Tác giả bài báo là Phó Chủ tịch phụ trách nghiên cứu và quan hệ doanh nghiệp kiêm Trưởng bộ phận Nghiên cứu Chính sách GDĐH tại Học viện Công nghệ Dublin, người viết cuốn “Rankings and the Reshaping of Higher Education: The Battle for World-Class Excellence” (Xếp hạng và việc tái định hình GDĐH: Cuộc tranh giành danh hiệu đẳng cấp quốc tế) được xuất bản hồi tháng 3 năm nay.
----------------
Đã đến lúc nói không với xếp hạng
Ellen Hazelkorn
Tôi cảm thấy thất vọng trước những thông tin dồn dập về kết quả xếp hạng đại học mới nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xét trên bề mặt thì tất cả chúng ta đều có thể đang tham gia vào trò chơi lố bịch này, khi tất cả các trường và Chính phủ các nước tranh đua khốc liệt để quảng bá cho trường của họ, và – đây là một thực tế – quảng bá cho đất nước của mình như một nơi xứng đáng để đầu tư và thu hút nhân tài thế giới.
Trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tính cấp thiết của việc nâng cao trách nhiệm giải trình cũng như tính minh bạch đã tạo ra những thay đổi sâu sắc tại các trường cũng như trong toàn bộ nền GDĐH. Những thay đổi này bao gồm việc ký “hợp đồng đào tạo”1 và các thỏa ước về dịch vụ giữa nhà trường với sinh viên và với toàn xã hội nói chung. Mặc dù chính giáo dục đại học mong muốn chiếm được vị trí ưu tiên trong các vấn đề chính sách, nhưng nó đã không tiên liệu được rằng điều đó khiến nó rơi vào tình trạng bị săm soi như hiện nay. Thế nhưng, ảnh hưởng và quyền lực ngày càng gia tăng của các bảng xếp hạng toàn cầu đối với GDĐH đã bị đẩy lên đến quá mức và không còn chút liên hệ gì với yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Quả thật, mặc dù đã có rất nhiều thay đổi về phương pháp, các bảng xếp hạng hoàn toàn không thể đánh giá được chất lượng – trừ phi chúng ta định nghĩa chất lượng là giàu có và danh tiếng. Một trường đại học được xem là đẳng cấp quốc tế là một trường ước tính có ngân sách hằng năm vào khoảng 2 tỷ USD, và Chính phủ các nước ở khắp nơi trên thế giới đang rất bận rộn để đáp ứng cái “trật tự thế giới mới” đó. Điều này giải thích tại sao lại có những thay đổi đáng kể trong các vị trí xếp hạng, đồng thời cũng như lý giải được cấu trúc tổng quát của nhóm các trường Top 100 hay Top 400.
Bên cạnh đó, việc công bố các bảng xếp hạng hằng năm chỉ có thể giải thích bằng những lợi ích kinh doanh mà các tổ chức xếp hạng đạt được thông qua sự nhân rộng số lượng phát hành đến những đối tượng khác ngoài những khách hàng truyền thống của họ. Tương tự như vậy, đề án Global Institutional Profiles (tạm dịch: Hồ sơ toàn cầu về các trường đại học) của Thomson Reuters thật ra là một phương pháp tinh vi nhằm mở rộng thị phần của họ trên thị trường thông tin tri thức đang phát triển nhanh chóng và đầy hấp dẫn. Đề án này bao gồm việc các trường cung cấp dữ liệu của mình một cách tự nguyện và miễn phí và chính các dữ liệu này sau đó lại được biến thành nhiều sản phẩm có thu phí khác nhau.
Chính phủ nhiều nước đã sử dụng các bảng xếp hạng như một động lực để tái cấu trúc một cách vững chắc toàn bộ nền GDĐH của họ, với niềm tin rằng một trường đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế sẽ là thần dược đảm bảo cho sự thành công của nước đó trong nền kinh tế thế giới. Sự quyết tâm của Chính phủ Pháp trong việc thành lập nhóm các trường đại học hàng đầu của mình tương tự như “Ivy League” ở Mỹ là ví dụ mới nhất minh họa cho các chính sách chỉ chú trọng tưởng thưởng thành tích của những trường “đại học đầu tàu” (flagship university) chứ không quan tâm cải thiện năng lực và chất lượng của toàn hệ thống.
Bên cạnh đó nhiều nước hiện đang sử dụng các bảng xếp hạng để đánh giá và phân biệt nền giáo dục của họ so với các nước khác – thường là được sự giúp đỡ của những tổ chức xếp hạng.
Tức giận trước việc các bảng xếp hạng toàn cầu phớt lờ sự đa dạng của các trường đại học, hạ thấp tầm quan trọng của giảng dạy và xem nhẹ khả năng nghiên cứu của khu vực châu Âu, EU đã quyết định tài trợ việc phát triển đề án U-Multirank, trong đó nhấn mạnh việc phục vụ người sử dụng làm trung tâm, có tính chất đa chiều, đa cấp độ, và có khả năng so sánh được trong các nhóm đồng cấp (tức các trường có đặc điểm tương tự nhau). U-Multirank tự gọi mình là một bảng xếp hạng, nhưng mục tiêu của nó là tạo ra các nhóm so sánh chứ không tạo ra một bảng xếp hạng duy nhất.
Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ sáng kiến nào khác, luôn tồn tại những rắc rối của sự phát triển, cụ thể là: (1) Mặc dù U-Multirank đã vượt qua được những bảng xếp hạng hiện có, nhưng việc lựa chọn các chỉ số để đánh giá vẫn còn nhiều nhược điểm; ngoài ra, sự thiếu hụt những dữ liệu có ý nghĩa để so sánh toàn cầu cho thấy U-Multirank cũng gặp phải những khó khăn tương tự như những bảng xếp hạng khác; (2) U-Multirank đã cố gắng khắc phục vấn đề đánh giá hiệu quả dạy và học thông qua việc sử dụng dữ liệu từ đề án Đánh giá kết quả đầu ra trong GDĐH của OECD (đề án AHELO) – đề án này nhằm mục đích đánh giá “những gì mà sinh viên tốt nghiệp biết và sử dụng được sau khi ra trường”, tuy nhiên nó vẫn còn ở trong giai đoạn sơ khai; và (3) Giai đoạn nghiên cứu khả thi của U-Multirank đã không thu hút được nhiều công nhận rộng rãi quốc tế, và cho đến nay, nó vẫn chủ yếu được biết đến là một công cụ của khối các nước châu Âu.
Những thách thức trên cho thấy rằng trong ngắn hạn hoặc trung hạn, U-Multirank khó lòng vô hiệu hóa tầm ảnh hưởng của các bảng xếp hạng toàn cầu hiện có.
Vì vậy, đã đến lúc các tổ chức quốc tế phải lên tiếng – vì tôi tin rằng các trường hay quốc gia không thể hành động đơn phương trong vấn đề này. Phải thừa nhận rằng trong việc xếp hạng, chính phủ các nước đã có lỗi khi không thực hiện các kiểm soát nghiêm nhặt như đối với các đầu tư quan trọng khác. Tuy nhiên, việc thay đổi các chính sách quốc gia chỉ nhằm mục đích đáp ứng các chỉ số chủ quan do người khác tạo với mục đích thương mại và nhiều mục đích tư nhân khác thì chẳng khác nào các nước đã tự nguyện chối bỏ chủ quyền quốc gia vậy.
Thực thế, đã đến lúc:
Các tổ chức quốc tế như UNESCO, OECD, World Bank và EU cần cùng nhau nói không với việc xếp hạng và sử dụng kết quả xếp hạng làm cơ sở hoạch định chính sách, từ đó đưa ra những cảnh báo phù hợp đến các bên có liên quan. Tương tự như việc chính phủ đưa ra những cảnh báo về sức khỏe (ví dụ: đối với thuốc lá), các tổ chức quốc tế cần đồng loạt tiến hành một chiến dịch xã hội để chỉ ra cho Chính phủ các nước thấy những tác hại của việc sử dụng các bảng xếp hạng vào các mục đích đã nêu.
EU cũng cần đưa ra một tuyên bố tương tự và tái cấu trúc bảng xếp hạng U-Multirank thành một công cụ đối sánh. Qua đó, U-Multirank sẽ hợp thức hóa mục đích của mình và trở thành một công cụ “giúp sinh viên đưa ra những lựa chọn có hiểu biết” và “giúp giới hoạch định chính sách đưa ra những chiến lược đúng đắn”. Đây sẽ là một nước cờ khôn ngoan, cho phép EU lấy lại được lợi thế chính trị của mình.
Các bảng xếp hạng đã giúp đưa GDĐH trở thành một chủ đề chính sách quan trọng. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng làm cơ sở để ra quyết định ở cấp trường hay cấp quốc gia sẽ vô tình dẫn đến những hậu quả sai lầm, và sẽ gây ra nhiều hệ quả đối với xã hội trong một thời gian dài. Vì vậy đã đến lúc phải nói không với bảng xếp hạng.
Kim Khôi dịch
http://chronicle.com/blogs/ worldwise/its-time-to-move-beyond-rankings-2/28830
----------------
1 Academic contracts và service-level agreements là những yêu cầu trong cải cách giáo dục ở châu Âu theo Tiến trình Bologna.
Showing posts with label ranking. Show all posts
Showing posts with label ranking. Show all posts
Tuesday, December 13, 2011
Friday, November 25, 2011
Sự mê hoặc của xếp hạng đại học thế giới (2011-2012)*
Bài dịch này của tôi đã gửi đi cách đây ít lâu, nay đã đăng trên trang mạng của Tia Sáng. Xin đăng lại ở đây để mọi người cùng đọc.
----------
Kết quả xếp hạng đại học thế giới năm 2011-2012 của tổ chức THE vừa được công bố trong tuần trước đã gây nhiều tranh luận, khi Harvard đã phải nhường vị trí hàng đầu của nó cho một trường đại học Mỹ khác là Caltech.
Đây không phải là lần đầu tiên Harvard mất vị trí hàng đầu thế giới. Năm 2010, Harvard cũng phải chịu vị trí số 2 trong bảng xếp hạng đại học thế giới của tổ chức QS, đứng sau ĐH Cambridge của Anh – lần đầu tiên sau 6 năm liên tiếp giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng này.
Phải chăng đây là những dấu hiệu cho một sự xuống dốc của người khổng lồ Harvard? Hay nó cho ta thấy sự đỏng đảnh, thất thường của các bảng xếp hạng quốc tế? Vì chỉ mới cách đây 2 tháng thôi, Harvard đã kiêu hãnh xuất hiện ở vị trí đứng đầu của một bảng xếp hạng đại học được đánh giá là số một về sự tin cậy và khoa học – bảng xếp hạng ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải.
Với cách làm thiếu minh bạch của các tổ chức xếp hạng như hiện nay, chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giá trị thật của việc xếp hạng.“Công nghiệp xếp hạng đại học” rõ ràng là cần phải được “cấu hình” lại và giám sát cẩn thận hơn.
Đó là thông điệp của các tác giả Kris Olds và Susan Robertson trong bài viết vừa đăng trên trang mạng Global Higher Education cách đây một tuần. Kris Olds cũng là tác giả của bài viết có tựa là “Đo lường thư mục, xếp hạng đại học và sự minh bạch” đã được chúng tôi dịch và giới thiệu đến các độc giả của Tia Sáng vào năm trước.
Xin giới thiệu bài viết mới của Kris Olds và đồng sự đến tất cả các bạn.
Phương Anh dịch và giới thiệu
-----------------
Mùa xếp hạng lại đến rồi; kết quả của Bảng xếp hạng đại học thế giới (WUR) năm học 2011-2012 của tờ Times Higher Education (THE) hợp tác với Thomson Reuters mới vừa được công bố.
Sau khi được điều chỉnh cho chính xác hơn vì sự cố rớt hạng của một số trường đại học lớn trong bảng xếp hạng năm 2010, phương pháp xếp hạng của THE năm nay hẳn sẽ đưa ra kết quả tốt hơn, sáng chói và hợp lý hơn. Nhưng liệu có đúng như vậy không?
Như tất cả những ai đang hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học, chúng tôi rất quan tâm đến kết quả xếp hạng, dù phải nói thật là những kết quả này thường năm nào cũng giống năm nào.
Nhưng lần này, chúng tôi muốn các bạn thử suy nghĩ về “cấu hình” của hoạt động xếp hạng. Những yếu tố cấu hình cần xem xét gồm có:
Kết quả xếp hạng: Trường của bạn đạt thứ hạng nào, hoặc các trường đại học của các quốc gia X, Y, X có vị trí so sánh như thế nào với những trường khác/ quốc gia khác; so với những trường/ quốc gia tương tự; so với năm trước; hoặc so với thứ hạng trên một bảng xếp hạng khác?
Phương pháp: Phương pháp luận được sử dụng có phù hợp và hiệu quả không? Phương pháp ấy đã được thay đổi như thế nào? Tại sao lại thay đổi?
Phản ứng: Các vị lãnh đạo của các trường, hoặc các bộ ngành (và tương đương) phản ứng ra sao với kết quả xếp hạng?
Chu kỳ xếp hạng: Tại sao lại công bố kết quả xếp hạng hàng năm trong khi chu kỳ 4 hoặc 5 năm có lẽ sẽ phù hợp hơn (vì đó chính là nhịp độ hoạt động tạo ra sự thay đổi của các trường)? Việc chuẩn hóa số liệu theo cái chu kỳ hằng năm này được thực hiện như thế nào?
