục tiêu, nhưng mục tiêu ở đây là mục tiêu đạt thứ hạng cao - một mục đích tự thân.
Còn đối sánh thì nhằm vào việc hiểu mình, hiểu tại sao mình đạt thứ hạng này hay thứ hạng khác, và vì thế không mấy quan tâm đến việc mình có thứ hạng nào, mà quan trọng hơn là giải thích tại sao mình có thứ hạng đó, còn người khác thì có thứ hạng kia. Và quan trọng hơn nữa, là tìm hiểu những gì người khác làm tốt hơn mình để có thể học hỏi từ họ.
Trong đối sánh, điều quan trọng đầu tiên là chọn đối tác đối sánh (benchmark partner, tức đối sánh với ai). Ở điểm này, tôi cho rằng 2 ĐHQG của VN rất may mắn vì đang là thành viên của AUN, vì có 2 điều lợi:
(1) có sẵn đối tác đối sánh (tất nhiên là không phải tất cả mọi thành viên của AUN đều trở thành đối tác đối sánh của VN, vd hiện nay chưa nên đối sánh với Singapore vì khoảng cách giữa 2 bên còn rất xa, nhưng dù sao thì phạm vi lựa chọn cũng đã thu hẹp đáng kể);
(2) dễ thu thập được số dữ liệu về họ thông qua các nguồn công khai như trên trang web, hoặc các kết quả xếp hạng đã công bố, và cả những nguồn không công khai mà chỉ chia sẻ nội bộ thông qua các đoàn đánh giá ngoài. Một điều kiện rất hiếm có đối với các trường đại học của VN mà chúng ta cần khai thác để cải thiện.
Well, phần "dẫn nhập" của tôi cho entry này như thế là quá dài rồi. Bây giờ vào phần chính: kết quả xếp hạng của 13/26 trường thành viên của AUN (13 trường còn lại chưa có tên trong bất kỳ bảng xếp hạng nào, trong số đó có 2 trường của VN!)
Kết quả xếp hạng của các trường thuộc AUN trong 500 thứ hạng đầu của các bảng xếp hạng thế giới của QS trong 2 năm 2009 và 2010 được nêu dưới đây. Các bạn đọc như sau:
- Con số ngoài cùng từ trái sang: số thứ tự
- Con số thứ hai là kết quả xếp hạng của QS năm 2010; số trong ngoặc đơn ngay bên cạnh là thứ hạng của năm 2009, để so sánh
- Phần còn lại là tên trường, tên quốc gia
1/ 31 (30) National University of Singapore (NUS) Singapore
2/ 74 (73) Nanyang Technological University (NTU) Singapore
3/ 180 (138) Chulalongkorn University Thailand
4/ 207 (180) Universiti Malaya (UM) Malaysia
5/ 228 (220) Mahidol University Thailand
6/ 236 (201) University of Indonesia Indonesia
7/ 263 (291) Universiti Kebangsaan Malaysia(UKM) Malaysia
8/ 307 (234) Ateneo de Manila University Philippines
9/ 309 (314) Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia
10/ 314 (262) University of the Philippines Philippines
11/ 321 (250) Universitas Gadjah Mada Indonesia
12/ 401-450 (351) Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia
13/ 401-500 (401-500) De La Salle University Philippines
Nhận xét của tôi: Theo bảng xếp hạng này thì tốt nhất là chúng ta nên đối sánh với các đại học từ hạng 6 trở đi, đó là các trường UI (hạng 236), UKM (263), Ateneo de Manila (307), USM (309), UP (hạng 314), UGM (hạng 321), ITB hoặc De La Salle (có hạng từ 401 đến 500). Vì phải cải tiến dần dần mà, so với người giỏi quá thì ta sẽ thấy ... choáng ngợp, và ... nản chí, phải không?
Cứ từ từ, bình tĩnh, nhưng kiên trì cải thiện từng ngày, từng giờ, and you'll be there, đại học của VN ơi! Và trong cuộc đua chất lượng này, ĐHQG-HCM cũng đã có những động thái tích cực, mặc dù thành quả thì còn lâu mới có thể thấy được.
Ví dụ cụ thể của nỗ lực hội nhập đây này: Hình hội thảo về chuyển đổi tín chỉ trong khối AUN tại ĐHQG-HCM tháng 1/2010. Trang web của AUN-ACT, có thông tin về hội thảo nói trên, ở đây. Mà không chỉ hội thảo đâu nhé, ĐHQG-HCM đang tham gia tích cực bằng cách gửi các môn học giảng dạy bằng tiếng Anh để thu hút sinh viên trong khu vực ASEAN đến VN học đấy, các bạn vào trang web ấy mà xem.
Cách đây ít lâu tôi có đưa lên trên blog này bài viết của tôi về benchmarking in higher education, đối sánh trong giáo dục đại học.
Đại khái, trong bài ấy tôi có tổng hợp phần lý luận của các nhà lý luận về benchmarking trên thế giới. Và kết luận của bài viết - cũng chỉ là tổng hợp của các lý luận sẵn có - là:
(1) benchmarking là một việc làm cần thiết để có thể học hỏi từ người khác khá hơn mình;
(2) benchmarking gồm nhiều giai đoạn, mà giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn quan trọng nhất, là tự hiểu mình, bằng cách thu thập những số liệu quan trọng (các chỉ số hoạt động cốt lõi, KPI) và so sánh mình với một đơn vị khác có những đặc điểm tương tự.
Giai đoạn đầu tiên này có tên gọi là metric benchmarking, tôi tạm dịch là đối sánh trắc lượng, ai có từ ngữ hay hơn để dịch nó thì xin cho tôi biết nhé.
Như vậy, ở giai đoạn đầu tiên này thì benchmarking rất giống ranking, chỉ khác nhau ở mục đích. Ranking thì có mục đích muốn khẳng định vị trí và sử dụng vị trí đó để quảng bá thương hiệu (ví dụ, có được cái "mác" top 100, 200, 500 trong bảng xếp hạng quốc tế). Và nó cũng dẫn đến những thay đổi, những hành động để đạt mục tiêu, nhưng mục tiêu ở đây là mục tiêu đạt thứ hạng cao - một mục đích tự thân.
Còn đối sánh thì nhằm vào việc hiểu mình, hiểu tại sao mình đạt thứ hạng này hay thứ hạng khác, và vì thế không mấy quan tâm đến việc mình có thứ hạng nào, mà quan trọng hơn là giải thích tại sao mình có thứ hạng đó, còn người khác thì có thứ hạng kia. Và quan trọng hơn nữa, là tìm hiểu những gì người khác làm tốt hơn mình để có thể học hỏi từ họ.
Trong đối sánh, điều quan trọng đầu tiên là chọn đối tác đối sánh (benchmark partner, tức đối sánh với ai). Ở điểm này, tôi cho rằng 2 ĐHQG của VN rất may mắn vì đang là thành viên của AUN, vì có 2 điều lợi:
(1) có sẵn đối tác đối sánh (tất nhiên là không phải tất cả mọi thành viên của AUN đều trở thành đối tác đối sánh của VN, vd hiện nay chưa nên đối sánh với Singapore vì khoảng cách giữa 2 bên còn rất xa, nhưng dù sao thì phạm vi lựa chọn cũng đã thu hẹp đáng kể);
(2) dễ thu thập được số dữ liệu về họ thông qua các nguồn công khai như trên trang web, hoặc các kết quả xếp hạng đã công bố, và cả những nguồn không công khai mà chỉ chia sẻ nội bộ thông qua các đoàn đánh giá ngoài. Một điều kiện rất hiếm có đối với các trường đại học của VN mà chúng ta cần khai thác để cải thiện.
Well, phần "dẫn nhập" của tôi cho entry này như thế là quá dài rồi. Bây giờ vào phần chính: kết quả xếp hạng của 13/26 trường thành viên của AUN (13 trường còn lại chưa có tên trong bất kỳ bảng xếp hạng nào, trong số đó có 2 trường của VN!)
Kết quả xếp hạng của các trường thuộc AUN trong 500 thứ hạng đầu của các bảng xếp hạng thế giới của QS trong 2 năm 2009 và 2010 được nêu dưới đây. Các bạn đọc như sau:
- Con số ngoài cùng từ trái sang: số thứ tự
- Con số thứ hai là kết quả xếp hạng của QS năm 2010; số trong ngoặc đơn ngay bên cạnh là thứ hạng của năm 2009, để so sánh
- Phần còn lại là tên trường, tên quốc gia
1/ 31 (30) National University of Singapore (NUS) Singapore
2/ 74 (73) Nanyang Technological University (NTU) Singapore
3/ 180 (138) Chulalongkorn University Thailand
4/ 207 (180) Universiti Malaya (UM) Malaysia
5/ 228 (220) Mahidol University Thailand
6/ 236 (201) University of Indonesia Indonesia
7/ 263 (291) Universiti Kebangsaan Malaysia(UKM) Malaysia
8/ 307 (234) Ateneo de Manila University Philippines
9/ 309 (314) Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia
10/ 314 (262) University of the Philippines Philippines
11/ 321 (250) Universitas Gadjah Mada Indonesia
12/ 401-450 (351) Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia
13/ 401-500 (401-500) De La Salle University Philippines
Nhận xét của tôi: Theo bảng xếp hạng này thì tốt nhất là chúng ta nên đối sánh với các đại học từ hạng 6 trở đi, đó là các trường UI (hạng 236), UKM (263), Ateneo de Manila (307), USM (309), UP (hạng 314), UGM (hạng 321), ITB hoặc De La Salle (có hạng từ 401 đến 500). Vì phải cải tiến dần dần mà, so với người giỏi quá thì ta sẽ thấy ... choáng ngợp, và ... nản chí, phải không?
Cứ từ từ, bình tĩnh, nhưng kiên trì cải thiện từng ngày, từng giờ, and you'll be there, đại học của VN ơi! Và trong cuộc đua chất lượng này, ĐHQG-HCM cũng đã có những động thái tích cực, mặc dù thành quả thì còn lâu mới có thể thấy được.
Ví dụ cụ thể của nỗ lực hội nhập đây này: Hình hội thảo về chuyển đổi tín chỉ trong khối AUN tại ĐHQG-HCM tháng 1/2010. Trang web của AUN-ACT, có thông tin về hội thảo nói trên, ở đây. Mà không chỉ hội thảo đâu nhé, ĐHQG-HCM đang tham gia tích cực bằng cách gửi các môn học giảng dạy bằng tiếng Anh để thu hút sinh viên trong khu vực ASEAN đến VN học đấy, các bạn vào trang web ấy mà xem.