Quyền lực và chính trị: Ai là người thực hiện xếp hạng, và họ được lợi gì trong việc này? Các tổ chức xếp hạng có minh bạch trong các hoạt động, các mối quan hệ (kể cả những đối tác cộng tác với họ), các thiên kiến, và năng lực của họ hay không?
Sáng tạo tri thức: Hiện đang tồn tại một sự mất cân xứng khó mà tin được trong việc sáng tạo tri thức, bao gồm ngôn ngữ công bố khoa học và ngành công nghiệp xuất bản. Như vậy, các bảng xếp hạng đại học thế giới (vốn rất xem trọng các số liệu đo lường thư mục) phản ánh tình trạng mất cân xứng này ra sao?
Vấn đề quản trị: Ai quản lý ai? Ai là người chịu trách nhiệm nếu có, và chịu trách nhiệm như thế nào, thường xuyên ra sao? Các trường được xếp hạng có những quyền gì ngoài công việc cung cấp thông tin (miễn phí) cho các tổ chức xếp hạng? Liệu có cần một cơ chế hiệu quả để quản lý các tổ chức xếp hạng cũng như hoạt động xếp hạng vốn đang trở thành một ngành công nghiệp hay không? Lãnh đạo các trường đại học có chút khả năng nào (cho tới nay thì chưa thấy gì) để hợp tác về những vấn đề quản trị của việc xếp hạng hay chăng?
Bối cảnh: Các bảng xếp hạng khác nhau như WUR của tổ chức THE, ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải, và bảng xếp hạng đại học thế giới của QS, chúng có liên hệ như thế nào với những nỗ lực bao quát hơn, đó là đối sánh các hệ thống giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục, và các kết quả đầu ra của việc nghiên cứu và giảng dạy?
Chúng tôi muốn nhắc mọi người về dự án xếp hạng mới U-Multirank của EU, và nhiều sáng kiến của OECD (ví dụ như công cụ đo lường năng lực đầu ra của sinh viên AHELO) để đánh giá kết quả việc học ở bậc đại học trên khắp toàn cầu, và cũng muốn nhắc đến cuộc tranh luận về đối sánh nữa. Nói vắn tắt, các bảng xếp hạng như THE vừa công bố liệu có “phù hợp với mục tiêu” như mong đợi của mọi người, đó là làm rõ chất lượng, sự đáp ứng, và hiệu quả của giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng như hiện nay, hay không?
Danh sách 400 trường hàng đầu sẽ còn được người tranh luận (kết quả này quả thực cũng đáng tranh cãi), và mọi người sẽ tò mò muốn biết vị trí tương đối của trường mình trong danh sách xếp hạng, cũng như muốn thấy những cải thiện trong phương pháp xếp hạng của THE/Thomson Reuters. Nhưng xin các bạn đừng để bị cuốn đi và chỉ quan tâm đến một số vấn đề như kết quả, phương pháp, và các phản ứng.
Thay vào đó, chúng ta cần phải đặt ra những câu hỏi khó hơn, như các vấn đề quyền lực, quản trị, và bối cảnh, hoặc lợi ích, và sự hủy hoại tiềm năng mà việc xếp hạng có thể gây ra cho các trường đại học (khi kết quả xếp hạng này được công bố và được báo chí tại các quốc gia đưa tin, rồi sau đó thì nằm trên bàn làm việc của các vị Bộ trưởng). Rõ ràng việc xếp hạng đại học là một vấn đề kinh tế chính trị, và các bảng xếp hạng (tất cả các bảng, chứ không phải chỉ riêng bảng xếp hạng của THE) đều có quyền lực tiềm ẩn cũng như khả năng gây ra tác động đáng kể; dù những tác động này có thể không được các tổ chức xếp hạng biết đến (ví dụ như việc phân bổ lại nguồn lực ở các trường).
Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ bao quát và phản biện nhiều hơn về những vấn đề quan trọng liên quan đến sự mê hoặc kỳ lạ của phong trào xếp hạng đại học hiện nay?
--------------
* http://globalhighered.wordpress. com/2011/10/05/seduced-world-university-rankings/
----------
Kết quả xếp hạng đại học thế giới năm 2011-2012 của tổ chức THE vừa được công bố trong tuần trước đã gây nhiều tranh luận, khi Harvard đã phải nhường vị trí hàng đầu của nó cho một trường đại học Mỹ khác là Caltech.
Đây không phải là lần đầu tiên Harvard mất vị trí hàng đầu thế giới. Năm 2010, Harvard cũng phải chịu vị trí số 2 trong bảng xếp hạng đại học thế giới của tổ chức QS, đứng sau ĐH Cambridge của Anh – lần đầu tiên sau 6 năm liên tiếp giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng này.
Phải chăng đây là những dấu hiệu cho một sự xuống dốc của người khổng lồ Harvard? Hay nó cho ta thấy sự đỏng đảnh, thất thường của các bảng xếp hạng quốc tế? Vì chỉ mới cách đây 2 tháng thôi, Harvard đã kiêu hãnh xuất hiện ở vị trí đứng đầu của một bảng xếp hạng đại học được đánh giá là số một về sự tin cậy và khoa học – bảng xếp hạng ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải.
Với cách làm thiếu minh bạch của các tổ chức xếp hạng như hiện nay, chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giá trị thật của việc xếp hạng.“Công nghiệp xếp hạng đại học” rõ ràng là cần phải được “cấu hình” lại và giám sát cẩn thận hơn.
Đó là thông điệp của các tác giả Kris Olds và Susan Robertson trong bài viết vừa đăng trên trang mạng Global Higher Education cách đây một tuần. Kris Olds cũng là tác giả của bài viết có tựa là “Đo lường thư mục, xếp hạng đại học và sự minh bạch” đã được chúng tôi dịch và giới thiệu đến các độc giả của Tia Sáng vào năm trước.
Xin giới thiệu bài viết mới của Kris Olds và đồng sự đến tất cả các bạn.
Phương Anh dịch và giới thiệu
-----------------
Mùa xếp hạng lại đến rồi; kết quả của Bảng xếp hạng đại học thế giới (WUR) năm học 2011-2012 của tờ Times Higher Education (THE) hợp tác với Thomson Reuters mới vừa được công bố.
Sau khi được điều chỉnh cho chính xác hơn vì sự cố rớt hạng của một số trường đại học lớn trong bảng xếp hạng năm 2010, phương pháp xếp hạng của THE năm nay hẳn sẽ đưa ra kết quả tốt hơn, sáng chói và hợp lý hơn. Nhưng liệu có đúng như vậy không?
Như tất cả những ai đang hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học, chúng tôi rất quan tâm đến kết quả xếp hạng, dù phải nói thật là những kết quả này thường năm nào cũng giống năm nào.
Nhưng lần này, chúng tôi muốn các bạn thử suy nghĩ về “cấu hình” của hoạt động xếp hạng. Những yếu tố cấu hình cần xem xét gồm có:
Kết quả xếp hạng: Trường của bạn đạt thứ hạng nào, hoặc các trường đại học của các quốc gia X, Y, X có vị trí so sánh như thế nào với những trường khác/ quốc gia khác; so với những trường/ quốc gia tương tự; so với năm trước; hoặc so với thứ hạng trên một bảng xếp hạng khác?
Phương pháp: Phương pháp luận được sử dụng có phù hợp và hiệu quả không? Phương pháp ấy đã được thay đổi như thế nào? Tại sao lại thay đổi?
Phản ứng: Các vị lãnh đạo của các trường, hoặc các bộ ngành (và tương đương) phản ứng ra sao với kết quả xếp hạng?
Chu kỳ xếp hạng: Tại sao lại công bố kết quả xếp hạng hàng năm trong khi chu kỳ 4 hoặc 5 năm có lẽ sẽ phù hợp hơn (vì đó chính là nhịp độ hoạt động tạo ra sự thay đổi của các trường)? Việc chuẩn hóa số liệu theo cái chu kỳ hằng năm này được thực hiện như thế nào?
Quyền lực và chính trị: Ai là người thực hiện xếp hạng, và họ được lợi gì trong việc này? Các tổ chức xếp hạng có minh bạch trong các hoạt động, các mối quan hệ (kể cả những đối tác cộng tác với họ), các thiên kiến, và năng lực của họ hay không?
Sáng tạo tri thức: Hiện đang tồn tại một sự mất cân xứng khó mà tin được trong việc sáng tạo tri thức, bao gồm ngôn ngữ công bố khoa học và ngành công nghiệp xuất bản. Như vậy, các bảng xếp hạng đại học thế giới (vốn rất xem trọng các số liệu đo lường thư mục) phản ánh tình trạng mất cân xứng này ra sao?
Vấn đề quản trị: Ai quản lý ai? Ai là người chịu trách nhiệm nếu có, và chịu trách nhiệm như thế nào, thường xuyên ra sao? Các trường được xếp hạng có những quyền gì ngoài công việc cung cấp thông tin (miễn phí) cho các tổ chức xếp hạng? Liệu có cần một cơ chế hiệu quả để quản lý các tổ chức xếp hạng cũng như hoạt động xếp hạng vốn đang trở thành một ngành công nghiệp hay không? Lãnh đạo các trường đại học có chút khả năng nào (cho tới nay thì chưa thấy gì) để hợp tác về những vấn đề quản trị của việc xếp hạng hay chăng?
Bối cảnh: Các bảng xếp hạng khác nhau như WUR của tổ chức THE, ARWU của ĐH Giao thông Thượng Hải, và bảng xếp hạng đại học thế giới của QS, chúng có liên hệ như thế nào với những nỗ lực bao quát hơn, đó là đối sánh các hệ thống giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục, và các kết quả đầu ra của việc nghiên cứu và giảng dạy?
Chúng tôi muốn nhắc mọi người về dự án xếp hạng mới U-Multirank của EU, và nhiều sáng kiến của OECD (ví dụ như công cụ đo lường năng lực đầu ra của sinh viên AHELO) để đánh giá kết quả việc học ở bậc đại học trên khắp toàn cầu, và cũng muốn nhắc đến cuộc tranh luận về đối sánh nữa. Nói vắn tắt, các bảng xếp hạng như THE vừa công bố liệu có “phù hợp với mục tiêu” như mong đợi của mọi người, đó là làm rõ chất lượng, sự đáp ứng, và hiệu quả của giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng như hiện nay, hay không?
Danh sách 400 trường hàng đầu sẽ còn được người tranh luận (kết quả này quả thực cũng đáng tranh cãi), và mọi người sẽ tò mò muốn biết vị trí tương đối của trường mình trong danh sách xếp hạng, cũng như muốn thấy những cải thiện trong phương pháp xếp hạng của THE/Thomson Reuters. Nhưng xin các bạn đừng để bị cuốn đi và chỉ quan tâm đến một số vấn đề như kết quả, phương pháp, và các phản ứng.
Thay vào đó, chúng ta cần phải đặt ra những câu hỏi khó hơn, như các vấn đề quyền lực, quản trị, và bối cảnh, hoặc lợi ích, và sự hủy hoại tiềm năng mà việc xếp hạng có thể gây ra cho các trường đại học (khi kết quả xếp hạng này được công bố và được báo chí tại các quốc gia đưa tin, rồi sau đó thì nằm trên bàn làm việc của các vị Bộ trưởng). Rõ ràng việc xếp hạng đại học là một vấn đề kinh tế chính trị, và các bảng xếp hạng (tất cả các bảng, chứ không phải chỉ riêng bảng xếp hạng của THE) đều có quyền lực tiềm ẩn cũng như khả năng gây ra tác động đáng kể; dù những tác động này có thể không được các tổ chức xếp hạng biết đến (ví dụ như việc phân bổ lại nguồn lực ở các trường).
Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ bao quát và phản biện nhiều hơn về những vấn đề quan trọng liên quan đến sự mê hoặc kỳ lạ của phong trào xếp hạng đại học hiện nay?
--------------
* http://globalhighered.wordpress. com/2011/10/05/seduced-world-university-rankings/
Wednesday, August 3, 2011
Xếp hạng đại học: Mối liên hệ nào với chất lượng? (và một đính chính nhỏ)
Mấy ngày qua dư luận có vẻ xôn xao với kết quả xếp hạng mới công bố của của Webometrics, trong đó đáng nói là ĐH Lạc Hồng đã lọt vào danh sách 7 trường của VN có tên trong danh sách những trường top Đông Nam Á. Xôn xao là vì ĐH Lạc Hồng chỉ là một trường ĐH tư của địa phương (Đồng Nai), và cũng còn mới, mà không hiểu sao đã có tên trong danh sách, vượt qua nhiều trường có tầm cỡ hơn rất nhiều. Như vậy, phải chăng ĐH Lạc Hồng có chất lượng tốt hơn nhiều trường khác của VN? Còn nếu không phải như vậy, thì phải hiểu những kết quả xếp hạng như thế nào đây?
Để làm cho dư luận hiểu rõ hơn về xếp hạng, Vietnamnet đã đặt hàng cho tôi viết bài này, và đã được đăng trên trang Vietnamnet sáng nay. Các bạn vào trong trang VietnamNet, ở đây, để đọc nhé.