Thursday, December 2, 2010
Đánh giá CTĐT theo tiêu chuẩn chất lượng AUN-QA (4): Các công cụ và quy trình
(tiếp theo và hết)
3.2. Các công cụ đánh giá
- Công cụ tự đánh giá: trong báo cáo tự đánh giá cần đính kèm bảng tự đánh giá (cho điểm) của Khoa. Bảng tự đánh giá này gồm có 18 tiêu chuẩn đầu tiên trong mô hình chất lượng (xem hình trong entry trước) và được chi tiết hóa thành 72 tiêu chí cụ thể.
- Công cụ phục vụ đoàn đánh giá ngoài: gồm có 2 công cụ có nội dung giống nhau, chỉ khác nhau về thời điểm sử dụng: (1) Appendix C là bảng ghi kết quả thẩm định báo cáo tự báo cáo tự đánh giá, sử dụng trước khi tổ chức đoàn thực địa (site visit), gọi là thẩm định trên giấy (desk review), và (2) Appendix D là bảng ghi đánh giá ngoài, được sử dụng trong thời gian thực địa. Các công cụ này cũng giống như công cụ tự đánh giá; tuy nhiên ngoài việc cho điểm, đánh giá viên còn ghi điểm mạnh và những điểm cần cải thiện đối với từng tiêu chí.
- Điểm số: AUN-QA quy định thang 07 điểm - mỗi điểm số mang ý nghĩa thông tin như sau:
+ Đạt 1-2 điểm nếu vấn đề đang ở mức nghiêm trọng và trường/khoa cần phải làm gì đó ngay. (tương đương mức “kém”).
+ Đạt 3 điểm nếu đánh giá chưa đạt yêu cầu nhưng không đến nỗi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Trường/khoa cần cải tiến chất lượng (tương đương mức “yếu”).
+ Đạt 4 điểm nếu đánh giá đạt yêu cầu, nhưng không có gì đáng để tự hào. (tương đương mức “trung bình”).
+ Đạt 5 điểm nếu đánh giá hơi cao hơn mức yêu cầu, có thể an tâm với kết quả (tương đương mức “khá”).
+ Đạt 6 điểm nếu đánh giá hơn mức yêu cầu và có thể xem là thực tiễn tốt (tương đương mức “tốt”, good practice).
+ Đạt 7 điểm nếu đánh giá là xuất sắc, rất đáng để tự hào và chắc chắn đó phải là một điểm đặc biệt nổi trội, thực tiễn tối ưu (tương đương mức “xuất sắc”, best practice).
3.3 Quy trình đánh giá ngoài chính thức
Hoạt động đánh giá ngoài của AUN-QA được chia thành 04 nhóm hoạt động chính như sau:
- Đăng ký đánh giá ngoài
Trường/Khoa muốn được đánh giá ngoài phải đăng ký với ban thư ký AUN trước 01 năm (thông tin về trường, khoa, chương trình sẽ đánh giá, thời gian đánh giá). Sau đó ban thư ký AUN mời các chuyên gia – đây là những chuyên gia đến từ các trường thành viên của AUN và thành lập đoàn đánh giá ngoài. Số lượng chuyên gia trong mỗi đoàn từ 02-03 người.
- Thẩm định báo cáo tự đánh giá
+ Trước thời gian đánh giá ngoài chính thức ít nhất 01 tháng, các chuyên gia phải nhận được báo cáo tự đánh giá và minh chứng của khoa. Khi đó, trưởng đoàn sẽ phân công công việc cho các thành viên trong đoàn đọc báo cáo tự đánh giá.
+ Trước ngày đánh giá chính thức 01 tuần, các thành viên trong đoàn hoàn thành kết quả thẩm định báo cáo tự báo cáo tự đánh giá theo sự phân công (appendix C) và gửi cho trưởng đoàn để tổng hợp. Trước ngày đánh giá chính thức, các thành viên trong đoàn gặp nhau để trao đổi thông tin về công việc phải làm và thảo luận về bản báo cáo tự đánh giá.
- Đánh giá ngoài chính thức: diễn ra trong 2,5 ngày.
+ Ngày 1, sáng ngày 2: đoàn đánh giá ngoài gặp ban lãnh đạo trường, khoa, bộ môn; đoàn nghe giới thiệu về trường, khoa, bộ môn và phỏng vấn các đối tượng liên quan (lãnh đạo trường, khoa/bộ môn, hội đồng khoa học, giảng viên, sinh viên, đội ngũ hỗ trợ, cựu sinh viên, nhà tuyển dụng); thăm quan cơ sở vật chất của trường/khoa/bộ môn (phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện…)
+ Chiều ngày 2: đoàn đánh giá ngoài họp, trao đổi và thống nhất kết quả đánh giá, chuẩn bị nội dung báo cáo cho sáng ngày 3
+ Sáng ngày 3: trình bày và trao đổi sơ bộ kết quả đánh giá ngoài với trường/khoa. Trong buổi này, điểm số có thể được thông báo với trường hoặc không tùy thuộc vào đoàn
- Gửi kết quả đánh giá ngoài: Sau 01 tháng kể từ ngày đánh giá ngoài, kết quả đánh giá ngoài chính thức sẽ được gửi cho khoa. Bảng kết quả có kèm theo những nhận xét chi tiết về điểm mạnh, điểm yếu, và những đề xuất cải thiện. Đây chính là yếu tố giúp cho việc đánh giá chất lượng có tác dụng cải thiện, tất nhiên là nếu đơn vị được đánh giá biết nghe theo lời khuyên của đồng nghiệp (các thành viên của đoàn đánh giá ngoài) và có những cải thiện cần thiết.
---
Dưới đây là hình ảnh từ một số đợt DGN của AUN-QA mà tôi có tham gia.
Đánh giá ngoài tại University Gadjah Mada của Indonesia, T10/2009: Phỏng vấn nhà tuyển dụng
Hoàn chỉnh dự thảo báo cáo ĐGN trước khi trình bày cho Khoa được đánh giá nghe
Nghe trình bày kết quả ĐG
Văn nghệ trong buổi tiệc kết thúc đợt ĐGN
Khai mạc đợt ĐGN tại ĐHQG-HCM T12/2009
3.2. Các công cụ đánh giá
- Công cụ tự đánh giá: trong báo cáo tự đánh giá cần đính kèm bảng tự đánh giá (cho điểm) của Khoa. Bảng tự đánh giá này gồm có 18 tiêu chuẩn đầu tiên trong mô hình chất lượng (xem hình trong entry trước) và được chi tiết hóa thành 72 tiêu chí cụ thể.
- Công cụ phục vụ đoàn đánh giá ngoài: gồm có 2 công cụ có nội dung giống nhau, chỉ khác nhau về thời điểm sử dụng: (1) Appendix C là bảng ghi kết quả thẩm định báo cáo tự báo cáo tự đánh giá, sử dụng trước khi tổ chức đoàn thực địa (site visit), gọi là thẩm định trên giấy (desk review), và (2) Appendix D là bảng ghi đánh giá ngoài, được sử dụng trong thời gian thực địa. Các công cụ này cũng giống như công cụ tự đánh giá; tuy nhiên ngoài việc cho điểm, đánh giá viên còn ghi điểm mạnh và những điểm cần cải thiện đối với từng tiêu chí.
- Điểm số: AUN-QA quy định thang 07 điểm - mỗi điểm số mang ý nghĩa thông tin như sau:
+ Đạt 1-2 điểm nếu vấn đề đang ở mức nghiêm trọng và trường/khoa cần phải làm gì đó ngay. (tương đương mức “kém”).
+ Đạt 3 điểm nếu đánh giá chưa đạt yêu cầu nhưng không đến nỗi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Trường/khoa cần cải tiến chất lượng (tương đương mức “yếu”).
+ Đạt 4 điểm nếu đánh giá đạt yêu cầu, nhưng không có gì đáng để tự hào. (tương đương mức “trung bình”).
+ Đạt 5 điểm nếu đánh giá hơi cao hơn mức yêu cầu, có thể an tâm với kết quả (tương đương mức “khá”).
+ Đạt 6 điểm nếu đánh giá hơn mức yêu cầu và có thể xem là thực tiễn tốt (tương đương mức “tốt”, good practice).
+ Đạt 7 điểm nếu đánh giá là xuất sắc, rất đáng để tự hào và chắc chắn đó phải là một điểm đặc biệt nổi trội, thực tiễn tối ưu (tương đương mức “xuất sắc”, best practice).
3.3 Quy trình đánh giá ngoài chính thức
Hoạt động đánh giá ngoài của AUN-QA được chia thành 04 nhóm hoạt động chính như sau:
- Đăng ký đánh giá ngoài
Trường/Khoa muốn được đánh giá ngoài phải đăng ký với ban thư ký AUN trước 01 năm (thông tin về trường, khoa, chương trình sẽ đánh giá, thời gian đánh giá). Sau đó ban thư ký AUN mời các chuyên gia – đây là những chuyên gia đến từ các trường thành viên của AUN và thành lập đoàn đánh giá ngoài. Số lượng chuyên gia trong mỗi đoàn từ 02-03 người.
- Thẩm định báo cáo tự đánh giá
+ Trước thời gian đánh giá ngoài chính thức ít nhất 01 tháng, các chuyên gia phải nhận được báo cáo tự đánh giá và minh chứng của khoa. Khi đó, trưởng đoàn sẽ phân công công việc cho các thành viên trong đoàn đọc báo cáo tự đánh giá.
+ Trước ngày đánh giá chính thức 01 tuần, các thành viên trong đoàn hoàn thành kết quả thẩm định báo cáo tự báo cáo tự đánh giá theo sự phân công (appendix C) và gửi cho trưởng đoàn để tổng hợp. Trước ngày đánh giá chính thức, các thành viên trong đoàn gặp nhau để trao đổi thông tin về công việc phải làm và thảo luận về bản báo cáo tự đánh giá.
- Đánh giá ngoài chính thức: diễn ra trong 2,5 ngày.
+ Ngày 1, sáng ngày 2: đoàn đánh giá ngoài gặp ban lãnh đạo trường, khoa, bộ môn; đoàn nghe giới thiệu về trường, khoa, bộ môn và phỏng vấn các đối tượng liên quan (lãnh đạo trường, khoa/bộ môn, hội đồng khoa học, giảng viên, sinh viên, đội ngũ hỗ trợ, cựu sinh viên, nhà tuyển dụng); thăm quan cơ sở vật chất của trường/khoa/bộ môn (phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện…)
+ Chiều ngày 2: đoàn đánh giá ngoài họp, trao đổi và thống nhất kết quả đánh giá, chuẩn bị nội dung báo cáo cho sáng ngày 3
+ Sáng ngày 3: trình bày và trao đổi sơ bộ kết quả đánh giá ngoài với trường/khoa. Trong buổi này, điểm số có thể được thông báo với trường hoặc không tùy thuộc vào đoàn
- Gửi kết quả đánh giá ngoài: Sau 01 tháng kể từ ngày đánh giá ngoài, kết quả đánh giá ngoài chính thức sẽ được gửi cho khoa. Bảng kết quả có kèm theo những nhận xét chi tiết về điểm mạnh, điểm yếu, và những đề xuất cải thiện. Đây chính là yếu tố giúp cho việc đánh giá chất lượng có tác dụng cải thiện, tất nhiên là nếu đơn vị được đánh giá biết nghe theo lời khuyên của đồng nghiệp (các thành viên của đoàn đánh giá ngoài) và có những cải thiện cần thiết.
---
Dưới đây là hình ảnh từ một số đợt DGN của AUN-QA mà tôi có tham gia.
Khai mạc đợt ĐGN tại ĐHQG-HCM T12/2009
Đánh giá CTĐT theo tiêu chuẩn chất lượng AUN-QA (3)
3. Đánh giá CTĐT theo AUN-QA
Các công cụ và quy trình đánh giá CTĐT theo AUN-QA bao gồm: báo cáo tự đánh giá (self-assessment report, viết tắt là SAR); các công cụ đánh giá của thành viên đoàn đánh giá ngoài; và quy trình đánh giá ngoài chính thức.
3.1. Báo cáo tự đánh giá
Cấu trúc báo cáo tự đánh giá theo AUN-QA gồm có phần giới thiệu và 07 chương với những nội dung tương ứng với các yếu tố trong mô hình tổng quát về chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA được trình bày trong phần 2 của báo cáo này.
Giới thiệu
Mô tả ngắn gọn về hoạt động tự đánh giá của Khoa.
Mô tả ngắn gọn về trường và Khoa.
Mô tả ngắn gọn về chương trình đào tạo
Chương 1: Mục tiêu và những kết quả học tập dự kiến (1)
Chương 2: Chương trình đào tạo
2.1 Chương trình chi tiết (2)
2.2 Nội dung chương trình (3)
2.3. Cấu trúc chương trình (4)
2.4. Quan điểm sư phạm (5)
2.5 Kiểm tra đánh giá sinh viên (6)
Chương 3: Đầu vào
3.1 Chất lượng giảng viên (7)
3.2 Chất lượng nhân viên hỗ trợ (8)
3.3 Chất lượng sinh viên (9)
3.4 Tư vấn hỗ trợ sinh viên (10)
3.5 Cơ sở vật chất và trang thiết bị (11)
Chương 4: Đảm bảo chất lượng
4.1 Đảm bảo chất lượng dạy và học (12)
4.2 Lấy ý kiến sinh viên (13)
4.3 Thiết kế chương trình (14)
4.4 Phát triển giảng viên (15)
4.5 Phản hồi từ bên liên quan (16)
Chương 5: Đầu ra
5.1 Đầu ra của sinh viên (17)
5.2 Tỷ lệ đạt và tỷ lệ bỏ học (18 + 19)
5.3 Thời gian trung bình để nhận được bằng (20)
5.4 Khả năng tìm việc làm (21)
Chương 6: Sự hài lòng từ bên liên quan
6.1 Ý kiến sinh viên
6.2 Ý kiến cựu sinh viên (người tốt nghiệp)
6.3 Ý kiến của thị trường lao động
6.4 Ý kiến xã hội
Chương 7: Phân tích điểm mạnh - điểm yếu
7.1 Tóm tắt điểm mạnh
7.2 Tóm tắt điểm yếu
7.3 Kế hoạch sắp tới
Theo yêu cầu của AUN-QA, báo cáo không cần quá dài, vào khoảng 50-80, nhằm cung cấp cho các thành viên đoàn đánh giá ngoài một bức tranh tổng quát về chương trình đào tạo và những điểm mạnh – điểm yếu của chương trình. Tất cả những số liệu chi tiết và minh chứng kèm theo được tập hợp trong một tập phụ lục. Việc xem cái gì là minh chứng và đưa vào phụ lục là tùy vào khoa đào tạo, không có quy định chung của AUN-QA.
(còn tiếp)
Các công cụ và quy trình đánh giá CTĐT theo AUN-QA bao gồm: báo cáo tự đánh giá (self-assessment report, viết tắt là SAR); các công cụ đánh giá của thành viên đoàn đánh giá ngoài; và quy trình đánh giá ngoài chính thức.
3.1. Báo cáo tự đánh giá
Cấu trúc báo cáo tự đánh giá theo AUN-QA gồm có phần giới thiệu và 07 chương với những nội dung tương ứng với các yếu tố trong mô hình tổng quát về chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA được trình bày trong phần 2 của báo cáo này.
Giới thiệu
Mô tả ngắn gọn về hoạt động tự đánh giá của Khoa.
Mô tả ngắn gọn về trường và Khoa.
Mô tả ngắn gọn về chương trình đào tạo
Chương 1: Mục tiêu và những kết quả học tập dự kiến (1)
Chương 2: Chương trình đào tạo
2.1 Chương trình chi tiết (2)
2.2 Nội dung chương trình (3)
2.3. Cấu trúc chương trình (4)
2.4. Quan điểm sư phạm (5)
2.5 Kiểm tra đánh giá sinh viên (6)
Chương 3: Đầu vào
3.1 Chất lượng giảng viên (7)
3.2 Chất lượng nhân viên hỗ trợ (8)
3.3 Chất lượng sinh viên (9)
3.4 Tư vấn hỗ trợ sinh viên (10)
3.5 Cơ sở vật chất và trang thiết bị (11)
Chương 4: Đảm bảo chất lượng
4.1 Đảm bảo chất lượng dạy và học (12)
4.2 Lấy ý kiến sinh viên (13)
4.3 Thiết kế chương trình (14)
4.4 Phát triển giảng viên (15)
4.5 Phản hồi từ bên liên quan (16)
Chương 5: Đầu ra
5.1 Đầu ra của sinh viên (17)
5.2 Tỷ lệ đạt và tỷ lệ bỏ học (18 + 19)
5.3 Thời gian trung bình để nhận được bằng (20)
5.4 Khả năng tìm việc làm (21)
Chương 6: Sự hài lòng từ bên liên quan
6.1 Ý kiến sinh viên
6.2 Ý kiến cựu sinh viên (người tốt nghiệp)
6.3 Ý kiến của thị trường lao động
6.4 Ý kiến xã hội
Chương 7: Phân tích điểm mạnh - điểm yếu
7.1 Tóm tắt điểm mạnh
7.2 Tóm tắt điểm yếu
7.3 Kế hoạch sắp tới
Theo yêu cầu của AUN-QA, báo cáo không cần quá dài, vào khoảng 50-80, nhằm cung cấp cho các thành viên đoàn đánh giá ngoài một bức tranh tổng quát về chương trình đào tạo và những điểm mạnh – điểm yếu của chương trình. Tất cả những số liệu chi tiết và minh chứng kèm theo được tập hợp trong một tập phụ lục. Việc xem cái gì là minh chứng và đưa vào phụ lục là tùy vào khoa đào tạo, không có quy định chung của AUN-QA.
(còn tiếp)
Wednesday, December 1, 2010
Đánh giá CTĐT theo tiêu chuẩn chất lượng AUN-QA (2)
2. Mô hình chất lượng CTĐT của AUN-QA
Mô hình chất lượng CTĐT là sự chi tiết hóa mô hình tổng quát về chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA. Mô hình tổng quát này gồm 6 yếu tố, trong đó có bốn yếu tố cốt lõi trực tiếp tạo ra chất lượng và hai yếu tố ngoại vi có tác động đến chất lượng.
Về mô hình tổng quát này, xin tham khảo bài viết trước đây của tôi, đã báo cáo trong tháng 10/2010 tại một hội thảo do Cục Khảo thí tổ chức, mà tôi cũng đã đưa lên blog này, tại đây.
Bốn yếu tố cốt lõi của mô hình chất lượng AUN-QA là (i) sứ mạng, mục tiêu; (ii) nguồn lực; (iii) các hoạt động then chốt; và (iv) các thành quả đạt được. và 2 yếu tố ngoại vi mang tính hỗ trợ của mô hình chất lượng giáo dục đào tạo của AUN-QA. Hai yếu tố ngoại vi mang tính hỗ trợ là (i) Sự hài lòng của các bên liên quan; và (ii) ĐBCL và đối sánh quốc gia/quốc tế.
Áp dụng mô hình chất lượng tổng quát vào việc đánh giá chất lượng CTĐT, ta có mô hình cụ thể sau, cũng gồm 2 yếu tố ngoại vi như mô hình tổng quát, và 6 yếu tố cốt lõi , trong đó yếu tố đầu tiên và cuối cùng cũng tương tự như trong mô hình tổng quát, như sau:
i. Mục tiêu đào tạo và kết quả học tập dự kiến; đây là yếu tố đầu tiên để xem xét một CTĐT
ii. Các thành quả đạt được, so sánh với mục tiêu và kết quả dự kiến đã đề ra. Đây là yếu tố cuối cùng cần xem xét, cũng là đích đến của một CTĐT. Tuy nhiên, việc đánh giá thành quả thường khó khăn vì đòi hỏi phải có thời gian và sự cung cấp thông tin sau khi sinh viên tốt nghiệp; điều này không phải lúc nào cũng làm được.
iii. Bốn yếu tố còn lại là đặc thù cho các hoạt động đào tạo, bao gồm:
a. nội dung và phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá sinh viên;
b. đội ngũ giảng viên, nhân viên, dịch vụ hỗ trợ, và cơ sở vật chất phục vụ dạy và học;
c. các hoạt động giám sát và hỗ trợ giảng viên và sinh viên;
d. các kết quả đầu ra (ngắn hạn) như tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ có việc làm vv
Mô hình chất lượng CTĐT của AUN-QA được tóm tắt trong sơ đồ dưới đây.
(còn tiếp)
Mô hình chất lượng CTĐT là sự chi tiết hóa mô hình tổng quát về chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA. Mô hình tổng quát này gồm 6 yếu tố, trong đó có bốn yếu tố cốt lõi trực tiếp tạo ra chất lượng và hai yếu tố ngoại vi có tác động đến chất lượng.
Về mô hình tổng quát này, xin tham khảo bài viết trước đây của tôi, đã báo cáo trong tháng 10/2010 tại một hội thảo do Cục Khảo thí tổ chức, mà tôi cũng đã đưa lên blog này, tại đây.