Khi đọc lời giới thiệu về tôi trên VietnamNet thì thấy có một nhầm lẫn về “nhân thân” của tôi do chưa cập nhật thông tin, nên tôi thấy cũng cần đính chính. Trên báo giới thiệu tôi là GĐ Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo của ĐHQG-HCM. Tuy nhiên, điều đó cho đến nay đã không còn đúng nữa. Tôi đã xin nghỉ khỏi chức vụ đó, và cũng thôi không còn biên chế ở ĐHQG-HCM nữa, bắt đầu từ ngày 1/8/2011, tức cách đây vài ngày. (Tuy nhiên, khi báo đặt hàng tôi viết cách đây vài ngày thì tôi chưa nhận quyết định (tôi nhận QĐ đúng ngày 1/8) nên technically speaking thì lúc ấy trên danh nghĩa tôi vẫn còn là GĐ !!!!)
Để xin nghỉ thì tôi đã phải gửi đơn cách đây 45 ngày, nên ý định này của tôi thực ra đã nhiều người biết rồi. Tuy nhiên, VietnamNet lại vẫn chưa biết, và tôi cũng sơ ý không nhắc, nên mới có chuyện nhầm lẫn như vậy. Vậy nếu cụm từ “GĐ TTKT và ĐGCLĐT thuộc ĐHQG-HCM” có tăng thêm chút trọng lượng gì cho bài báo thì xin các bạn giữ lại nhưng thêm từ “Nguyên” vào đó giúp tôi. Còn nếu không thì xin các bạn bỏ cụm từ đó đi luôn, vì tôi nghĩ tôi cũng có thể phát biểu với tư cách của cá nhân tôi, một giảng viên, một nhà nghiên cứu, có những hiểu biết về những vấn đề mà bài báo đã đề cập đến.
Vài hàng như vậy với các bạn, từ nay tôi sẽ chỉ là tôi, các bạn nhé, không “đeo” thêm chút chức vụ gì hết, và cũng không còn ở trong khu vực công lập nữa. Như vậy cho nó nhẹ nhàng các bạn ạ, và hy vọng điều đó vẫn không ảnh hưởng gì đến “trọng lượng” của những gì tôi viết, vốn cần được đánh giá bởi nội dung của nó, chứ không phải vì chức vụ của tác giả, phải không các bạn?
----
Tờ Bangkok Post ngày 29/7/2011 có đăng một bài bình luận đáng suy nghĩ. Với tựa đề “Xếp hạng đại học có thực sự đo được gì không?”[1]. Bài viết nêu hai bài viết trên hai tờ báo lớn ở Thái Lan trong tháng 5/2011. Viết về sự có mặt của 5 trường đại học Thái Lan trong 100 vị trí đầu tiên của bảng xếp hạng QS Châu Á năm 2011, tờ The Nation bày tỏ sự vui mừng về chất lượng giáo dục đại học của đất nước. Trong khi đó, bài xã luận trên tờ Bangkok Post là lời cảnh báo về chất lượng thấp của các trường đại học, và kêu gọi tìm kiếm các giải pháp để cải thiện.
Đâu là sự thật, và tại sao có sự mâu thuẫn nói trên? Theo tác giả, điều này là do tâm lý “mê cuồng” của người Thái đối với các bảng xếp hạng quốc tế.
Các tiêu chí xếp hạng thường được chọn lựa vì sự thuận tiện trong việc thu thập và xử lý thông tin. Chúng không đo được những giá trị và đóng góp đích thực của các trường đại học Thái đối với xã hội Thái.
Việc mải mê chạy theo các thứ hạng cao không những đã không làm tăng mà còn làm giảm chất lượng giáo dục đại học của nước này. Nó thúc đẩy các trường chạy theo những yêu cầu bên ngoài nhằm tăng hạng và bỏ qua nhiệm vụ cung cấp những chương trình giáo dục phù hợp với người Thái để đáp ứng sự phát triển của xã hội Thái.
Lời khẳng định nêu trên hoàn toàn không phải là ý kiến chủ quan, vô căn cứ của một người có ác cảm với xếp hạng. Mặt trái của việc xếp hạng đại học đã được giới nghiên cứu cảnh báo từ nhiều năm nay.
Không phải tình cờ mà tờ báo mạng University World News (UWN) số ra ngày Chủ nhật 31/7/2011 đã cho đăng một loạt bài viết về xếp hạng quốc tế để chỉ ra những ngộ nhận phổ biến về xếp hạng và những tác hại do tâm lý mê cuồng với xếp hạng gây ra.
Philip Altbach trong bài viết có tựa đề “Đừng quá nhấn mạnh việc xếp hạng quốc tế” trong số báo nói trên đã khẳng định rõ quan điểm của mình đối với xếp hạng.
Theo tác giả, các bảng xếp hạng hiện nay chỉ phù hợp với các trường đại học nghiên cứu thuộc hàng tinh hoa nhất. Vì vậy, quá quan tâm đến thứ hạng chắc sẽ làm cho các trường bỏ quên những đặc điểm riêng biệt của mình để chạy theo những tiêu chí trong các bảng xếp hạng. Trong khi đó, sự đa dạng về sứ mạng là tối cần thiết để làm nên sức mạnh của một hệ thống giáo dục đại học. Quan điểm này hoàn toàn đồng nhất với quan điểm đã nêu trên tờ Bangkok Post ngày 29/7/2011 nói trên.
Nhưng bài viết của Altbach chỉ mới đề cập đến những bảng xếp hạng có uy tín, như bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải chẳng hạn. Số lượng các bảng xếp hạng quốc tế hiện nay đã lên đến hàng chục, và không phải hệ thống xếp hạng nào cũng đáng tin cậy. Một số bảng xếp hạng đã từng đưa ra những kết quả rất vô trách nhiệm, và thỉnh thoảng ta lại thấy những thay đổi vị trí rất đột ngột của các trường mà chẳng có một lời giải thích.
Có thể đưa ra một ví dụ từ bảng xếp hạng 4icu[2]. Đây là tên viết tắt của For International Colleges and Universities, một tổ chức xếp hạng với phương pháp tương tự như Webometrics, dựa trên số lượng truy cập vào trang web của các trường đại học.
Năm 2009, 4icu.org đưa ra danh sách 200 trường đại học hàng đầu thế giới, theo đó Đại học Quốc gia TP HCM được xếp ở vị trí thứ 57, cao hơn cả ĐH Stanford, một đại học hàng đầu của Mỹ! Nhưng chỉ một năm sau, danh sách 200 trường hàng đầu cũng do 4icu đưa ra lại là một danh sách hoàn toàn khác, trong đó tên của ĐHQG-HCM hoàn toàn biến mất không còn dấu vết!
Ví dụ nêu trên có vẻ rất cực đoan và không tiêu biểu, chỉ có thể xảy ra với một bảng xếp hạng không tên tuổi. Nhưng những sai sót tương tự cũng đã xảy ra với những bảng xếp hạng có tên tuổi khác.
Một ví dụ kinh điển là sự rớt hạng gần cả trăm vị trí sau chỉ một năm của University Malaysia, trường đại học hàng đầu của Malaysia (UM), trong bảng xếp hạng của QS năm 2005[3]. Nguyên nhân của sự thay đổi này sau đó được giải thích là do QS đã hiểu sai số liệu của UM năm 2004, nhưng sự tụt hạng này đã kịp làm vị hiệu trưởng đương nhiệm lúc ấy của UM bị cách chức vào năm 2005, để lại áp lực tâm lý nặng nề lên những người kế nhiệm.
Bảng xếp hạng của The Higher Education
Tại Việt Nam, kết quả xếp hạng của Webometrics cũng đã từng làm dấy lên nhiều luồng dư luận khác nhau, từ thất vọng, phẫn nộ đến phấn khởi và thậm chí đắc thắng. Đã có nhiều bài viết về giá trị hạn chế của bảng xếp hạng Webometrics ở Việt Nam, nhưng kết quả hàng năm của bảng xếp hạng này vẫn có thể xem là một đề tài “thời sự”, như mẩu tin trên báo Thanh Niên ngày 1/8/2011 đã chứng minh.
Trong bài viết “Xếp hạng các bảng xếp hạng”[4], tác giả Ard Jongsma đã chỉ ra nhược điểm căn bản của xếp hạng. Để có thể xác định vị trí cao thấp thì các trường đại học được so sánh cần phải giống nhau, và sự so sánh phải dựa trên những yếu tố có thể đo lường được.
Nhưng rất nhiều đặc điểm quan trọng của các trường đại học không đo lường, và cũng rất khó để so sánh các trường đại học có sứ mạng khác nhau. Đa số kết quả xếp hạng vì vậy chỉ dựa trên các tiêu chí dễ đo lường (dù chưa hẳn đã có thể so sánh giữa các trường) như tỷ số giảng viên trên sinh viên, kinh phí đầu tư tính trên đầu sinh viên, tỷ số công bố khoa học trên giảng viên vv, mà hậu quả là quá trình thu hẹp sứ mạng và đồng hóa các trường đại học như Altbach đã nêu ở trên.
Một nhược điểm quan trọng khác cũng đã từng được giới nghiên cứu nêu ra, đó là ngay cả khi kết quả xếp hạng thực sự đáng tin cậy và có giá trị, chúng vẫn không chỉ ra được tại sao một trường đại học đã đạt được vị trí nào đó. Xếp hạng cho ta biết đích đến, nhưng không vẽ ra con đường đến đích. Và có lẽ cũng không nên đòi hỏi điều này từ các bảng xếp hạng. Để đến đích, có rất nhiều con đường, tùy thuộc vào vị trí hiện tại, năng lực, điều kiện và hoàn cảnh của từng trường đại học và từng quốc gia. Con đường này phải được xác định bởi chính các nhà lãnh đạo của các trường trong định hướng phát triển chung của đất nước.
Cuối cùng, sau tất cả những tranh luận về xếp hạng thì còn đọng lại một câu hỏi: Nên có thái độ như thế nào đối với xếp hạng? Câu trả lời đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra tại Hội nghị quốc tế về xếp hạng đại học do UNESCO, OECD và World Bank đồng tổ chức vào tháng 5/2011 vừa qua.
Xếp hạng đại học sẽ vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, nhưng xu hướng sẽ là ngày càng xuất hiện nhiều các hệ thống xếp hạng đa dạng hơn với những tiêu chí phù hợp hơn với đặc thù của từng trường.
Một xu hướng khác là việc chuyển từ xếp hạng (ranking) sang đối sánh (benchmarking). Thay vì quan tâm đến các thứ hạng do người khác áp đặt, các trường sẽ sử dụng thông tin từ việc xếp hạng để tự xác định vị trí so với những trường do chính mình lựa chọn, đồng thời tự thực hiện việc nghiên cứu những trường hợp thành công (success case) để học hỏi và cải thiện chính mình. Điều này đòi hỏi nhiều thời gian và một độ tự chủ nhất định từ các trường đại học, nhưng không phải là không thể làm được.
Chỉ đến lúc đó thì ta mới mong có một mối liên hệ trực tiếp nào đó giữa kết quả xếp hạng với chất lượng của các trường đại học. Còn trong thời gian này, kết quả xếp hạng chỉ để tham khảo với ý nghĩa hoàn toàn tương đối. Thử nghĩ xem, xếp hạng có ích gì nếu người ta chỉ tin những kết quả không gây tranh cãi, chẳng hạn như Harvard là trường đại học nghiên cứu hàng đầu thế giới. Những kết quả gây ngạc nhiên như vị trí của ĐHQG-HCM cao hơn ĐH Stanford trên bảng xếp hạng 4icu năm 2009 thì liệu sẽ có mấy người tin?
•Vũ Thị Phương Anh
**********************
Các chú thích trong bài:
[1] http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/249289/do-university-rankings-truly-measure-up
[2] http://www.4icu.org/
[3] http://blog.limkitsiang.com/2009/10/07/tomorrow-d-day-for-malaysian-universities-thes-qs-top-200-universities-ranking-2009/
[4] http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20110625121647430
Để làm cho dư luận hiểu rõ hơn về xếp hạng, Vietnamnet đã đặt hàng cho tôi viết bài này, và đã được đăng trên trang Vietnamnet sáng nay. Các bạn vào trong trang VietnamNet, ở đây, để đọc nhé.
Khi đọc lời giới thiệu về tôi trên VietnamNet thì thấy có một nhầm lẫn về “nhân thân” của tôi do chưa cập nhật thông tin, nên tôi thấy cũng cần đính chính. Trên báo giới thiệu tôi là GĐ Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo của ĐHQG-HCM. Tuy nhiên, điều đó cho đến nay đã không còn đúng nữa. Tôi đã xin nghỉ khỏi chức vụ đó, và cũng thôi không còn biên chế ở ĐHQG-HCM nữa, bắt đầu từ ngày 1/8/2011, tức cách đây vài ngày. (Tuy nhiên, khi báo đặt hàng tôi viết cách đây vài ngày thì tôi chưa nhận quyết định (tôi nhận QĐ đúng ngày 1/8) nên technically speaking thì lúc ấy trên danh nghĩa tôi vẫn còn là GĐ !!!!)