Bốn yếu tố cốt lõi của mô hình chất lượng AUN-QA là (i) sứ mạng, mục tiêu; (ii) nguồn lực; (iii) các hoạt động then chốt; và (iv) các thành quả đạt được. và 2 yếu tố ngoại vi mang tính hỗ trợ của mô hình chất lượng giáo dục đào tạo của AUN-QA. Hai yếu tố ngoại vi mang tính hỗ trợ là (i) Sự hài lòng của các bên liên quan; và (ii) ĐBCL và đối sánh quốc gia/quốc tế.
Áp dụng mô hình chất lượng tổng quát vào việc đánh giá chất lượng CTĐT, ta có mô hình cụ thể sau, cũng gồm 2 yếu tố ngoại vi như mô hình tổng quát, và 6 yếu tố cốt lõi , trong đó yếu tố đầu tiên và cuối cùng cũng tương tự như trong mô hình tổng quát, như sau:
i. Mục tiêu đào tạo và kết quả học tập dự kiến; đây là yếu tố đầu tiên để xem xét một CTĐT
ii. Các thành quả đạt được, so sánh với mục tiêu và kết quả dự kiến đã đề ra. Đây là yếu tố cuối cùng cần xem xét, cũng là đích đến của một CTĐT. Tuy nhiên, việc đánh giá thành quả thường khó khăn vì đòi hỏi phải có thời gian và sự cung cấp thông tin sau khi sinh viên tốt nghiệp; điều này không phải lúc nào cũng làm được.
iii. Bốn yếu tố còn lại là đặc thù cho các hoạt động đào tạo, bao gồm:
a. nội dung và phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá sinh viên;
b. đội ngũ giảng viên, nhân viên, dịch vụ hỗ trợ, và cơ sở vật chất phục vụ dạy và học;
c. các hoạt động giám sát và hỗ trợ giảng viên và sinh viên;
d. các kết quả đầu ra (ngắn hạn) như tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ có việc làm vv
Mô hình chất lượng CTĐT của AUN-QA được tóm tắt trong sơ đồ dưới đây.

(còn tiếp)
Tuesday, November 30, 2010
Đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng AUN-QA (1)
Đây là một phần của báo cáo mà tôi và các bạn trẻ ở TTKT đã viết và báo cáo tại Hội nghị sơ kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục do Bộ GD-ĐT tổ chức tại TP HCM ngày hôm nay, 29/11/2010.
Báo cáo ấy có 4 phần, trong đó phần cuối cùng nêu kinh nghiệm triển khai tại ĐHQG-HCM, nhưng tôi sẽ không đăng lên đây vì không muốn bị nghĩ rằng tôi sử dụng trang blog để quảng cáo cho đơn vị. Nên chỉ đăng phần 1, 2, 3, là những phần khách quan mà mọi người có thể đọc và sử dụng được.
Mọi người đọc dưới đây nhé.
---------
Đề cương bài viết
1. Đánh giá CTĐT: lựa chọn chiến lược của AUN-QA
2. Mô hình chất lượng đào tạo của AUN-QA
3. Đánh giá CTĐT theo AUN-QA
(4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM - phần này sẽ không được đăng lên. Ai có quan tâm xin liên hệ với TTKT để hỏi thông tin.)
Các tác giả:
1. Vũ Thị Phương Anh (đưa ra cấu trúc bài viết, trực tiếp viết phần 1 và 2, kết nối các phần viết lại với nhau, và hiệu đính cuối cùng)
2. Nguyễn Thị Mỹ Ngọc (trực tiếp viết phần 4)
3. Phạm Thị Bích (trực tiếp viết phần 3, sửa lỗi ấn công trên bản thảo)
(Phải ghi kỹ như vậy để khỏi bị vô tình đạo văn hay mang tiếng dối trá, các bạn ạ!)
-----
1. Đánh giá chương trình đào tạo: lựa chọn chiến lược của AUN-QA
1.1. Tính đa dạng và khoảng cách chất lượng giữa các thành viên AUN
AUN (Asean University Network) là hiệp hội đại học mang tính tự nguyện phi lợi nhuân của các trường đại học hàng đầu thuộc các nước khu vực Đông Nam Á. Tổ chức này được thành lập năm 1995, là sáng kiến của 11 trường đại học hàng đầu của sáu quốc gia trong khu vực là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan. Việt Nam chính thức gia nhập vào mạng lưới này năm 1999 với sự tham gia của hai đại học quốc gia, trong đó Đại học Quốc gia Hà Nội là đại diện cho Việt Nam trong Hội đồng Quản trị AUN (mỗi nước chỉ cử một trường làm đại diện trong hội đồng).
Hiện nay AUN có tất cả 26 thành viên thuộc 10 nước vốn rất khác nhau về văn hóa, chính trị, mức độ phát triển kinh tế, và trình độ khoa học công nghệ. Sự đa dạng và khoảng cách về chất lượng giữa các trường thành viên của AUN có thể thấy qua sự có mặt và thứ hạng của các trường đại học thành viên của tổ chức này trong các bảng xếp hạng đại học hàng năm.
Riêng trong năm 2010, AUN có 13/26 thành viên có mặt trong top 500 thế giới theo kết quả xếp hạng của QS, trải dài từ hạng 31 (NUS của Singapore), Chulalongkorn của Thái Lan (hạng 180), UM của Malaysia (hạng 207), UI của Indonesia (hạng 236), đến hai trường được xếp trong nhóm 401-500 là ITB của Indonesia và De La Salle của Philippines. Phân nửa số trường còn lại không hề có mặt trong bất kỳ bảng xếp hạng nào.
1.2 Đánh giá chương trình đào tạo: Điểm xuất phát chiến lược để triển khai ĐBCL trong AUN
AUN-QA xem việc đánh giá chất lượng là một công việc cần được thực hiện thường xuyên ở cả ba cấp độ khác nhau: hệ thống ĐBCL bên trong (IQA), chương trình đào tạo, và cơ sở đào tạo. Để khởi động phong trào đảm bảo chất lượng trong toàn khối AUN, thoạt đầu AUN-QA dự định xuất phát với việc đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong. Xét về lý luận, điều này là hợp lý vì nếu muốn thúc đẩy công tác ĐBCL thì trước hết phải có một bộ phận thực hiện chuyên nghiệp với các điều kiện và quy trình tối ưu.
Tuy nhiên, sau khi trao đổi giữa các thành viên, AUN-QA nhận ra rằng thực ra điểm xuất phát tốt nhất không phải là IQA, và lại càng không phải là đánh giá cơ sở đào tạo, vì cả hai mảng công việc này là điều mà dù có hay không có AUN-QA thì các trường cũng đang phải thực hiện theo quy định riêng của từng quốc gia. Trong khi đó, mục tiêu của AUN là tăng cường sự hợp tác giữa các trường thành viên thông qua việc thực hiện các chương trình trao đổi học thuật và nghiên cứu, và việc thực hiện công tác ĐBCL là nhằm thúc đẩy sự chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, và củng cố uy tín và niềm tin vào chất lượng đào tạo đại học của các trường trong AUN. Chính vì vậy, việc tập trung vào chương trình đào tạo là phù hợp nhất, vì nó hỗ trợ trực tiếp cho các chương trình đang được triển khai trong AUN là trao đổi sinh viên và giảng viên; tăng cường nghiên cứu về ASEAN; và hợp tác trong nghiên cứu giữa các trường thành viên trong những lĩnh vực chuyên môn mà các bên có cùng mối quan tâm.
Sau khi thống nhất chọn CTĐT làm điểm xuất phát để khởi động phong trào ĐBCL trong khối AUN, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của AUN-QA đã được áp dụng để đánh giá chất lượng giáo dục đại học trên cơ sở tự nguyện, tính đến tháng 12/2010 là đợt đánh giá chính thức lần thứ 10 tại Hà Nội. Riêng ĐHQG-HCM đã đăng ký 3 chương trình để tham gia đánh giá ngoài vào đợt đánh giá chính thức lần thứ 7 vào tháng 12/2009. Những kinh nghiệm của ĐHQG-HCM được nêu ở phần cuối của báo cáo.
(còn tiếp)
Báo cáo ấy có 4 phần, trong đó phần cuối cùng nêu kinh nghiệm triển khai tại ĐHQG-HCM, nhưng tôi sẽ không đăng lên đây vì không muốn bị nghĩ rằng tôi sử dụng trang blog để quảng cáo cho đơn vị. Nên chỉ đăng phần 1, 2, 3, là những phần khách quan mà mọi người có thể đọc và sử dụng được.
Mọi người đọc dưới đây nhé.
---------
Đề cương bài viết
1. Đánh giá CTĐT: lựa chọn chiến lược của AUN-QA
2. Mô hình chất lượng đào tạo của AUN-QA
3. Đánh giá CTĐT theo AUN-QA
(4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM - phần này sẽ không được đăng lên. Ai có quan tâm xin liên hệ với TTKT để hỏi thông tin.)
Các tác giả:
1. Vũ Thị Phương Anh (đưa ra cấu trúc bài viết, trực tiếp viết phần 1 và 2, kết nối các phần viết lại với nhau, và hiệu đính cuối cùng)
2. Nguyễn Thị Mỹ Ngọc (trực tiếp viết phần 4)
3. Phạm Thị Bích (trực tiếp viết phần 3, sửa lỗi ấn công trên bản thảo)
(Phải ghi kỹ như vậy để khỏi bị vô tình đạo văn hay mang tiếng dối trá, các bạn ạ!)
-----
1. Đánh giá chương trình đào tạo: lựa chọn chiến lược của AUN-QA
1.1. Tính đa dạng và khoảng cách chất lượng giữa các thành viên AUN
AUN (Asean University Network) là hiệp hội đại học mang tính tự nguyện phi lợi nhuân của các trường đại học hàng đầu thuộc các nước khu vực Đông Nam Á. Tổ chức này được thành lập năm 1995, là sáng kiến của 11 trường đại học hàng đầu của sáu quốc gia trong khu vực là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan. Việt Nam chính thức gia nhập vào mạng lưới này năm 1999 với sự tham gia của hai đại học quốc gia, trong đó Đại học Quốc gia Hà Nội là đại diện cho Việt Nam trong Hội đồng Quản trị AUN (mỗi nước chỉ cử một trường làm đại diện trong hội đồng).
Hiện nay AUN có tất cả 26 thành viên thuộc 10 nước vốn rất khác nhau về văn hóa, chính trị, mức độ phát triển kinh tế, và trình độ khoa học công nghệ. Sự đa dạng và khoảng cách về chất lượng giữa các trường thành viên của AUN có thể thấy qua sự có mặt và thứ hạng của các trường đại học thành viên của tổ chức này trong các bảng xếp hạng đại học hàng năm.
Riêng trong năm 2010, AUN có 13/26 thành viên có mặt trong top 500 thế giới theo kết quả xếp hạng của QS, trải dài từ hạng 31 (NUS của Singapore), Chulalongkorn của Thái Lan (hạng 180), UM của Malaysia (hạng 207), UI của Indonesia (hạng 236), đến hai trường được xếp trong nhóm 401-500 là ITB của Indonesia và De La Salle của Philippines. Phân nửa số trường còn lại không hề có mặt trong bất kỳ bảng xếp hạng nào.
1.2 Đánh giá chương trình đào tạo: Điểm xuất phát chiến lược để triển khai ĐBCL trong AUN
AUN-QA xem việc đánh giá chất lượng là một công việc cần được thực hiện thường xuyên ở cả ba cấp độ khác nhau: hệ thống ĐBCL bên trong (IQA), chương trình đào tạo, và cơ sở đào tạo. Để khởi động phong trào đảm bảo chất lượng trong toàn khối AUN, thoạt đầu AUN-QA dự định xuất phát với việc đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong. Xét về lý luận, điều này là hợp lý vì nếu muốn thúc đẩy công tác ĐBCL thì trước hết phải có một bộ phận thực hiện chuyên nghiệp với các điều kiện và quy trình tối ưu.
Tuy nhiên, sau khi trao đổi giữa các thành viên, AUN-QA nhận ra rằng thực ra điểm xuất phát tốt nhất không phải là IQA, và lại càng không phải là đánh giá cơ sở đào tạo, vì cả hai mảng công việc này là điều mà dù có hay không có AUN-QA thì các trường cũng đang phải thực hiện theo quy định riêng của từng quốc gia. Trong khi đó, mục tiêu của AUN là tăng cường sự hợp tác giữa các trường thành viên thông qua việc thực hiện các chương trình trao đổi học thuật và nghiên cứu, và việc thực hiện công tác ĐBCL là nhằm thúc đẩy sự chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, và củng cố uy tín và niềm tin vào chất lượng đào tạo đại học của các trường trong AUN. Chính vì vậy, việc tập trung vào chương trình đào tạo là phù hợp nhất, vì nó hỗ trợ trực tiếp cho các chương trình đang được triển khai trong AUN là trao đổi sinh viên và giảng viên; tăng cường nghiên cứu về ASEAN; và hợp tác trong nghiên cứu giữa các trường thành viên trong những lĩnh vực chuyên môn mà các bên có cùng mối quan tâm.
Sau khi thống nhất chọn CTĐT làm điểm xuất phát để khởi động phong trào ĐBCL trong khối AUN, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của AUN-QA đã được áp dụng để đánh giá chất lượng giáo dục đại học trên cơ sở tự nguyện, tính đến tháng 12/2010 là đợt đánh giá chính thức lần thứ 10 tại Hà Nội. Riêng ĐHQG-HCM đã đăng ký 3 chương trình để tham gia đánh giá ngoài vào đợt đánh giá chính thức lần thứ 7 vào tháng 12/2009. Những kinh nghiệm của ĐHQG-HCM được nêu ở phần cuối của báo cáo.
(còn tiếp)
Wednesday, October 27, 2010
Các tiêu chuẩn đánh giá ... (5): Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM
4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM
Là một trong hai thành viên của AUN từ Việt Nam, ĐHQG-HCM đã rất tích cực tham gia phong trào ĐBCL của AUN và cố gắng áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí ĐBCL của AUN vào các hoạt động của mình với những kết quả đáng khích lệ.
Hệ thống ĐBCL bên trong hiện nay của ĐHQG-HCM đang cố gắng áp dụng mô hình của AUN trong tình hình cụ thể của mình, và được xem là khá hoàn chỉnh. Hệ thống ĐBCL của ĐHQG-HCM hiện nay gồm 3 cấp (cấp ĐHQG, cấp trường, và cấp khoa) và 2 hệ thống con như sau:
i. Hệ thống thường xuyên: Gồm TTKT, phòng ĐBCL tại các trường thành viên, và một thành viên thuộc Ban chủ nhiệm các khoa/bộ môn chịu trách nhiệm về ĐBCL (hiện nay chỉ mới có tại các khoa có chương trình tài năng, tiên tiến, chất lượng cao vv). Hệ thống này chịu trách nhiệm thực hiện trực tiếp hoặc triển khai các hoạt động trong 2 yếu tố cuối cùng của mô hình IQA, tức các tiêu chí từ 4 đến 12 trong danh mục nêu trên.
ii. Hệ thống không thường xuyên: Gồm Hội đồng kiểm định ĐHQG-HCM (hiện nay là 23 thành viên, gồm 1 Phó GĐ ĐHQG-HCM, lãnh đạo TTKT, đại diện lãnh đạo tất cả các trường thành viên, các đơn vị trực thuộc, các đoàn thể trong ĐHQG-HCM) và các đoàn đánh giá nội bộ (mỗi đoàn 7 người) do Chủ tịch Hội đồng ra quyết định thành lập nhằm thực hiện các hoạt động được nêu trong 3 tiêu chí đầu tiên của danh mục nêu trên.
Hiện nay, tất cả các trường thành viên của ĐHQG-HCM đã thực hiện TĐG, 5/6 trường đã được ĐGN nội bộ, 18 khoa đang hoàn tất báo cáo TĐG cấp chương trình và đang triển khai ĐGN nội bộ theo AUN-QA và chuẩn bị tham gia liên thông trong AUN (chương trình ACTS). Việc TĐG và ĐGN nội bộ không nhằm công nhận mà nhằm vào việc cải thiện, và nhiều rất nhiều thực tiễn tốt đã xuất hiện.
Có thể nói, việc tham gia AUN có nhiều tác động tích cực đến hoạt động ĐBCL bên trong tại ĐHQG-HCM, và về phần mình, hoạt động này cũng đã đem lại nhiều tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường.
Những việc dự kiến sẽ thực hiện trong thời gian 5 năm tới (2011-2015):
- 20 chương trình thực hiện tự đánh giá (chỉ xem xét những chương trình có khả năng đánh giá đạt chuẩn AUN-QA, và có thể giảng dạy bằng tiếng Anh). Những chương trình này cũng là những chương trình tham gia ACTS.
- 10 chương trình được đánh giá ngoài đạt mức 4.5 trở lên (mỗi năm 2 chương trình).
- Mỗi năm cung cấp 10 học bổng để nhận sinh viên các trường thành viên AUN vào học tại ĐHQG-HCM trong một học kỳ tại các chương trình học bằng tiếng Anh.
- Xây dựng bộ chỉ số hoạt động cốt lõi (KPI) và tham gia xếp hạng khu vực để tiến hành đối sánh hiệu quả hoạt động của ĐHQG-HCM so với các trường thành viên khác và thực hiện cải thiện.
- Hoàn chỉnh và văn bản hóa các quy trình, quy định, sổ tay chất lượng tại ĐHQG-HCM. Gắn kết chặt chẽ hoạt động ĐGCL với hoạt động xây dựng và triển khai chiến lược và hoạt động thi đua, khen thưởng trong các đơn vị.
Các thông tin liên quan có thể xem trên trang web của TTKT tại địa chỉ: .www.cetqa.vnuhcm.edu.vn. Cần phải đăng ký thành viên (miễn phí) để có thể truy cập các tài liệu.
Là một trong hai thành viên của AUN từ Việt Nam, ĐHQG-HCM đã rất tích cực tham gia phong trào ĐBCL của AUN và cố gắng áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí ĐBCL của AUN vào các hoạt động của mình với những kết quả đáng khích lệ.
Hệ thống ĐBCL bên trong hiện nay của ĐHQG-HCM đang cố gắng áp dụng mô hình của AUN trong tình hình cụ thể của mình, và được xem là khá hoàn chỉnh. Hệ thống ĐBCL của ĐHQG-HCM hiện nay gồm 3 cấp (cấp ĐHQG, cấp trường, và cấp khoa) và 2 hệ thống con như sau:
i. Hệ thống thường xuyên: Gồm TTKT, phòng ĐBCL tại các trường thành viên, và một thành viên thuộc Ban chủ nhiệm các khoa/bộ môn chịu trách nhiệm về ĐBCL (hiện nay chỉ mới có tại các khoa có chương trình tài năng, tiên tiến, chất lượng cao vv). Hệ thống này chịu trách nhiệm thực hiện trực tiếp hoặc triển khai các hoạt động trong 2 yếu tố cuối cùng của mô hình IQA, tức các tiêu chí từ 4 đến 12 trong danh mục nêu trên.
ii. Hệ thống không thường xuyên: Gồm Hội đồng kiểm định ĐHQG-HCM (hiện nay là 23 thành viên, gồm 1 Phó GĐ ĐHQG-HCM, lãnh đạo TTKT, đại diện lãnh đạo tất cả các trường thành viên, các đơn vị trực thuộc, các đoàn thể trong ĐHQG-HCM) và các đoàn đánh giá nội bộ (mỗi đoàn 7 người) do Chủ tịch Hội đồng ra quyết định thành lập nhằm thực hiện các hoạt động được nêu trong 3 tiêu chí đầu tiên của danh mục nêu trên.
Hiện nay, tất cả các trường thành viên của ĐHQG-HCM đã thực hiện TĐG, 5/6 trường đã được ĐGN nội bộ, 18 khoa đang hoàn tất báo cáo TĐG cấp chương trình và đang triển khai ĐGN nội bộ theo AUN-QA và chuẩn bị tham gia liên thông trong AUN (chương trình ACTS). Việc TĐG và ĐGN nội bộ không nhằm công nhận mà nhằm vào việc cải thiện, và nhiều rất nhiều thực tiễn tốt đã xuất hiện.
Có thể nói, việc tham gia AUN có nhiều tác động tích cực đến hoạt động ĐBCL bên trong tại ĐHQG-HCM, và về phần mình, hoạt động này cũng đã đem lại nhiều tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường.
Những việc dự kiến sẽ thực hiện trong thời gian 5 năm tới (2011-2015):
- 20 chương trình thực hiện tự đánh giá (chỉ xem xét những chương trình có khả năng đánh giá đạt chuẩn AUN-QA, và có thể giảng dạy bằng tiếng Anh). Những chương trình này cũng là những chương trình tham gia ACTS.