Để xin nghỉ thì tôi đã phải gửi đơn cách đây 45 ngày, nên ý định này của tôi thực ra đã nhiều người biết rồi. Tuy nhiên, VietnamNet lại vẫn chưa biết, và tôi cũng sơ ý không nhắc, nên mới có chuyện nhầm lẫn như vậy. Vậy nếu cụm từ “GĐ TTKT và ĐGCLĐT thuộc ĐHQG-HCM” có tăng thêm chút trọng lượng gì cho bài báo thì xin các bạn giữ lại nhưng thêm từ “Nguyên” vào đó giúp tôi. Còn nếu không thì xin các bạn bỏ cụm từ đó đi luôn, vì tôi nghĩ tôi cũng có thể phát biểu với tư cách của cá nhân tôi, một giảng viên, một nhà nghiên cứu, có những hiểu biết về những vấn đề mà bài báo đã đề cập đến.
Vài hàng như vậy với các bạn, từ nay tôi sẽ chỉ là tôi, các bạn nhé, không “đeo” thêm chút chức vụ gì hết, và cũng không còn ở trong khu vực công lập nữa. Như vậy cho nó nhẹ nhàng các bạn ạ, và hy vọng điều đó vẫn không ảnh hưởng gì đến “trọng lượng” của những gì tôi viết, vốn cần được đánh giá bởi nội dung của nó, chứ không phải vì chức vụ của tác giả, phải không các bạn?
----
Tờ Bangkok Post ngày 29/7/2011 có đăng một bài bình luận đáng suy nghĩ. Với tựa đề “Xếp hạng đại học có thực sự đo được gì không?”[1]. Bài viết nêu hai bài viết trên hai tờ báo lớn ở Thái Lan trong tháng 5/2011. Viết về sự có mặt của 5 trường đại học Thái Lan trong 100 vị trí đầu tiên của bảng xếp hạng QS Châu Á năm 2011, tờ The Nation bày tỏ sự vui mừng về chất lượng giáo dục đại học của đất nước. Trong khi đó, bài xã luận trên tờ Bangkok Post là lời cảnh báo về chất lượng thấp của các trường đại học, và kêu gọi tìm kiếm các giải pháp để cải thiện.
Đâu là sự thật, và tại sao có sự mâu thuẫn nói trên? Theo tác giả, điều này là do tâm lý “mê cuồng” của người Thái đối với các bảng xếp hạng quốc tế.
Các tiêu chí xếp hạng thường được chọn lựa vì sự thuận tiện trong việc thu thập và xử lý thông tin. Chúng không đo được những giá trị và đóng góp đích thực của các trường đại học Thái đối với xã hội Thái.
Việc mải mê chạy theo các thứ hạng cao không những đã không làm tăng mà còn làm giảm chất lượng giáo dục đại học của nước này. Nó thúc đẩy các trường chạy theo những yêu cầu bên ngoài nhằm tăng hạng và bỏ qua nhiệm vụ cung cấp những chương trình giáo dục phù hợp với người Thái để đáp ứng sự phát triển của xã hội Thái.
Lời khẳng định nêu trên hoàn toàn không phải là ý kiến chủ quan, vô căn cứ của một người có ác cảm với xếp hạng. Mặt trái của việc xếp hạng đại học đã được giới nghiên cứu cảnh báo từ nhiều năm nay.
Không phải tình cờ mà tờ báo mạng University World News (UWN) số ra ngày Chủ nhật 31/7/2011 đã cho đăng một loạt bài viết về xếp hạng quốc tế để chỉ ra những ngộ nhận phổ biến về xếp hạng và những tác hại do tâm lý mê cuồng với xếp hạng gây ra.
Philip Altbach trong bài viết có tựa đề “Đừng quá nhấn mạnh việc xếp hạng quốc tế” trong số báo nói trên đã khẳng định rõ quan điểm của mình đối với xếp hạng.
Theo tác giả, các bảng xếp hạng hiện nay chỉ phù hợp với các trường đại học nghiên cứu thuộc hàng tinh hoa nhất. Vì vậy, quá quan tâm đến thứ hạng chắc sẽ làm cho các trường bỏ quên những đặc điểm riêng biệt của mình để chạy theo những tiêu chí trong các bảng xếp hạng. Trong khi đó, sự đa dạng về sứ mạng là tối cần thiết để làm nên sức mạnh của một hệ thống giáo dục đại học. Quan điểm này hoàn toàn đồng nhất với quan điểm đã nêu trên tờ Bangkok Post ngày 29/7/2011 nói trên.
Nhưng bài viết của Altbach chỉ mới đề cập đến những bảng xếp hạng có uy tín, như bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải chẳng hạn. Số lượng các bảng xếp hạng quốc tế hiện nay đã lên đến hàng chục, và không phải hệ thống xếp hạng nào cũng đáng tin cậy. Một số bảng xếp hạng đã từng đưa ra những kết quả rất vô trách nhiệm, và thỉnh thoảng ta lại thấy những thay đổi vị trí rất đột ngột của các trường mà chẳng có một lời giải thích.
Có thể đưa ra một ví dụ từ bảng xếp hạng 4icu[2]. Đây là tên viết tắt của For International Colleges and Universities, một tổ chức xếp hạng với phương pháp tương tự như Webometrics, dựa trên số lượng truy cập vào trang web của các trường đại học.
Năm 2009, 4icu.org đưa ra danh sách 200 trường đại học hàng đầu thế giới, theo đó Đại học Quốc gia TP HCM được xếp ở vị trí thứ 57, cao hơn cả ĐH Stanford, một đại học hàng đầu của Mỹ! Nhưng chỉ một năm sau, danh sách 200 trường hàng đầu cũng do 4icu đưa ra lại là một danh sách hoàn toàn khác, trong đó tên của ĐHQG-HCM hoàn toàn biến mất không còn dấu vết!
Ví dụ nêu trên có vẻ rất cực đoan và không tiêu biểu, chỉ có thể xảy ra với một bảng xếp hạng không tên tuổi. Nhưng những sai sót tương tự cũng đã xảy ra với những bảng xếp hạng có tên tuổi khác.
Một ví dụ kinh điển là sự rớt hạng gần cả trăm vị trí sau chỉ một năm của University Malaysia, trường đại học hàng đầu của Malaysia (UM), trong bảng xếp hạng của QS năm 2005[3]. Nguyên nhân của sự thay đổi này sau đó được giải thích là do QS đã hiểu sai số liệu của UM năm 2004, nhưng sự tụt hạng này đã kịp làm vị hiệu trưởng đương nhiệm lúc ấy của UM bị cách chức vào năm 2005, để lại áp lực tâm lý nặng nề lên những người kế nhiệm.
Bảng xếp hạng của The Higher Education
Tại Việt Nam, kết quả xếp hạng của Webometrics cũng đã từng làm dấy lên nhiều luồng dư luận khác nhau, từ thất vọng, phẫn nộ đến phấn khởi và thậm chí đắc thắng. Đã có nhiều bài viết về giá trị hạn chế của bảng xếp hạng Webometrics ở Việt Nam, nhưng kết quả hàng năm của bảng xếp hạng này vẫn có thể xem là một đề tài “thời sự”, như mẩu tin trên báo Thanh Niên ngày 1/8/2011 đã chứng minh.
Trong bài viết “Xếp hạng các bảng xếp hạng”[4], tác giả Ard Jongsma đã chỉ ra nhược điểm căn bản của xếp hạng. Để có thể xác định vị trí cao thấp thì các trường đại học được so sánh cần phải giống nhau, và sự so sánh phải dựa trên những yếu tố có thể đo lường được.
Nhưng rất nhiều đặc điểm quan trọng của các trường đại học không đo lường, và cũng rất khó để so sánh các trường đại học có sứ mạng khác nhau. Đa số kết quả xếp hạng vì vậy chỉ dựa trên các tiêu chí dễ đo lường (dù chưa hẳn đã có thể so sánh giữa các trường) như tỷ số giảng viên trên sinh viên, kinh phí đầu tư tính trên đầu sinh viên, tỷ số công bố khoa học trên giảng viên vv, mà hậu quả là quá trình thu hẹp sứ mạng và đồng hóa các trường đại học như Altbach đã nêu ở trên.
Một nhược điểm quan trọng khác cũng đã từng được giới nghiên cứu nêu ra, đó là ngay cả khi kết quả xếp hạng thực sự đáng tin cậy và có giá trị, chúng vẫn không chỉ ra được tại sao một trường đại học đã đạt được vị trí nào đó. Xếp hạng cho ta biết đích đến, nhưng không vẽ ra con đường đến đích. Và có lẽ cũng không nên đòi hỏi điều này từ các bảng xếp hạng. Để đến đích, có rất nhiều con đường, tùy thuộc vào vị trí hiện tại, năng lực, điều kiện và hoàn cảnh của từng trường đại học và từng quốc gia. Con đường này phải được xác định bởi chính các nhà lãnh đạo của các trường trong định hướng phát triển chung của đất nước.
Cuối cùng, sau tất cả những tranh luận về xếp hạng thì còn đọng lại một câu hỏi: Nên có thái độ như thế nào đối với xếp hạng? Câu trả lời đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra tại Hội nghị quốc tế về xếp hạng đại học do UNESCO, OECD và World Bank đồng tổ chức vào tháng 5/2011 vừa qua.
Xếp hạng đại học sẽ vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, nhưng xu hướng sẽ là ngày càng xuất hiện nhiều các hệ thống xếp hạng đa dạng hơn với những tiêu chí phù hợp hơn với đặc thù của từng trường.
Một xu hướng khác là việc chuyển từ xếp hạng (ranking) sang đối sánh (benchmarking). Thay vì quan tâm đến các thứ hạng do người khác áp đặt, các trường sẽ sử dụng thông tin từ việc xếp hạng để tự xác định vị trí so với những trường do chính mình lựa chọn, đồng thời tự thực hiện việc nghiên cứu những trường hợp thành công (success case) để học hỏi và cải thiện chính mình. Điều này đòi hỏi nhiều thời gian và một độ tự chủ nhất định từ các trường đại học, nhưng không phải là không thể làm được.
Chỉ đến lúc đó thì ta mới mong có một mối liên hệ trực tiếp nào đó giữa kết quả xếp hạng với chất lượng của các trường đại học. Còn trong thời gian này, kết quả xếp hạng chỉ để tham khảo với ý nghĩa hoàn toàn tương đối. Thử nghĩ xem, xếp hạng có ích gì nếu người ta chỉ tin những kết quả không gây tranh cãi, chẳng hạn như Harvard là trường đại học nghiên cứu hàng đầu thế giới. Những kết quả gây ngạc nhiên như vị trí của ĐHQG-HCM cao hơn ĐH Stanford trên bảng xếp hạng 4icu năm 2009 thì liệu sẽ có mấy người tin?
•Vũ Thị Phương Anh
**********************
Các chú thích trong bài:
[1] http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/249289/do-university-rankings-truly-measure-up
[2] http://www.4icu.org/
[3] http://blog.limkitsiang.com/2009/10/07/tomorrow-d-day-for-malaysian-universities-thes-qs-top-200-universities-ranking-2009/
[4] http://www.universityworldnews.com/article.php?story=20110625121647430
Sunday, July 31, 2011
“Xếp hạng đại học có thực sự đo được gì không?”
“Xếp hạng đại học có thực sự đo được gì không?”
Đó là tựa một bài viết bằng tiếng Anh được đăng trên mục ý kiến của tờ Bangkok Post ngày 29/7 mới đây. Có thể đọc bản gốc tại đây. Một bài đáng đọc và suy nghĩ.
Nhưng trước hết, xin vài dòng phi lộ trước khi giới thiệu bài viết. Ở VN, có lẽ hiện nay sự háo hức, hăm hở tham gia xếp hạng đại học đã qua rồi, hình như chẳng ai còn quan tâm gì đến xếp hạng đại học nữa cả. VN ta là thế, ‘cả thèm, chóng chán” mà, y như trẻ con ấy (hèn gì mà nhà thơ Tản Đà đã từng phán “nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”). Tất nhiên, không hăm hở tham gia xếp hạng nữa cũng tốt, vì nếu cứ đổ xô vào đấy thì chỉ là một loại bệnh thành tích mới. Nhưng lờ đi, xem như xếp hạng không tồn tại thì cũng không đúng nốt.
Thái độ đúng đối với xếp hạng đại học, theo tôi là phải hiểu rõ nó, để biết đường “đối xử” với nó cho phù hợp. Kể cả nếu không tham gia xếp hạng, thì cũng phải biết tại sao, và có lập luận chặt chẽ, chứ không phải lúc còn mới thì thích, rồi sau đó chán rồi thì bỏ, mà chẳng hiểu tại sao. Ví dụ, nếu có ai đó nói rằng các trường đại học của ta thua Thái Lan, vì cho đến nay chẳng có bất kỳ một trường nào trong top 100 cả, thì cũng phải có ai đó hiểu rằng người ta nói như thế có đúng không chứ.
Và đó là lý do tại sao tôi vẫn kiên trì viết về xếp hạng đại học, để hy vọng mọi người hiểu hơn về một hiện tượng không thể tránh được của thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa hiện nay (khiếp quá, từ ngữ to tát, nổ lốp bốp – nào là KT tri thức, nào là toàn cầu hóa, nghe dễ sợ thật).
Rồi, giờ thì quay lại bài viết. Bài ấy mở đầu bằng một đoạn giới thiệu rất “bắt mắt”, như sau:
Dịch tóm tắt: Cùng ngày 27/5, trên 2 tờ báo của Thái viết về GD ĐH đưa ra 2 bài viết trái ngược. Tờ Nation thì tỏ ra vui mừng vì có đến 5 trường đại học của Thái lọt và top 100 châu Á của bảng xếp hạng QS. Tờ Bangkok Post thì lại than phiền về chất lượng kém của các trường đại học và cao đẳng của Thái.
Hàm ý của tác giả: các kết quả xếp hạng đại học liệu có tin được không? Hay nói cách khác, các bảng xếp hạng đại học thực ra đo lường cái gì, và tại sao lại thế?
Muốn biết câu trả lời ư, các bạn chịu khó đọc bản gốc nhé, vì nó cũng khá dễ đọc (đọc đi để mà còn tăng trình độ tiếng Anh chứ, các bạn nhỉ). Ở đây tôi chỉ đưa lên phần kết luận của tác giả, mà tôi cũng hoàn toàn chia sẻ, mà thôi. Xin đọc dưới đây:
Một lời khuyên rất có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển như Thái Lan, hoặc, đúng rồi, VN nữa, tại sao không. Hãy (tạm) quên việc đổ ngân quỹ quốc gia eo hẹp để tạo ra những trường có đẳng cấp (để mà có vị trí cao trong các bảng xếp hạng), và chú trọng vào toàn bộ hệ thống giáo dục – từ mầm non đến sau đại học – để tạo ra những công dân có đầy đủ kỹ năng để tham gia một cách tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Một lời khuyên dành cho chính phủ Thái Lan mà không hiểu sao cứ y như viết cho chính phủ VN vậy, thật thế. Đặc biệt là khi chính phủ VN đang quyết định về các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước hiện nay.
Hết sức mong mỏi các vị có trách nhiệm ghé mắt qua và đọc những dòng này.
Đó là tựa một bài viết bằng tiếng Anh được đăng trên mục ý kiến của tờ Bangkok Post ngày 29/7 mới đây. Có thể đọc bản gốc tại đây. Một bài đáng đọc và suy nghĩ.
Nhưng trước hết, xin vài dòng phi lộ trước khi giới thiệu bài viết. Ở VN, có lẽ hiện nay sự háo hức, hăm hở tham gia xếp hạng đại học đã qua rồi, hình như chẳng ai còn quan tâm gì đến xếp hạng đại học nữa cả. VN ta là thế, ‘cả thèm, chóng chán” mà, y như trẻ con ấy (hèn gì mà nhà thơ Tản Đà đã từng phán “nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”). Tất nhiên, không hăm hở tham gia xếp hạng nữa cũng tốt, vì nếu cứ đổ xô vào đấy thì chỉ là một loại bệnh thành tích mới. Nhưng lờ đi, xem như xếp hạng không tồn tại thì cũng không đúng nốt.
Thái độ đúng đối với xếp hạng đại học, theo tôi là phải hiểu rõ nó, để biết đường “đối xử” với nó cho phù hợp. Kể cả nếu không tham gia xếp hạng, thì cũng phải biết tại sao, và có lập luận chặt chẽ, chứ không phải lúc còn mới thì thích, rồi sau đó chán rồi thì bỏ, mà chẳng hiểu tại sao. Ví dụ, nếu có ai đó nói rằng các trường đại học của ta thua Thái Lan, vì cho đến nay chẳng có bất kỳ một trường nào trong top 100 cả, thì cũng phải có ai đó hiểu rằng người ta nói như thế có đúng không chứ.
Và đó là lý do tại sao tôi vẫn kiên trì viết về xếp hạng đại học, để hy vọng mọi người hiểu hơn về một hiện tượng không thể tránh được của thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa hiện nay (khiếp quá, từ ngữ to tát, nổ lốp bốp – nào là KT tri thức, nào là toàn cầu hóa, nghe dễ sợ thật).
Rồi, giờ thì quay lại bài viết. Bài ấy mở đầu bằng một đoạn giới thiệu rất “bắt mắt”, như sau:
It is May 27, 2011 and two media reports about Thai higher education tell very opposite stories. On one hand, a feel-good news item published in The Nation newspaper trumpets that 5 Thai universities were ranked among the top 100 in the QS Asian University Rankings 2011. Turn the pages of the Bangkok Post, however, and the editorial "Get real about bad education" laments the sorry state of quality at the country's colleges and universities.
Dịch tóm tắt: Cùng ngày 27/5, trên 2 tờ báo của Thái viết về GD ĐH đưa ra 2 bài viết trái ngược. Tờ Nation thì tỏ ra vui mừng vì có đến 5 trường đại học của Thái lọt và top 100 châu Á của bảng xếp hạng QS. Tờ Bangkok Post thì lại than phiền về chất lượng kém của các trường đại học và cao đẳng của Thái.
Hàm ý của tác giả: các kết quả xếp hạng đại học liệu có tin được không? Hay nói cách khác, các bảng xếp hạng đại học thực ra đo lường cái gì, và tại sao lại thế?
Muốn biết câu trả lời ư, các bạn chịu khó đọc bản gốc nhé, vì nó cũng khá dễ đọc (đọc đi để mà còn tăng trình độ tiếng Anh chứ, các bạn nhỉ). Ở đây tôi chỉ đưa lên phần kết luận của tác giả, mà tôi cũng hoàn toàn chia sẻ, mà thôi. Xin đọc dưới đây:
For these globally-focused comprehensive universities possessing similar resources and orientation, uniform rankings are probably useful.
[…] However, very few universities in developing countries can ever afford to compete with the finances available to these super-elite universities, to avail of the world's who's-who of intellectual talent, and to pick and choose from what is considered as cutting-edge research.
But even if they could, should they even try? Probably not […]. Rather than trying to "keep up with the Joneses" and conforming to the prevailing mono-culture approach to higher education by funnelling scarce public funds to create flagship universities, governments would be advised to ignore the rankings altogether.
Better to focus on the entire education system from kindergarten to post-graduate levels, to produce sufficiently skilled citizens who can benefit from inclusive socio-economic growth.
Một lời khuyên rất có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển như Thái Lan, hoặc, đúng rồi, VN nữa, tại sao không. Hãy (tạm) quên việc đổ ngân quỹ quốc gia eo hẹp để tạo ra những trường có đẳng cấp (để mà có vị trí cao trong các bảng xếp hạng), và chú trọng vào toàn bộ hệ thống giáo dục – từ mầm non đến sau đại học – để tạo ra những công dân có đầy đủ kỹ năng để tham gia một cách tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Một lời khuyên dành cho chính phủ Thái Lan mà không hiểu sao cứ y như viết cho chính phủ VN vậy, thật thế. Đặc biệt là khi chính phủ VN đang quyết định về các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước hiện nay.
Hết sức mong mỏi các vị có trách nhiệm ghé mắt qua và đọc những dòng này.
Saturday, June 4, 2011
Hệ thống phân loại trường đại học của bảng xếp hạng QS
Trước đây tôi có viết một vài entry về kết quả xếp hạng đại học của QS, trong đó có nêu vị trí 13 trường trong số 26 trường của AUN có tên trong danh sách top 500 của thế giới và top 200 châu Á. Có thể đọc một trong những bài ấy ở đây.
Trong bài ấy, tôi có hứa sẽ tìm hiểu và viết về cách phân loại trường đại học để xếp hạng trong hệ thống của QS, nhưng đã lâu lâu rồi mà chưa làm. Sở dĩ cần phải hiểu hệ thống phân loại này là vì QS có đặt ra những yêu cầu khác nhau cho các loại trường khác nhau để cho điểm, và trên cơ sở điểm tổng cộng này mới có thể xếp hạng. Nói cách khác, một trường thuộc loại thiên về nghiên cứu thì sẽ phải có điểm nghiên cứu cao hơn là trường không thiên về nghiên cứu. Điều này đúng hay sai thì còn phải bàn cãi, tranh luận, nhưng những ai muốn tham gia xếp hạng thì nhất thiết phải hiểu điều này để có thể hình dung được mình phải phấn đấu ở những điểm nào để có thứ hạng cao.
Hôm nay có chút thời gian, tôi đã tìm và thấy bài viết giải thích hệ thống phân loại của QS, nên đưa lên đây để lưu và chia sẻ với mọi người.
Các bạn có thể đọc bài ấy ở đây.
Và dưới đây là vài dòng vắn tắt giới thiệu hệ thống xếp hạng của QS.
Hệ thống phân loại của QS dựa trên hệ thống phân loại của Canergie nhưng đã được đơn giản hóa, và sử dụng 3 yếu tố sau đây để phân loại:
1. Quy mô sinh viên, tính trên số sv quy đổi toàn thời gian.
2. Phạm vi ngành nghề, với 5 nhóm nghề là (1) Arts & Humanities (Nghệ thuật và Nhân văn); (2) Engineering & Technology (Công trình và Công nghệ); (3) Life Sciences & Medicine (Khoa học đời sống và Dược học); (4) Natural & Physical Sciences (Khoa học tự nhiên và Vật lý); (5) Social Sciences (Khoa học xã hội). Ngoài ra, còn có thêm loại thứ sáu, dựa trên việc một trường đại học có hoặc không có trường Y (medical school) hay không.
3. Hoạt động nghiên cứu, chia làm 4 mức độ dựa trên số bài báo đăng trên các tạp chí có mặt trong cơ sở dữ liệu Scopus trong vòng 5 năm trước khi thực hiện phân loại. Mức nền (thresholds), tức là mức thấp nhất, về hoạt động nghiên cứu của từng loại trường khác nhau (dựa trên 2 yếu tố phân loại 1 và 2) là khác nhau.
Dựa trên 3 yếu tố này, QS đưa ra hệ thống ký hiệu các trường đại học gồm 2 ký tự như sau:
1. Ký tự đầu tiên là chữ cái để chỉ quy mô sinh viên và số ngành đào tạo, gồm 12 ký hiệu từ A đến L, được chia làm 3 nhóm theo quy mô: Nhóm 1 là A-D, gồm những trường lớn có trên 12 ngàn sv; nhóm 2 là E-H, gồm những trường trung bình từ 5 đến 12 ngàn sv; nhóm 3 là I-L, gồm những trường nhỏ dưới 5 ngàn sv. Mỗi nhóm trên lại chia thành 4 loại theo số ngành. Ví dụ, nhóm 1 từ A đến D gồm 4 loại: A = 6 ngành, B = 5 ngành, C = 3, 4 ngành, và D = 1, 2 ngành. Và cũng vậy với các nhóm khác (vd: E = 6 ngành, F = 5 ngành vv).
2. Ký tự thứ hai là số để chỉ các mức độ hoạt động nghiên cứu của trường, gồm 4 mức độ 1, 2, 3, và 4, chỉ các mức độ nghiên cứu từ rất cao (mức độ 1) đến rất thấp hoặc không có nghiên cứu (mức độ 4).
Dưới đây là những ví dụ lấy từ trang web đã giới thiệu ở trên:
A1 = Large; Fully Comprehensive; Very High Research Activity (e.g. Harvard, Cambridge, NUS)
A2 = Large; Fully Comprehensive; High Research Activity (e.g. Auckland, University College Dublin)
G1 = Medium-sized; Focused; Very High Research Activity (e.g. Tokyo Institute of Technology)
H1 = Medium-sized; Specialist; Very High Research Activity (e.g. London School of Economics)
Như vậy, khi đọc kết quả xếp hạng hàng năm, ta cần chú ý xem loại trường nào thường chiếm những vị trí nào, để còn biết đường mà có kế hoạch phấn đấu, cải thiện.
Nhân tiện, kết quả xếp hạng 2011 đã được công bố. Tôi sẽ viết một entry khác về việc này sau. Ai sốt ruột muốn đọc thì vào địa chỉ dưới đây nhé:
http://iu.qs.com/2011/05/23/summary-of-the-2011-qs-asian-university-rankings/
Trong bài ấy, tôi có hứa sẽ tìm hiểu và viết về cách phân loại trường đại học để xếp hạng trong hệ thống của QS, nhưng đã lâu lâu rồi mà chưa làm. Sở dĩ cần phải hiểu hệ thống phân loại này là vì QS có đặt ra những yêu cầu khác nhau cho các loại trường khác nhau để cho điểm, và trên cơ sở điểm tổng cộng này mới có thể xếp hạng. Nói cách khác, một trường thuộc loại thiên về nghiên cứu thì sẽ phải có điểm nghiên cứu cao hơn là trường không thiên về nghiên cứu. Điều này đúng hay sai thì còn phải bàn cãi, tranh luận, nhưng những ai muốn tham gia xếp hạng thì nhất thiết phải hiểu điều này để có thể hình dung được mình phải phấn đấu ở những điểm nào để có thứ hạng cao.
Hôm nay có chút thời gian, tôi đã tìm và thấy bài viết giải thích hệ thống phân loại của QS, nên đưa lên đây để lưu và chia sẻ với mọi người.
Các bạn có thể đọc bài ấy ở đây.
Và dưới đây là vài dòng vắn tắt giới thiệu hệ thống xếp hạng của QS.