- 10 chương trình được đánh giá ngoài đạt mức 4.5 trở lên (mỗi năm 2 chương trình).
- Mỗi năm cung cấp 10 học bổng để nhận sinh viên các trường thành viên AUN vào học tại ĐHQG-HCM trong một học kỳ tại các chương trình học bằng tiếng Anh.
- Xây dựng bộ chỉ số hoạt động cốt lõi (KPI) và tham gia xếp hạng khu vực để tiến hành đối sánh hiệu quả hoạt động của ĐHQG-HCM so với các trường thành viên khác và thực hiện cải thiện.
- Hoàn chỉnh và văn bản hóa các quy trình, quy định, sổ tay chất lượng tại ĐHQG-HCM. Gắn kết chặt chẽ hoạt động ĐGCL với hoạt động xây dựng và triển khai chiến lược và hoạt động thi đua, khen thưởng trong các đơn vị.
Các thông tin liên quan có thể xem trên trang web của TTKT tại địa chỉ: .www.cetqa.vnuhcm.edu.vn. Cần phải đăng ký thành viên (miễn phí) để có thể truy cập các tài liệu.
Các tiêu chuẩn đánh giá ... (4): Các tiêu chí đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN-QA
B. Các tiêu chí đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN-QA
Quan điểm của AUN-QA là mọi hệ thống ĐBCL bên trong dù có những khác biệt nhưng đều cần đáp ứng một số điều kiện chung để có thể vận hành có hiệu quả. Vì vậy, AUN-QA khuyến cáo việc thiết lập các hệ thống ĐBCL bên trong tại mọi trường thành viên, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá cho hệ thống này để khuyến khích sự tương hợp(harmonisation) giữa các hệ thống khác nhau.
Với quan điểm tôn trọng sự khác biệt giữa các hệ thống và sự tự chủ của các thành viên, các “tiêu chí” đánh giá của AUN-QA đa phần chỉ là những nguyên tắc chung. Việc đánh giá phụ thuộc rất lớn vào phán đoán của các chuyên gia đánh giá trong đoàn đánh giá, đặc biệt là trưởng đoàn (lead assessor). Vì vậy, để hỗ trợ đánh giá, AUN có các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật triển khai do các chuyên gia quốc tế biên soạn, và để nhất quán với từ “tiêu chí” đã được sử dụng với nghĩa nguyên tắc, AUN không gọi đây là các tiêu chí đánh giá, mà chỉ gọi là chúng là danh mục kiểm tra (checklist). Về thực chất, danh mục này là sự cụ thể hóa các nguyên tắc đã được AUN đưa ra, và có thể hiểu là các tiêu chí đúng theo cách hiểu của VN hiện nay. Trong bài viết này, từ “tiêu chí” được sử dụng để chỉ các yếu tố được nêu trong tài liệu hướng dẫn triển khai.
AUN-QA đưa ra 12 tiêu chí nhằm đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong của một trường đại học như sau:
1. Chính sách và các quy trình ĐBCL
2. Giám sát thường xuyên
3. Định kỳ thẩm định các hoạt động cốt lõi (giảng dạy, nghiên cứu, dịch vụ cộng đồng)
4. ĐBCL việc kiểm tra đánh giá người học
5. ĐBCL đội ngũ giảng viên
6. ĐBCL cơ sở vật chất
7. ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên
8. Thực hiện tự đánh giá
9. Kiểm toán nội bộ
10. Các hệ thống thông tin
11. Công bố thông tin về chất lượng
12. Sổ tay chất lượng
Khi kết nối các tiêu chí này vào các mô hình chất lượng của AUN, ta sẽ ngoài thấy tiêu chí 1 có liên quan đến yếu tố cốt lõi đầu tiên trong mô hình chất lượng tổng quát (các chính sách tổng thể của nhà trường, trong đó có cả chính sách về chất lượng), các tiêu chí từ 2 đến 12 chính là các chi tiết của mô hình IQA, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các quy trình và công cụ đảm bảo chất lượng chuyên biệt (yếu tố 3 và 4 trong mô hình, được cụ thể hóa bằng các tiêu chí từ 4 đến 12). Đây cũng là những tiêu chí mà các trường đại học mới xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong thường chưa thực hiện, hoặc thực hiện chưa đầy đủ, và cần chú trọng.
Việc sử dụng các tiêu chí này để đánh giá được hướng dẫn cụ thể trong các tài liệu do AUN-QA cung cấp, đặc biệt là cuốn Cẩm nang hướng dẫn triển khai các nguyên tắc ĐBCL của AUN. Tài liệu này đã được dịch ra tiếng Việt do TTĐBCL&NCPTGD thuộc ĐHQG Hà Nội thực hiện.
Các bạn đọc blog này nếu có quan tâm có thể liên hệ với TTKT (địa chỉ mail: ttkt@vnuhcm.edu.vn) để có thêm thông tin liên quan đến AUN-QA.
(còn tiếp)
Quan điểm của AUN-QA là mọi hệ thống ĐBCL bên trong dù có những khác biệt nhưng đều cần đáp ứng một số điều kiện chung để có thể vận hành có hiệu quả. Vì vậy, AUN-QA khuyến cáo việc thiết lập các hệ thống ĐBCL bên trong tại mọi trường thành viên, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá cho hệ thống này để khuyến khích sự tương hợp(harmonisation) giữa các hệ thống khác nhau.
Với quan điểm tôn trọng sự khác biệt giữa các hệ thống và sự tự chủ của các thành viên, các “tiêu chí” đánh giá của AUN-QA đa phần chỉ là những nguyên tắc chung. Việc đánh giá phụ thuộc rất lớn vào phán đoán của các chuyên gia đánh giá trong đoàn đánh giá, đặc biệt là trưởng đoàn (lead assessor). Vì vậy, để hỗ trợ đánh giá, AUN có các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật triển khai do các chuyên gia quốc tế biên soạn, và để nhất quán với từ “tiêu chí” đã được sử dụng với nghĩa nguyên tắc, AUN không gọi đây là các tiêu chí đánh giá, mà chỉ gọi là chúng là danh mục kiểm tra (checklist). Về thực chất, danh mục này là sự cụ thể hóa các nguyên tắc đã được AUN đưa ra, và có thể hiểu là các tiêu chí đúng theo cách hiểu của VN hiện nay. Trong bài viết này, từ “tiêu chí” được sử dụng để chỉ các yếu tố được nêu trong tài liệu hướng dẫn triển khai.
AUN-QA đưa ra 12 tiêu chí nhằm đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong của một trường đại học như sau:
1. Chính sách và các quy trình ĐBCL
2. Giám sát thường xuyên
3. Định kỳ thẩm định các hoạt động cốt lõi (giảng dạy, nghiên cứu, dịch vụ cộng đồng)
4. ĐBCL việc kiểm tra đánh giá người học
5. ĐBCL đội ngũ giảng viên
6. ĐBCL cơ sở vật chất
7. ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên
8. Thực hiện tự đánh giá
9. Kiểm toán nội bộ
10. Các hệ thống thông tin
11. Công bố thông tin về chất lượng
12. Sổ tay chất lượng
Khi kết nối các tiêu chí này vào các mô hình chất lượng của AUN, ta sẽ ngoài thấy tiêu chí 1 có liên quan đến yếu tố cốt lõi đầu tiên trong mô hình chất lượng tổng quát (các chính sách tổng thể của nhà trường, trong đó có cả chính sách về chất lượng), các tiêu chí từ 2 đến 12 chính là các chi tiết của mô hình IQA, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các quy trình và công cụ đảm bảo chất lượng chuyên biệt (yếu tố 3 và 4 trong mô hình, được cụ thể hóa bằng các tiêu chí từ 4 đến 12). Đây cũng là những tiêu chí mà các trường đại học mới xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong thường chưa thực hiện, hoặc thực hiện chưa đầy đủ, và cần chú trọng.
Việc sử dụng các tiêu chí này để đánh giá được hướng dẫn cụ thể trong các tài liệu do AUN-QA cung cấp, đặc biệt là cuốn Cẩm nang hướng dẫn triển khai các nguyên tắc ĐBCL của AUN. Tài liệu này đã được dịch ra tiếng Việt do TTĐBCL&NCPTGD thuộc ĐHQG Hà Nội thực hiện.
Các bạn đọc blog này nếu có quan tâm có thể liên hệ với TTKT (địa chỉ mail: ttkt@vnuhcm.edu.vn) để có thêm thông tin liên quan đến AUN-QA.
(còn tiếp)
Saturday, October 23, 2010
Các tiêu chuẩn đánh giá ... (3): Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA
3. Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA
A. Mô hình hệ thống ĐBCL bên trong của AUN-QA
Như đã nêu ở trên, ĐBCL là quá trình thường xuyên kiểm tra (assessing), giám sát (monitoring), bảo chứng (guaranteeing), duy trì (maintaining) và cải thiện (improving) chất lượng. ĐBCL bao gồm các hoạt động bên ngoài - ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới là kiểm định, và đảm bảo chất lượng bên trong (tự kiểm soát, đánh gía và cải thiện), trong đó ĐBCL bên trong đóng vai trò quyết định.
AUN-QA đã chi tiết hóa một mô hình hệ thống IQA của một trường đại học với 4 yếu tố, trong đó 2 yếu tố đầu là các công cụ nhằm thu thập thông tin và thực hiện đánh giá thường xuyên, và 2 yếu tố sau là các quy trình ĐBCL đặc biệt với các công cụ thu thập thông tin dành riêng cho các hoạt động đánh giá tổng kết theo chu kỳ dài.
i. Các công cụ giám sát (monitoring instruments):
Đây là những công cụ nhằm giám sát các hoạt động cốt lõi của một trường đại học, bao gồm: tiến trình học tập của sinh viên (student progress), tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ bỏ học (pass rates, drop out rates), phản hồi từ thị trường lao động và cựu sinh viên (feedback from the labour market and alumni), và hiệu suất nghiên cứu (research performance).
ii. Các công cụ đánh giá (evaluation instruments):
Những công cụ này bao gồm: đánh giá giảng viên do sinh viên thực hiện (student evaluation), đánh giá môn học và chương trình học (course and curriculum evaluation), đánh giá kết quả nghiên cứu (research evaluation), và đánh giá các dịch vụ phục vụ sinh viên (service evaluation).
iii. Các quy trình ĐBCL đặc biệt (special QA processes):
Ngoài các hoạt động thu thập thông tin thường xuyên, ĐBCL bên trong còn có những quy trình ĐBCL đặc biệt như sau: ĐBCL việc kiểm tra đánh giá học viên (QA student assessments), ĐBCL giảng viên/ nhân viên (QA staff), ĐBCL cơ sở vật chất, thiết bị (QA facilities), và ĐBCL việc hỗ trợ người học (QA student support).
iv. Các công cụ ĐBCL đặc biệt (special QA instruments):
Yếu tố cuối cùng của hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN là các công cụ ĐBCL đặc biệt phục vụ việc đánh giá tổng kết, đó là phân tích SWOT (SWOT analysis), kiểm toán nội bộ/ đồng nghiệp (inter-collegial audits), hệ thống thông tin (information system), và sổ tay chất lượng (quality handbook).
(còn tiếp)
A. Mô hình hệ thống ĐBCL bên trong của AUN-QA
Như đã nêu ở trên, ĐBCL là quá trình thường xuyên kiểm tra (assessing), giám sát (monitoring), bảo chứng (guaranteeing), duy trì (maintaining) và cải thiện (improving) chất lượng. ĐBCL bao gồm các hoạt động bên ngoài - ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới là kiểm định, và đảm bảo chất lượng bên trong (tự kiểm soát, đánh gía và cải thiện), trong đó ĐBCL bên trong đóng vai trò quyết định.
AUN-QA đã chi tiết hóa một mô hình hệ thống IQA của một trường đại học với 4 yếu tố, trong đó 2 yếu tố đầu là các công cụ nhằm thu thập thông tin và thực hiện đánh giá thường xuyên, và 2 yếu tố sau là các quy trình ĐBCL đặc biệt với các công cụ thu thập thông tin dành riêng cho các hoạt động đánh giá tổng kết theo chu kỳ dài.
i. Các công cụ giám sát (monitoring instruments):
Đây là những công cụ nhằm giám sát các hoạt động cốt lõi của một trường đại học, bao gồm: tiến trình học tập của sinh viên (student progress), tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ bỏ học (pass rates, drop out rates), phản hồi từ thị trường lao động và cựu sinh viên (feedback from the labour market and alumni), và hiệu suất nghiên cứu (research performance).
ii. Các công cụ đánh giá (evaluation instruments):
Những công cụ này bao gồm: đánh giá giảng viên do sinh viên thực hiện (student evaluation), đánh giá môn học và chương trình học (course and curriculum evaluation), đánh giá kết quả nghiên cứu (research evaluation), và đánh giá các dịch vụ phục vụ sinh viên (service evaluation).
iii. Các quy trình ĐBCL đặc biệt (special QA processes):
Ngoài các hoạt động thu thập thông tin thường xuyên, ĐBCL bên trong còn có những quy trình ĐBCL đặc biệt như sau: ĐBCL việc kiểm tra đánh giá học viên (QA student assessments), ĐBCL giảng viên/ nhân viên (QA staff), ĐBCL cơ sở vật chất, thiết bị (QA facilities), và ĐBCL việc hỗ trợ người học (QA student support).
iv. Các công cụ ĐBCL đặc biệt (special QA instruments):
Yếu tố cuối cùng của hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN là các công cụ ĐBCL đặc biệt phục vụ việc đánh giá tổng kết, đó là phân tích SWOT (SWOT analysis), kiểm toán nội bộ/ đồng nghiệp (inter-collegial audits), hệ thống thông tin (information system), và sổ tay chất lượng (quality handbook).
(còn tiếp)
Wednesday, October 20, 2010
Các tiêu chuẩn đánh giá ... (2): Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA
2. Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN
Quản lý chất lượng là một khái niệm và thực tiễn xuất phát từ trong lĩnh vực quản lý công nghiệp, và nhiều mô hình đã được đưa ra áp dụng, ví dụ như mô hình EFQM của châu Âu hoặc mô hình Balridge của Mỹ. Khi áp dụng quản lý chất lượng vào lĩnh vực giáo dục đại học, cần có những điều chỉnh thích hợp.
Với sự tư vấn về kỹ thuật của các chuyên gia Hà Lan [xem chú thích 1], AUN-QA đã lựa chọn mô hình chất lượng giáo dục đại học của mình để làm cơ sở xây dựng các quy trình, quy định và hướng dẫn hoạt động đánh giá chất lượng. Mô hình chất lượng của AUN-QA bao gồm 6 yếu tố, trong đó có 4 yếu tố cốt lõi và 2 yếu tố ngoại vi, như sau:
A. 4 yếu tố cốt lõi:
i. Sứ mạng, mục đích và mục tiêu (mission, goals and aims)
Với định nghĩa "chất lượng là đạt được mục tiêu đã đề ra", mọi hoạt động đánh giá chất lượng đều có xuất phát điểm từ sứ mạng, mục đích và mục tiêu. Điều này tất nhiên dựa trên giả định là sứ mạng, mục đích và mục tiêu của một đơn vị là sự phản ánh trung thực và đầy đủ yêu cầu của các bên có liên quan (người học, giảng viên, nhà quản lý trường đại học, người sử dụng lao động, và toàn xã hội).
ii. Chính sách và kế hoạch, hệ thống quản lý, nguồn nhân lực, và nguồn lực tài chính (Policy plan, management, human resources, and funding)
Đây là những yếu tố liên đến đầu vào của hệ thống, là điều kiện cần thiết (nhưng chưa đủ) để tạo ra chất lượng mong muốn.
iii. Các hoạt động cốt lõi, bao gồm: đào tạo, nghiên cứu, và các dịch vụ cho cộng đồng (educational activities, research, and community services)
Đây là thành phần chủ yếu của một mô hình chất lượng. Mỗi loại hoạt động đã nêu - đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ - đòi hỏi có một mô hình chi tiết đặc thù riêng cho nó.
Trong 3 hoạt động này, AUN-QA trước mắt chú trọng đến hoạt động đầu tiên là đào tạo - cũng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong các hoạt động của một trường đại học - và đưa ra một mô hình chi tiết cụ thể để áp dụng trong đánh giá chất lượng chương trình đào tạo.
iv. Các thành quả đạt được (achievements)
Đây là kết quả cuối cùng của mọi hoạt động đã nêu ở trên, và cũng là chứng cứ rõ ràng nhất về chất lượng của một đơn vị. Mỗi loại hoạt động - đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ - sẽ có những loại thành quả riêng biệt, và sẽ được nêu cụ thể trong các mô hình chi tiết dành riêng cho từng hoạt động.
----
Cập nhật sáng 21/10/2010:
B. 2 yếu tố ngoại vi:
i. Sự hài lòng của các bên liên quan (stakeholder satisfaction)
Đây là những thông tin phản hồi mà một hệ thống giáo dục cần thu thập thường xuyên và nhanh gọn về mọi yếu tố trong suốt quá trình hoạt động của mình – từ nguồn lực đầu vào, đến quy trình vận hành, và thành quả đạt được. Những thông tin này giúp hệ thống luôn vận hành theo đúng mục tiêu đã đề ra.
ii. Đảm bảo chất lượng và đối sánh trong phạm vi quốc gia/quốc tế
Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) được định nghĩa là quá trình thường xuyên kiểm tra (assessing), giám sát (monitoring), bảo chứng (guaranteeing), duy trì (maintaining) và cải thiện (improving) chất lượng.
Đối sánh có thể định nghĩa nôm na là so sánh một chương trình hoặc cơ sở đào tạo với một chương trình hoặc cơ sở đào tạo khác khá hơn để nhận diện các điểm yếu của chính mình và học tập từ cách làm của người khác. [Chú thích: Định nghĩa này viết theo tài liệu của UNESCO 2007, tr. 34; địa chỉ truy cập: http://unesdoc.unesco.org/images/0015/001520/152045e.pdf]
ĐBCL và đối sánh là cách thu thập thông tin có cấu trúc và thường được thực hiện theo chu kỳ ở những thời điểm có ý nghĩa đối với một đơn vị hoặc một chương trình đào tạo (ví dụ chu kỳ 5 năm hay 10 năm, là thời gian đủ dài để có thể thấy được những thay đổi quan trọng).
Như vậy, có thể tóm tắt mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN như sau:
- Các yếu tố cốt lõi của mô hình liên quan đến toàn bộ hoạt động thường xuyên của một trường đại học, gồm (1) sứ mạng mục tiêu; (2) nguồn lực; (3) các hoạt động then chốt (đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ); và (4) các thành quả đạt được.
- Các yếu tố ngoại vi của mô hình liên quan đến các thông tin phản hồi và cơ cấu giám sát, đánh giá, đối sánh nhằm giúp cho hệ thống giáo dục có thể vận hành đúng hướng và hiệu quả.
(còn tiếp)
Quản lý chất lượng là một khái niệm và thực tiễn xuất phát từ trong lĩnh vực quản lý công nghiệp, và nhiều mô hình đã được đưa ra áp dụng, ví dụ như mô hình EFQM của châu Âu hoặc mô hình Balridge của Mỹ. Khi áp dụng quản lý chất lượng vào lĩnh vực giáo dục đại học, cần có những điều chỉnh thích hợp.
Với sự tư vấn về kỹ thuật của các chuyên gia Hà Lan [xem chú thích 1], AUN-QA đã lựa chọn mô hình chất lượng giáo dục đại học của mình để làm cơ sở xây dựng các quy trình, quy định và hướng dẫn hoạt động đánh giá chất lượng. Mô hình chất lượng của AUN-QA bao gồm 6 yếu tố, trong đó có 4 yếu tố cốt lõi và 2 yếu tố ngoại vi, như sau:
A. 4 yếu tố cốt lõi:
i. Sứ mạng, mục đích và mục tiêu (mission, goals and aims)
Với định nghĩa "chất lượng là đạt được mục tiêu đã đề ra", mọi hoạt động đánh giá chất lượng đều có xuất phát điểm từ sứ mạng, mục đích và mục tiêu. Điều này tất nhiên dựa trên giả định là sứ mạng, mục đích và mục tiêu của một đơn vị là sự phản ánh trung thực và đầy đủ yêu cầu của các bên có liên quan (người học, giảng viên, nhà quản lý trường đại học, người sử dụng lao động, và toàn xã hội).
ii. Chính sách và kế hoạch, hệ thống quản lý, nguồn nhân lực, và nguồn lực tài chính (Policy plan, management, human resources, and funding)
Đây là những yếu tố liên đến đầu vào của hệ thống, là điều kiện cần thiết (nhưng chưa đủ) để tạo ra chất lượng mong muốn.
iii. Các hoạt động cốt lõi, bao gồm: đào tạo, nghiên cứu, và các dịch vụ cho cộng đồng (educational activities, research, and community services)
Đây là thành phần chủ yếu của một mô hình chất lượng. Mỗi loại hoạt động đã nêu - đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ - đòi hỏi có một mô hình chi tiết đặc thù riêng cho nó.