Hệ thống phân loại của QS dựa trên hệ thống phân loại của Canergie nhưng đã được đơn giản hóa, và sử dụng 3 yếu tố sau đây để phân loại:
1. Quy mô sinh viên, tính trên số sv quy đổi toàn thời gian.
2. Phạm vi ngành nghề, với 5 nhóm nghề là (1) Arts & Humanities (Nghệ thuật và Nhân văn); (2) Engineering & Technology (Công trình và Công nghệ); (3) Life Sciences & Medicine (Khoa học đời sống và Dược học); (4) Natural & Physical Sciences (Khoa học tự nhiên và Vật lý); (5) Social Sciences (Khoa học xã hội). Ngoài ra, còn có thêm loại thứ sáu, dựa trên việc một trường đại học có hoặc không có trường Y (medical school) hay không.
3. Hoạt động nghiên cứu, chia làm 4 mức độ dựa trên số bài báo đăng trên các tạp chí có mặt trong cơ sở dữ liệu Scopus trong vòng 5 năm trước khi thực hiện phân loại. Mức nền (thresholds), tức là mức thấp nhất, về hoạt động nghiên cứu của từng loại trường khác nhau (dựa trên 2 yếu tố phân loại 1 và 2) là khác nhau.
Dựa trên 3 yếu tố này, QS đưa ra hệ thống ký hiệu các trường đại học gồm 2 ký tự như sau:
1. Ký tự đầu tiên là chữ cái để chỉ quy mô sinh viên và số ngành đào tạo, gồm 12 ký hiệu từ A đến L, được chia làm 3 nhóm theo quy mô: Nhóm 1 là A-D, gồm những trường lớn có trên 12 ngàn sv; nhóm 2 là E-H, gồm những trường trung bình từ 5 đến 12 ngàn sv; nhóm 3 là I-L, gồm những trường nhỏ dưới 5 ngàn sv. Mỗi nhóm trên lại chia thành 4 loại theo số ngành. Ví dụ, nhóm 1 từ A đến D gồm 4 loại: A = 6 ngành, B = 5 ngành, C = 3, 4 ngành, và D = 1, 2 ngành. Và cũng vậy với các nhóm khác (vd: E = 6 ngành, F = 5 ngành vv).
2. Ký tự thứ hai là số để chỉ các mức độ hoạt động nghiên cứu của trường, gồm 4 mức độ 1, 2, 3, và 4, chỉ các mức độ nghiên cứu từ rất cao (mức độ 1) đến rất thấp hoặc không có nghiên cứu (mức độ 4).
Dưới đây là những ví dụ lấy từ trang web đã giới thiệu ở trên:
A1 = Large; Fully Comprehensive; Very High Research Activity (e.g. Harvard, Cambridge, NUS)
A2 = Large; Fully Comprehensive; High Research Activity (e.g. Auckland, University College Dublin)
G1 = Medium-sized; Focused; Very High Research Activity (e.g. Tokyo Institute of Technology)
H1 = Medium-sized; Specialist; Very High Research Activity (e.g. London School of Economics)
Như vậy, khi đọc kết quả xếp hạng hàng năm, ta cần chú ý xem loại trường nào thường chiếm những vị trí nào, để còn biết đường mà có kế hoạch phấn đấu, cải thiện.
Nhân tiện, kết quả xếp hạng 2011 đã được công bố. Tôi sẽ viết một entry khác về việc này sau. Ai sốt ruột muốn đọc thì vào địa chỉ dưới đây nhé:
http://iu.qs.com/2011/05/23/summary-of-the-2011-qs-asian-university-rankings/
Thursday, May 19, 2011
"So sánh các hệ thống xếp hạng quốc tế phổ biến"
Đó là tựa một bài viết của tôi trong khuôn khổ đề tài "Xếp hạng quốc tế, đối sánh và việc nâng cao chất lượng trường đại học: Khả năng áp dụng tại ĐHQG-HCM" mà tôi vừa nghiệm thu cách đây vài ngày, đạt loại tốt (57/60 điểm)! (Thì ... cũng khoe một chút vậy mà).
Do nội dung bài viết có liên quan đến những vấn đề mà độc giả phổ thông có thể quan tâm nên tôi đã gửi cho Tia Sáng, và đã được Tia Sáng chấp nhận và đăng lên trang mạng, ở đây. Tôi đưa lên đây để lưu cho mình, vì thường tôi rất kém trong việc lưu giữ các chi tiết về hoạt động của mình (làm cái gì, lúc nào, ở đâu), nên khi viết lý lịch khoa học thường rất vắn tắt chứ không chi chít, dày đặc như một số đồng nghiệp mà tôi biết - họ viết báo, kể cả những bài viết phổ thông về những vấn đề rất ... phổ thông, thậm chí không liên quan, hoặc phát biểu, phỏng vấn, tham gia hội nghị hội thảo lớn nhỏ trong nước ngoài nước đều đưa vào hết tất tần tật! Có người tôi thấy lý lịch khoa học (rất không khoa học) dài đến 30, 40 trang! Còn tôi, chỉ viết được chừng 2, 3 trang là hết cỡ. Ví dụ, đã hoàn tất đề tài tên ..., nghiệm thu ngày ..., đạt loại ..., thì đâu có được mấy giòng đâu!
Vài hàng lẩn thẩn. Quay trở lại bài viết, xin nói thêm thế này: Bài đăng trên Tia Sáng vốn viết theo dạng "khoa học phổ thông" dành cho đối tượng rộng rãi (theo mục tiêu của tờ báo) nên tôi đã rút lại ngắn gọn nhiều, nhưng tôi sẽ đăng dần những bài viết trong đề tài lên trên trang blog này để chia sẻ với mọi người, vì đề tài đã làm xong và nghiệm thu.
Hẹn gặp lại các bạn trong các entry khác. Tôi đang bận quá, chuẩn bị đi dự Hội thảo của tổ chức AIR tại Toronto, Canada (lần đầu tiên ở VN có người đi, tôi nghĩ thế), sẽ cập nhật thông tin thêm cho các bạn sau trên blog này nhé.
Do nội dung bài viết có liên quan đến những vấn đề mà độc giả phổ thông có thể quan tâm nên tôi đã gửi cho Tia Sáng, và đã được Tia Sáng chấp nhận và đăng lên trang mạng, ở đây. Tôi đưa lên đây để lưu cho mình, vì thường tôi rất kém trong việc lưu giữ các chi tiết về hoạt động của mình (làm cái gì, lúc nào, ở đâu), nên khi viết lý lịch khoa học thường rất vắn tắt chứ không chi chít, dày đặc như một số đồng nghiệp mà tôi biết - họ viết báo, kể cả những bài viết phổ thông về những vấn đề rất ... phổ thông, thậm chí không liên quan, hoặc phát biểu, phỏng vấn, tham gia hội nghị hội thảo lớn nhỏ trong nước ngoài nước đều đưa vào hết tất tần tật! Có người tôi thấy lý lịch khoa học (rất không khoa học) dài đến 30, 40 trang! Còn tôi, chỉ viết được chừng 2, 3 trang là hết cỡ. Ví dụ, đã hoàn tất đề tài tên ..., nghiệm thu ngày ..., đạt loại ..., thì đâu có được mấy giòng đâu!
Vài hàng lẩn thẩn. Quay trở lại bài viết, xin nói thêm thế này: Bài đăng trên Tia Sáng vốn viết theo dạng "khoa học phổ thông" dành cho đối tượng rộng rãi (theo mục tiêu của tờ báo) nên tôi đã rút lại ngắn gọn nhiều, nhưng tôi sẽ đăng dần những bài viết trong đề tài lên trên trang blog này để chia sẻ với mọi người, vì đề tài đã làm xong và nghiệm thu.
Hẹn gặp lại các bạn trong các entry khác. Tôi đang bận quá, chuẩn bị đi dự Hội thảo của tổ chức AIR tại Toronto, Canada (lần đầu tiên ở VN có người đi, tôi nghĩ thế), sẽ cập nhật thông tin thêm cho các bạn sau trên blog này nhé.
Saturday, March 5, 2011
"Tính tất yếu của các hệ thống xếp hạng đại học"
Entry này thực ra là một phần của bài viết "Thực trạng các bảng xếp hạng đại học" mà tôi đã đưa lên đây một phần cách đây ít lâu.
Bài viết ấy của tác giả nổi tiếng Philip Altbach, một bài khá dài, đã được dịch và đăng trên bản tin của Trung tâm Khảo thí. Ai muốn đọc cả bài hoặc lưu thì vào trang web của trung tâm và đăng ký/đăng nhập để download về lưu và đọc. Còn nếu không thì các bạn cứ chịu khó vào trang blog này đọc dần vậy nhé; đọc ngắn lại đỡ ngán hơn phải không?
-----
Tác giả: Philip Altbach
Vũ Kim Khôi dịch, Nguyễn Tấn Đại hiệu đính
Nếu hôm nay không tồn tại hệ thống xếp hạng nào thì cũng sẽ có ngày người ta tạo ra chúng. Đó là hệ quả tất yếu của quá trình đại chúng hóa giáo dục đại học, của sự cạnh tranh cũng như hiện tượng thương mại hóa trong giáo dục đại học toàn cầu. Khách hàng tiềm năng (sinh viên và gia đình) muốn biết cách xác định giữa hàng loạt nguồn cung cấp khác nhau những phương án lựa chọn phù hợp và thuận lợi nhất. Các hệ thống xếp hạng có thể giúp họ giải đáp phần nào những câu hỏi đó.
Không ngạc nhiên gì khi các hệ thống xếp hạng trở nên nổi tiếng trước tiên ở Hoa Kỳ - nơi đầu tiên trên thế giới tiến hành đại chúng hóa giáo dục đại học ngõ hầu mở ra một cách lựa chọn mới trong bối cảnh số lượng các trường đại học ngày càng gia tăng. Bản thân các trường cao đẳng và đại học lại muốn có được một phương pháp để đối sánh với các trường đồng cấp, và các hệ thống xếp hạng đã đưa ra một cách thức dễ dàng, dù rằng vẫn không hoàn hảo, để làm điều đó. Hệ thống có nhiều ảnh hưởng cũng như bị chỉ trích nhiều nhất là “Bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất Hoa Kỳ” của U.S. News & World Report, hoạt động cho đến nay đã được 17 năm. Bên cạnh đó còn có nhiều hệ thống xếp hạng khác, dựa trên những tiêu chí đánh giá rất khác nhau, từ các trường “đắt hàng nhất” cho đến các trường tổ chức tiệc tốt nhất, và cả các trường “nối mạng nhiều nhất”. Hầu hết các hệ thống xếp hạng như vậy có giá trị thấp nhưng dù vậy vẫn cứ được công chúng quan tâm ở những chừng mực nhật định.
Khi giáo dục đại học quốc tế hóa ngày càng nhiều thì không ngạc nhiên gì khi các bảng xếp hạng cũng trở thành hiện tượng toàn cầu. Có gần ba triệu sinh viên xuất ngoại học tập; nhiều người tìm kiếm những trường đại học tốt nhất có thể có ở nước ngoài và nhận ra sự hữu ích của các hệ thống xếp hạng. Giới học thuật tự thân họ cũng tham gia tiến trình toàn cầu hóa, rồi các trường tìm cách để đối sánh với đồng cấp của mình trên khắp thế giới, nhưng cũng thường là để cạnh tranh thu hút sinh viên và giảng viên. Với mọi vấn đề nan giải của mình, giới học thuật toàn cầu đã tìm thấy ở xếp hạng đại học một hướng đi ít nhiều triển vọng. Chỉ cần riêng với lý do này, chúng ta đã phải lưu tâm tìm hiểu các hệ thống xếp hạng một cách nghiêm túc.
---
Bài viết còn dài, nhưng sẽ đăng dần lên để các bạn dễ đọc nhé. Enjoy!
Bài viết ấy của tác giả nổi tiếng Philip Altbach, một bài khá dài, đã được dịch và đăng trên bản tin của Trung tâm Khảo thí. Ai muốn đọc cả bài hoặc lưu thì vào trang web của trung tâm và đăng ký/đăng nhập để download về lưu và đọc. Còn nếu không thì các bạn cứ chịu khó vào trang blog này đọc dần vậy nhé; đọc ngắn lại đỡ ngán hơn phải không?
-----
Tác giả: Philip Altbach
Vũ Kim Khôi dịch, Nguyễn Tấn Đại hiệu đính
Nếu hôm nay không tồn tại hệ thống xếp hạng nào thì cũng sẽ có ngày người ta tạo ra chúng. Đó là hệ quả tất yếu của quá trình đại chúng hóa giáo dục đại học, của sự cạnh tranh cũng như hiện tượng thương mại hóa trong giáo dục đại học toàn cầu. Khách hàng tiềm năng (sinh viên và gia đình) muốn biết cách xác định giữa hàng loạt nguồn cung cấp khác nhau những phương án lựa chọn phù hợp và thuận lợi nhất. Các hệ thống xếp hạng có thể giúp họ giải đáp phần nào những câu hỏi đó.
Không ngạc nhiên gì khi các hệ thống xếp hạng trở nên nổi tiếng trước tiên ở Hoa Kỳ - nơi đầu tiên trên thế giới tiến hành đại chúng hóa giáo dục đại học ngõ hầu mở ra một cách lựa chọn mới trong bối cảnh số lượng các trường đại học ngày càng gia tăng. Bản thân các trường cao đẳng và đại học lại muốn có được một phương pháp để đối sánh với các trường đồng cấp, và các hệ thống xếp hạng đã đưa ra một cách thức dễ dàng, dù rằng vẫn không hoàn hảo, để làm điều đó. Hệ thống có nhiều ảnh hưởng cũng như bị chỉ trích nhiều nhất là “Bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất Hoa Kỳ” của U.S. News & World Report, hoạt động cho đến nay đã được 17 năm. Bên cạnh đó còn có nhiều hệ thống xếp hạng khác, dựa trên những tiêu chí đánh giá rất khác nhau, từ các trường “đắt hàng nhất” cho đến các trường tổ chức tiệc tốt nhất, và cả các trường “nối mạng nhiều nhất”. Hầu hết các hệ thống xếp hạng như vậy có giá trị thấp nhưng dù vậy vẫn cứ được công chúng quan tâm ở những chừng mực nhật định.