Trong 3 hoạt động này, AUN-QA trước mắt chú trọng đến hoạt động đầu tiên là đào tạo - cũng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong các hoạt động của một trường đại học - và đưa ra một mô hình chi tiết cụ thể để áp dụng trong đánh giá chất lượng chương trình đào tạo.
iv. Các thành quả đạt được (achievements)
Đây là kết quả cuối cùng của mọi hoạt động đã nêu ở trên, và cũng là chứng cứ rõ ràng nhất về chất lượng của một đơn vị. Mỗi loại hoạt động - đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ - sẽ có những loại thành quả riêng biệt, và sẽ được nêu cụ thể trong các mô hình chi tiết dành riêng cho từng hoạt động.
----
Cập nhật sáng 21/10/2010:
B. 2 yếu tố ngoại vi:
i. Sự hài lòng của các bên liên quan (stakeholder satisfaction)
Đây là những thông tin phản hồi mà một hệ thống giáo dục cần thu thập thường xuyên và nhanh gọn về mọi yếu tố trong suốt quá trình hoạt động của mình – từ nguồn lực đầu vào, đến quy trình vận hành, và thành quả đạt được. Những thông tin này giúp hệ thống luôn vận hành theo đúng mục tiêu đã đề ra.
ii. Đảm bảo chất lượng và đối sánh trong phạm vi quốc gia/quốc tế
Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) được định nghĩa là quá trình thường xuyên kiểm tra (assessing), giám sát (monitoring), bảo chứng (guaranteeing), duy trì (maintaining) và cải thiện (improving) chất lượng.
Đối sánh có thể định nghĩa nôm na là so sánh một chương trình hoặc cơ sở đào tạo với một chương trình hoặc cơ sở đào tạo khác khá hơn để nhận diện các điểm yếu của chính mình và học tập từ cách làm của người khác. [Chú thích: Định nghĩa này viết theo tài liệu của UNESCO 2007, tr. 34; địa chỉ truy cập: http://unesdoc.unesco.org/images/0015/001520/152045e.pdf]
ĐBCL và đối sánh là cách thu thập thông tin có cấu trúc và thường được thực hiện theo chu kỳ ở những thời điểm có ý nghĩa đối với một đơn vị hoặc một chương trình đào tạo (ví dụ chu kỳ 5 năm hay 10 năm, là thời gian đủ dài để có thể thấy được những thay đổi quan trọng).
Như vậy, có thể tóm tắt mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN như sau:
- Các yếu tố cốt lõi của mô hình liên quan đến toàn bộ hoạt động thường xuyên của một trường đại học, gồm (1) sứ mạng mục tiêu; (2) nguồn lực; (3) các hoạt động then chốt (đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ); và (4) các thành quả đạt được.
- Các yếu tố ngoại vi của mô hình liên quan đến các thông tin phản hồi và cơ cấu giám sát, đánh giá, đối sánh nhằm giúp cho hệ thống giáo dục có thể vận hành đúng hướng và hiệu quả.
(còn tiếp)
Tuesday, October 19, 2010
Các tiêu chuẩn đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của AUN-QA (1)
Entry này chỉ nhằm ghi lại những ý tưởng phác thảo để chuẩn bị cho một báo cáo mà tôi sẽ phải hoàn tất trong vòng vài ngày tới. Vì vậy, nó sẽ không hoàn chỉnh, hoặc sẽ chỉ được hoàn chỉnh dần dần. Viết ra đây để lưu cho mình, mà cũng là để chia sẻ với những người có quan tâm mà thôi.
---------
Đề cương báo cáo
1. Giới thiệu AUN và AUN-QA
2. Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA
3. Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA
4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM
---------
1. Giới thiệu AUN và AUN-QA
A. AUN
AUN là từ viết tắt của cụm từ Asean University Network, tạm dịch sang tiếng Việt là Mạng đại học Đông Nam Á, một tổ chức tự nguyện, phi chính phủ và phi lợi nhuận, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác và nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu giữa các trường đại học trong khu vực.
Được thành lập vào tháng 11 năm 1995 với 13 thành viên đầu tiên thuộc 6 nước Đông Nam Á lúc bấy giờ là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan, hiện nay tổ AUN đã có số lượng thành viên là 26 trường thuộc 10 nước trong khu vực, trong đó có 2 đại học quốc gia của Việt Nam. Danh sách đầy đủ của 26 trường thuộc AUN có thể xem trên trang web của AUN, ở đây.
B. AUN-QA
AUN-QA là nhóm công tác đảm bảo chất lượng của AUN. Ý tưởng thành lập AUN-QA được đưa ra và thông qua vào năm 1998 tại cuộc họp lần họp thứ tư của Hội đồng quản trị AUN. Sau đó, trong năm 1999 danh sách nhân sự của nhóm công tác đã được thông qua trên cơ sở đề cử từ các trường thành viên, mỗi trường một người phụ trách chính và có thể có thêm một người dự trữ nếu thấy cần thiết.
Trong những năm từ 2000 đến hết năm 2004, AU-QA tập trung vào việc xây dựng các mô hình và tiêu chuẩn chất lượng trường đại học, các quy định, quy trình, và tài liệu hưóng dẫn sử dụng. Từ năm 2005 đến nay, bộ tiêu chuẩn này đã được áp dụng để đánh giá các chương trình đào tạo của các trường thành viên, cũng trên cơ sở tự nguyện.
(còn tiếp)
---------
Đề cương báo cáo
1. Giới thiệu AUN và AUN-QA
2. Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA
3. Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA
4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM
---------
1. Giới thiệu AUN và AUN-QA
A. AUN
AUN là từ viết tắt của cụm từ Asean University Network, tạm dịch sang tiếng Việt là Mạng đại học Đông Nam Á, một tổ chức tự nguyện, phi chính phủ và phi lợi nhuận, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác và nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu giữa các trường đại học trong khu vực.
Được thành lập vào tháng 11 năm 1995 với 13 thành viên đầu tiên thuộc 6 nước Đông Nam Á lúc bấy giờ là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan, hiện nay tổ AUN đã có số lượng thành viên là 26 trường thuộc 10 nước trong khu vực, trong đó có 2 đại học quốc gia của Việt Nam. Danh sách đầy đủ của 26 trường thuộc AUN có thể xem trên trang web của AUN, ở đây.
B. AUN-QA
AUN-QA là nhóm công tác đảm bảo chất lượng của AUN. Ý tưởng thành lập AUN-QA được đưa ra và thông qua vào năm 1998 tại cuộc họp lần họp thứ tư của Hội đồng quản trị AUN. Sau đó, trong năm 1999 danh sách nhân sự của nhóm công tác đã được thông qua trên cơ sở đề cử từ các trường thành viên, mỗi trường một người phụ trách chính và có thể có thêm một người dự trữ nếu thấy cần thiết.
Trong những năm từ 2000 đến hết năm 2004, AU-QA tập trung vào việc xây dựng các mô hình và tiêu chuẩn chất lượng trường đại học, các quy định, quy trình, và tài liệu hưóng dẫn sử dụng. Từ năm 2005 đến nay, bộ tiêu chuẩn này đã được áp dụng để đánh giá các chương trình đào tạo của các trường thành viên, cũng trên cơ sở tự nguyện.
(còn tiếp)
Friday, May 28, 2010
Khai mạc tập huấn về ĐBCL (đảm bảo chất lượng) của AUN-QA tại VNU-HCM
Sáng nay 28/5/2010, ĐHQG-HCM đã khai mạc đợt tập huấn 4 ngày (28-31/5/2010) cho 25 chuyên gia ĐBCL thuộc các trường đại học của VN. Đây là một trong những hoạt động thường xuyên của AUN dành cho các nước "yếu hơn" trong khối 10 nước thành viên ASEAN. 4 nước yếu hơn đó được gọi chung là nhóm CLMV, tức Campuchea, Laos, Myanmar, và ... Việt Nam. Hic, biết làm sao được, thì thực tế nó như vậy đó!
Dù sao thì cũng an ủi là cuộc tập huấn này do Trung tâm của tôi tổ chức (Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo của ĐHQG-HCM), nhằm mục đích giúp mọi người hiểu rõ về cách quản lý chất lượng của những trường đại học có tiếng trong khu vực - trong đó có NUS của Singapore và Chulalongkorn của Thái Lan.
Một ít thông tin về đợt tập huấn dưới đây.
1. Mục đích của tập huấn:
- giúp các thành viên của AUN và cộng đồng ĐH của nước sở tại hiểu về công tác đảm bảo chất lượng theo AUN-QA
- giúp xây dựng một đội ngũ CQO (chuyên gia trong lãnh vực đảm bảo chất lượng) để triển khai các công tác tự đánh giá và đánh giá ngoài theo AUN trong thời gian tới
2. Các mục tiêu cần đạt:
- 25 học viên của VN hiểu về bộ tiêu chuẩn chất lượng AUN và công tác tự đánh giá (cấp chương trình và cấp trường) theo AUN-QA
- các cơ sở giáo dục có cử người tham gia học hiểu biết về tầm quan trọng và có năng lực xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong tại cơ sở giáo dục của mình
3. Thành phần tham dự tập huấn:
25 học viên được AUN tuyển chọn thông qua hồ sơ gửi trước đến AUN (yêu cầu: đang hoạt động trong lãnh vực đảm bảo chất lượng cấp trường hoặc cấp khoa, có đủ tiếng Anh để tham dự lớp học trực tiếp bằng tiếng Anh, có hiểu biết và kinh nghiệm hoạt động trong một trường đại học).
Trong số 25 học viên này, gồm có:
+ 17 học viên thuộc các trường thành viên ĐHQG, kể cả người của TT, và các khoa có chương trình tài năng
+ 8 học viên các trường khác (sự có mặt của các trường ngoài là yêu cầu của AUN): ĐHQG Hà Nội, ĐH Huế, ĐH Nha Trang, ĐH Nông Lâm, ĐH Cần Thơ
+ khách mời phía VN, xem như thay mặt Bộ GD để tham gia với phía bạn: TS Phạm Xuân Thanh của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Trên đây là một vài thông tin và hình ảnh của buổi lễ khai mạc để chia sẻ thông tin với mọi người, và cũng là để giải thích sự ... thiếu cập nhật của trang blog này, vì lúc này tôi bận quá!!!!
Sẽ cập nhật thêm thông tin trên trang blog này sau, khi tôi có thêm một chút thời gian.
Enjoy!
Subscribe to:
Posts (Atom)