Khi giáo dục đại học quốc tế hóa ngày càng nhiều thì không ngạc nhiên gì khi các bảng xếp hạng cũng trở thành hiện tượng toàn cầu. Có gần ba triệu sinh viên xuất ngoại học tập; nhiều người tìm kiếm những trường đại học tốt nhất có thể có ở nước ngoài và nhận ra sự hữu ích của các hệ thống xếp hạng. Giới học thuật tự thân họ cũng tham gia tiến trình toàn cầu hóa, rồi các trường tìm cách để đối sánh với đồng cấp của mình trên khắp thế giới, nhưng cũng thường là để cạnh tranh thu hút sinh viên và giảng viên. Với mọi vấn đề nan giải của mình, giới học thuật toàn cầu đã tìm thấy ở xếp hạng đại học một hướng đi ít nhiều triển vọng. Chỉ cần riêng với lý do này, chúng ta đã phải lưu tâm tìm hiểu các hệ thống xếp hạng một cách nghiêm túc.
---
Bài viết còn dài, nhưng sẽ đăng dần lên để các bạn dễ đọc nhé. Enjoy!
Monday, February 28, 2011
"Thực trạng các bảng xếp hạng đại học"
Tựa entry này là bản dịch tiếng Việt tựa bài bài viết "The state of the rankings" của Philip Altbach đã đăng trên trang Inside Higher Education từ tháng 11/2010. Có thể tìm thấy bài ấy ở đây.
Một bài rất đáng đọc, đặc biệt là đối với những ai đang quan tâm đến việc xếp hạng đại học. Vì nó rất nhiều thông tin bổ ích, hướng dẫn cho người sử dụng biết giá trị thật của các kết quả xếp hạng. Chẳng hạn, nếu một trường đạt thứ hạng 45 ở bảng xếp hạng này, nhưng lại có thứ hạng 97 ở một bảng khác, thì sẽ hiểu như thế nào đây? Well, hãy đọc bài tôi đang giới thiệu của Altbach. Chỉ có điều ... nó được viết bằng tiếng Anh, nên có thể gây khó khăn cho một số người, và cần phải nhờ người dịch.
Thực ra thì tôi cũng đang có bản dịch trong tay, nhưng đó là được dịch để đăng trên bản tin của Trung tâm nơi tôi làm việc. Nên chưa thể đăng lên đây được, vì phải đợi bản tin được phát hành đã.
Thôi thì giới thiệu trước ở đây một số đoạn, rồi sẽ giới thiệu cả bài sau khi đã đăng trên bản tin của Trung tâm. Các bạn đọc bên dưới nhé.
----------
Bình luận các hệ thống xếp hạng năm 2010
Có lẽ sẽ hữu ích khi phân tích tóm lược các hệ thống xếp hạng chính nhằm để hiểu được những điểm mạnh, và quan trọng hơn là những điểm yếu của từng hệ thống. Dù cuộc tranh luận về vấn đề này vẫn chưa dừng lại, cũng như không dựa trên cơ sở phân tích toàn diện các hệ thống xếp hạng, ở đây chúng ta vẫn có thể thấy được vài lý do để nhìn nhận lại các hệ thống xếp hạng một cách nghiêm túc hơn.
“Bảng xếp hạng các trường đại học thế giới” của QS là hệ thống có nhiều vấn đề nhất. Trong giai đoạn 2004-2009, bảng xếp hạng này được công bố thông qua liên minh với tạp chí Times Higher Education. Sau khi liên minh này kết thúc, tạp chí Times Higher Education bắt đầu công bố hệ thống xếp hạng riêng của mình. Ngay từ đầu, QS đã dựa vào các chỉ số danh tiếng để thực hiện phần lớn công đoạn phân tích. Hầu hết các chuyên gia đều chỉ trích gay gắt độ tin cậy của việc chỉ đơn giản tham khảo ý kiến của một nhóm các nhà giáo dục và những người có liên quan đến lĩnh vực học thuật được lựa chọn không ngẫu nhiên. Ngoài ra, QS còn hỏi ý kiến của chủ lao động, làm gia tăng tính biến thiên cũng như độ thiếu tin cậy của bộ kết quả. Một số người cho rằng danh tiếng không nên có vai trò gì trong xếp hạng, trong nhiều người khác thì nghĩ rằng nó vẫn có vai trò nhưng chỉ ở mức thấp. Bốn mươi phần trăm bảng xếp hạng QS dựa vào kết quả khảo sát danh tiếng. Có lẽ đây chính là nguyên nhân gây ra độ biến thiên rất lớn trong bảng xếp hạng của QS suốt nhiều năm liền. Kết quả xếp hạng của QS có nên được cộng đồng giáo dục đại học coi trọng hay không, đó là một vấn đề đáng suy xét.
“Bảng xếp hạng học thuật các trường đại học thế giới” (ARWU), thường được biết đến dưới tên Bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, hiện nay do Cơ quan Tư vấn Xếp hạng Thượng Hải (Shanghai Rankings Consultancy) quản lý. Là một trong những hệ thống xếp hạng lâu năm nhất, bắt đầu từ 2003, có cả hai đặc tính nhất quán và minh bạch. Hệ thống này chỉ đo lường năng suất nghiên cứu nghiên cứu khoa học, với phương pháp được mô tả rõ ràng và áp dụng thống nhất theo thời gian. ARWU sử dụng sáu tiêu chí, bao gồm số bài báo được đăng trên hai tạp chí Science và Nature, số nhà nghiên cứu được trích dẫn nhiều thông qua dữ liệu của Thomson Scientific, số cựu sinh viên và cán bộ giảng viên đạt được các giải thưởng Nobel và Fields, số lượt trích dẫn theo các chỉ mục Trích dẫn Khoa học (SCI) và Khoa học Xã hội (SSCI), và một số tiêu chí khác. ARWU chọn ra 1.000 trường đại học trên toàn thế giới để phân tích. Việc phân tích không phụ thuộc vào bất cứ thông tin nào do chính các trường cung cấp. Một số tiêu chí của ARWU ưu ái những trường đại học phương Tây lâu đời và có danh tiếng – đặc biệt là những trường đã sản sinh ra hoặc thu hút được những người đoạt giải thưởng Nobel. Các trường đại học có khuynh hướng trả lương cao và có những phòng thí nghiệm hay thư viện xuất sắc. Các chỉ mục khác nhau được sử dụng trong xếp hạng cũng dựa chủ yếu vào các tạp chí xuất bản theo cơ chế bình duyệt (peer-reviewed journal) hàng đầu bằng tiếng Anh, do đó lại tạo thêm lợi thế cho các trường đại học có nhà xuất bản hoặc chuyên gia bình duyệt nổi tiếng. Tuy vậy, tính nhất quán, mục đích rõ ràng cũng như sự minh bạch chính là những lợi thế đáng kể của ARWU.
“Bảng xếp hạng đại học thế giới” của tạp chí Times Higher Education, vừa xuất hiện vào tháng 09 năm nay, là hệ thống xếp hạng mới nhất và có nỗ lực mang tham vọng cao nhất, xét trên nhiều phương diện, trong việc rút tỉa kinh nghiệm từ các bảng xếp hạng trước đó nhằm mở ra một triển vọng toàn diện nhiều mặt. Times Higher Education xứng đáng có được điểm A cho nỗ lực của mình, khi cố gắng tích hợp các chức năng chính của một trường đại học, đó là: nghiên cứu, giảng dạy, kết nối với doanh nghiệp và quốc tế hóa. Bảng xếp hạng đã gộp cả kết quả khảo sát danh tiếng vào các thông số liên quan đến nghiên cứu, và kết hợp tất cả với việc phân tích thông tin trích dẫn, số bài báo công bố, số văn bằng cấp phát, cùng với nhiều thông số khác. Điều đáng thất vọng song cũng không đáng ngạc nhiên, đó là phương pháp của Times Higher Education vẫn tồn tại nhiều vấn đề. Một số nhà phê bình đã đặt nhiều câu hỏi về phương pháp tính số lượng bài báo được công bố và số lượt trích dẫn.
Có một số điểm không nhất quán, như nhiều trường đại học Mỹ không phải là một cơ sở riêng lẻ mà là một hệ thống nhiều cơ sở gộp lại cùng nhau (ví dụ Đại học Massachusetts, Đại học Indiana, Đại học Delaware, Đại học Bang Kent, v.v.). Điều đó đã làm tăng thứ hạng của các hệ thống đại học trên một cách không công bằng. Ví dụ như, nếu Đại học California được tính là một hệ thống thay vì từng trường riêng lẻ, thì có lẽ nó đã được xếp hạng nhất toàn thế giới. Rồi một số thứ hạng rõ ràng là không chính xác. Tại sao Đại học Bilkent tại Thổ Nhĩ Kỳ và Đại học Baptist Hong Kong lại được xếp trên Đại học Bang Michigan, Đại học Stockholm hoặc Đại học Leiden tại Hà Lan? Tại sao Đại học Alexandria lại được xếp vào nhóm 200 trường đại học hàng đầu? Những điều bất thường trên cùng với nhiều vấn đề khác nữa chỉ đơn giản là khó có thể được chấp nhận một cách chính thức. Hãy hy vọng rằng những vấn đề đó, và thậm chí là nhiều thứ khác nữa, có thể được giải quyết.
[...]
Chúng ta đang ở đâu?
Trong thế giới xếp hạng cũng như ở mọi nơi khác, nguyên tắc chính là “khách hàng tự chịu trách nhiệm về các rủi ro” (caveat emptor) – theo đó người dùng cần phải nhận thức rõ cách sử dụng cũng như những vấn đề tồn tại của các bảng xếp hạng. Tuy nhiên thực tế lại thường không phải như vậy. Những con số cụ thể – như trường được xếp hạng nhất hay hạng 199 – thường lại có tính thuyết phục cao hơn đối với người dùng. Đây hiển nhiên là một sai lầm. Sai lầm không chỉ vì giới hạn của bản thân các hệ thống xếp hạng mà còn bởi vì chúng chỉ đo lường được một phần nhỏ trong giáo dục đại học. Chính phủ nên công bằng hơn, bằng cách quan tâm đến việc một trường đại học thích ứng như thế nào trong toàn hệ thống giáo dục đại học giống như là quan tâm đến thứ hạng của trường đó dựa trên kết quả nghiên cứu. Sinh viên nên quan tâm đến sự tương thích giữa những lợi ích và khả năng của cá nhân mình với danh tiếng của trường đại. Vậy mà có rất ít người biết lưu tâm đến những sai sót tự thân của các bảng xếp hạng.
Chống đối các hệ thống xếp hạng sẽ không làm cho chúng biến mất đi; bởi cạnh tranh, nhu cầu đối sánh và đương nhiên logic tất yếu của quá trình toàn cầu hóa sẽ giúp cho chúng trở thành một trào lưu lâu dài trong toàn cảnh nền giáo dục đại học của thế kỷ 21. Thách thức đặt ra là làm sao để hiểu rõ được những điểm mơ hồ và cách sử dụng cũng như là tình trạng lạm dụng các hệ thống xếp hạng./.
Vũ Kim Khôi dịch, Nguyễn Tấn Đại hiệu đính
Một bài rất đáng đọc, đặc biệt là đối với những ai đang quan tâm đến việc xếp hạng đại học. Vì nó rất nhiều thông tin bổ ích, hướng dẫn cho người sử dụng biết giá trị thật của các kết quả xếp hạng. Chẳng hạn, nếu một trường đạt thứ hạng 45 ở bảng xếp hạng này, nhưng lại có thứ hạng 97 ở một bảng khác, thì sẽ hiểu như thế nào đây? Well, hãy đọc bài tôi đang giới thiệu của Altbach. Chỉ có điều ... nó được viết bằng tiếng Anh, nên có thể gây khó khăn cho một số người, và cần phải nhờ người dịch.
Thực ra thì tôi cũng đang có bản dịch trong tay, nhưng đó là được dịch để đăng trên bản tin của Trung tâm nơi tôi làm việc. Nên chưa thể đăng lên đây được, vì phải đợi bản tin được phát hành đã.
Thôi thì giới thiệu trước ở đây một số đoạn, rồi sẽ giới thiệu cả bài sau khi đã đăng trên bản tin của Trung tâm. Các bạn đọc bên dưới nhé.
----------
Bình luận các hệ thống xếp hạng năm 2010
Có lẽ sẽ hữu ích khi phân tích tóm lược các hệ thống xếp hạng chính nhằm để hiểu được những điểm mạnh, và quan trọng hơn là những điểm yếu của từng hệ thống. Dù cuộc tranh luận về vấn đề này vẫn chưa dừng lại, cũng như không dựa trên cơ sở phân tích toàn diện các hệ thống xếp hạng, ở đây chúng ta vẫn có thể thấy được vài lý do để nhìn nhận lại các hệ thống xếp hạng một cách nghiêm túc hơn.
“Bảng xếp hạng các trường đại học thế giới” của QS là hệ thống có nhiều vấn đề nhất. Trong giai đoạn 2004-2009, bảng xếp hạng này được công bố thông qua liên minh với tạp chí Times Higher Education. Sau khi liên minh này kết thúc, tạp chí Times Higher Education bắt đầu công bố hệ thống xếp hạng riêng của mình. Ngay từ đầu, QS đã dựa vào các chỉ số danh tiếng để thực hiện phần lớn công đoạn phân tích. Hầu hết các chuyên gia đều chỉ trích gay gắt độ tin cậy của việc chỉ đơn giản tham khảo ý kiến của một nhóm các nhà giáo dục và những người có liên quan đến lĩnh vực học thuật được lựa chọn không ngẫu nhiên. Ngoài ra, QS còn hỏi ý kiến của chủ lao động, làm gia tăng tính biến thiên cũng như độ thiếu tin cậy của bộ kết quả. Một số người cho rằng danh tiếng không nên có vai trò gì trong xếp hạng, trong nhiều người khác thì nghĩ rằng nó vẫn có vai trò nhưng chỉ ở mức thấp. Bốn mươi phần trăm bảng xếp hạng QS dựa vào kết quả khảo sát danh tiếng. Có lẽ đây chính là nguyên nhân gây ra độ biến thiên rất lớn trong bảng xếp hạng của QS suốt nhiều năm liền. Kết quả xếp hạng của QS có nên được cộng đồng giáo dục đại học coi trọng hay không, đó là một vấn đề đáng suy xét.
“Bảng xếp hạng học thuật các trường đại học thế giới” (ARWU), thường được biết đến dưới tên Bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, hiện nay do Cơ quan Tư vấn Xếp hạng Thượng Hải (Shanghai Rankings Consultancy) quản lý. Là một trong những hệ thống xếp hạng lâu năm nhất, bắt đầu từ 2003, có cả hai đặc tính nhất quán và minh bạch. Hệ thống này chỉ đo lường năng suất nghiên cứu nghiên cứu khoa học, với phương pháp được mô tả rõ ràng và áp dụng thống nhất theo thời gian. ARWU sử dụng sáu tiêu chí, bao gồm số bài báo được đăng trên hai tạp chí Science và Nature, số nhà nghiên cứu được trích dẫn nhiều thông qua dữ liệu của Thomson Scientific, số cựu sinh viên và cán bộ giảng viên đạt được các giải thưởng Nobel và Fields, số lượt trích dẫn theo các chỉ mục Trích dẫn Khoa học (SCI) và Khoa học Xã hội (SSCI), và một số tiêu chí khác. ARWU chọn ra 1.000 trường đại học trên toàn thế giới để phân tích. Việc phân tích không phụ thuộc vào bất cứ thông tin nào do chính các trường cung cấp. Một số tiêu chí của ARWU ưu ái những trường đại học phương Tây lâu đời và có danh tiếng – đặc biệt là những trường đã sản sinh ra hoặc thu hút được những người đoạt giải thưởng Nobel. Các trường đại học có khuynh hướng trả lương cao và có những phòng thí nghiệm hay thư viện xuất sắc. Các chỉ mục khác nhau được sử dụng trong xếp hạng cũng dựa chủ yếu vào các tạp chí xuất bản theo cơ chế bình duyệt (peer-reviewed journal) hàng đầu bằng tiếng Anh, do đó lại tạo thêm lợi thế cho các trường đại học có nhà xuất bản hoặc chuyên gia bình duyệt nổi tiếng. Tuy vậy, tính nhất quán, mục đích rõ ràng cũng như sự minh bạch chính là những lợi thế đáng kể của ARWU.
“Bảng xếp hạng đại học thế giới” của tạp chí Times Higher Education, vừa xuất hiện vào tháng 09 năm nay, là hệ thống xếp hạng mới nhất và có nỗ lực mang tham vọng cao nhất, xét trên nhiều phương diện, trong việc rút tỉa kinh nghiệm từ các bảng xếp hạng trước đó nhằm mở ra một triển vọng toàn diện nhiều mặt. Times Higher Education xứng đáng có được điểm A cho nỗ lực của mình, khi cố gắng tích hợp các chức năng chính của một trường đại học, đó là: nghiên cứu, giảng dạy, kết nối với doanh nghiệp và quốc tế hóa. Bảng xếp hạng đã gộp cả kết quả khảo sát danh tiếng vào các thông số liên quan đến nghiên cứu, và kết hợp tất cả với việc phân tích thông tin trích dẫn, số bài báo công bố, số văn bằng cấp phát, cùng với nhiều thông số khác. Điều đáng thất vọng song cũng không đáng ngạc nhiên, đó là phương pháp của Times Higher Education vẫn tồn tại nhiều vấn đề. Một số nhà phê bình đã đặt nhiều câu hỏi về phương pháp tính số lượng bài báo được công bố và số lượt trích dẫn.
Có một số điểm không nhất quán, như nhiều trường đại học Mỹ không phải là một cơ sở riêng lẻ mà là một hệ thống nhiều cơ sở gộp lại cùng nhau (ví dụ Đại học Massachusetts, Đại học Indiana, Đại học Delaware, Đại học Bang Kent, v.v.). Điều đó đã làm tăng thứ hạng của các hệ thống đại học trên một cách không công bằng. Ví dụ như, nếu Đại học California được tính là một hệ thống thay vì từng trường riêng lẻ, thì có lẽ nó đã được xếp hạng nhất toàn thế giới. Rồi một số thứ hạng rõ ràng là không chính xác. Tại sao Đại học Bilkent tại Thổ Nhĩ Kỳ và Đại học Baptist Hong Kong lại được xếp trên Đại học Bang Michigan, Đại học Stockholm hoặc Đại học Leiden tại Hà Lan? Tại sao Đại học Alexandria lại được xếp vào nhóm 200 trường đại học hàng đầu? Những điều bất thường trên cùng với nhiều vấn đề khác nữa chỉ đơn giản là khó có thể được chấp nhận một cách chính thức. Hãy hy vọng rằng những vấn đề đó, và thậm chí là nhiều thứ khác nữa, có thể được giải quyết.
[...]
Chúng ta đang ở đâu?
Trong thế giới xếp hạng cũng như ở mọi nơi khác, nguyên tắc chính là “khách hàng tự chịu trách nhiệm về các rủi ro” (caveat emptor) – theo đó người dùng cần phải nhận thức rõ cách sử dụng cũng như những vấn đề tồn tại của các bảng xếp hạng. Tuy nhiên thực tế lại thường không phải như vậy. Những con số cụ thể – như trường được xếp hạng nhất hay hạng 199 – thường lại có tính thuyết phục cao hơn đối với người dùng. Đây hiển nhiên là một sai lầm. Sai lầm không chỉ vì giới hạn của bản thân các hệ thống xếp hạng mà còn bởi vì chúng chỉ đo lường được một phần nhỏ trong giáo dục đại học. Chính phủ nên công bằng hơn, bằng cách quan tâm đến việc một trường đại học thích ứng như thế nào trong toàn hệ thống giáo dục đại học giống như là quan tâm đến thứ hạng của trường đó dựa trên kết quả nghiên cứu. Sinh viên nên quan tâm đến sự tương thích giữa những lợi ích và khả năng của cá nhân mình với danh tiếng của trường đại. Vậy mà có rất ít người biết lưu tâm đến những sai sót tự thân của các bảng xếp hạng.
Chống đối các hệ thống xếp hạng sẽ không làm cho chúng biến mất đi; bởi cạnh tranh, nhu cầu đối sánh và đương nhiên logic tất yếu của quá trình toàn cầu hóa sẽ giúp cho chúng trở thành một trào lưu lâu dài trong toàn cảnh nền giáo dục đại học của thế kỷ 21. Thách thức đặt ra là làm sao để hiểu rõ được những điểm mơ hồ và cách sử dụng cũng như là tình trạng lạm dụng các hệ thống xếp hạng./.
Vũ Kim Khôi dịch, Nguyễn Tấn Đại hiệu đính
Tuesday, February 15, 2011
Các trường đại học AUN trong top 200 đại học châu Á
Trước hết, xin nói qua về AUN. Đó là tên gọi của Hiệp hội đại học thuộc các nước Đông Nam Á, tên tiếng Anh là ASEAN University Network, thành lập năm 1995, hiện có 26 thành viên chính thức, trong đó có 2 thành viên Việt Nam là 2 ĐHQG Hà Nội và TP HCM. Tất cả các thành viên này đều được xem là đại diện tốt nhất cho chất lượng giáo dục đại học của nước mình, vì AUN chỉ kết nạp một vài trường thuộc loại tốt nhất trong nền giáo dục của một nước mà thôi, và không có ý định nhanh chóng mở rộng số lượng hội viên (để giữ thương hiệu mà lại).
Tuy nhiên, mặc dù là thành viên của cùng một hiệp hội với mục đích chung là nâng cao chất lượng giáo dục đại học của khu vực ASEAN, nhưng chất lượng của 26 trường này có nhiều chênh lệch, phản ánh sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia này. Nói ra thì buồn, nhưng ngay trong 10 quốc gia ĐNÁ, vốn là khu vực cũng chẳng có tiếng tăm lừng lẫy gì cho lắm, thì Việt Nam vẫn thuộc nhóm yếu hơn, đó là nhóm CLMV tức Campuchea - Lào - Myanmar - Việt Nam.
Như tôi đã viết trong một bài trước đây trên blog này, trong 26 trường của AUN thì chỉ có 13 trường có mặt trong bảng xếp hạng quốc tế của QS mà thôi. Có thể đọc bài ấy ở đây.
Bài viết này của tôi là nhằm xem xét danh sách các trường AUN có mặt trong top 200 châu Á và so sánh các đặc điểm của chúng với Việt Nam để đoán xem bao giờ mình mới có hy vọng có mặt được một vài trường trong danh sách này, gọi là "cho có với người ta", cho "thỏa lòng mong ước" của cả nước từ mấy năm qua, vậy mà.
Các bạn đọc bên dưới và cho ý kiến nhé!
-----
Như đã nói, trong 26 trường của AUN, chỉ có 13 trường lọt vào danh sách các trường hàng đầu thế giới của QS. Vậy 13 trường đó là trường nào nhỉ?
Có ngay, danh sách dưới đây:
1/ 31 (30) National University of Singapore (NUS) Singapore
2/ 74 (73) Nanyang Technological University (NTU) Singapore
3/ 180 (138) Chulalongkorn University Thailand
4/ 207 (180) Universiti Malaya (UM) Malaysia
5/ 228 (220) Mahidol University Thailand
6/ 236 (201) University of Indonesia Indonesia
7/ 263 (291) Universiti Kebangsaan Malaysia(UKM) Malaysia
8/ 307 (234) Ateneo de Manila University Philippines
9/ 309 (314) Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia
10/ 314 (262) University of the Philippines Philippines
11/ 321 (250) Universitas Gadjah Mada Indonesia
12/ 401-450 (351) Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia
13/ 401-500 (401-500) De La Salle University Philippines
Thế còn danh sách các trường đại học châu Á thì thế nào? À, danh sách cũng gần tương tự, trừ những trường chỉ tham gia xếp hạng thế giới chứ không tham gia xếp hạng châu Á như NUS của Singapore. Nói thêm, tổng cộng có 25 trường đại học của ĐNÁ trong danh sách 200 trường hàng đầu châu Á, tức ĐNÁ chiếm tỷ lệ 1/8 (không quá tệ, phải không? Nên nhớ là trong danh sách này có những đại gia giáo dục cỡ bự của châu Á là Nhật, Hàn, Hongkong, rồi cả Đài Loan, Israel, Trung Quốc,vv nữa!).
Danh sách 25 trường ĐNA trong danh sách top 200 châu Á được nêu dưới đây, trong đó các trường thuộc AUN được in đậm, và chiếm gần 1/2 danh sách. (Thực ra, nếu thêm NUS vào danh sách này thì sẽ được 26 trường, trong đó NUS đứng đầu, và như thế số trường thành viên của AUN sẽ chiếm đúng 1/2 danh sách tức 13/26). Thông tin lấy trên trang web của QS, ở đây.
(1) 18 Nanyang Technological University (NTU) Singapore B2a 87.70
(2) 28 Mahidol University Thailand B1b 80.20
(3) 42 Universiti Malaya (UM) Malaysia B1b 73.80
(4) 44 Chulalongkorn University Thailand A1b 73.30
(5) 50 University of Indonesia Indonesia A1d 68.59
(6) 58= Ateneo de Manila University Philippines C1d 65.40
(7) 58= Universiti Kebangsaan Malaysia (UKM) Malaysia B1b 65.40
(8) 69 Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia B1b 64.20
(9) 77 Universiti Putra Malaysia (UPM) Malaysia B1b 61.60
(10) 78 University of the Philippines Philippines A1c 61.40
(11) 79 Chiang Mai University Thailand A1b 61.20
(12) 82 Universiti Teknologi Malaysia (UTM) Malaysia B2b 59.80
(13) 85 Universitas Gadjah Mada Indonesia A1d 58.50
(14) 91 Thammasat University Thailand A1c 57.20
(15) 101= University of Santo Tomas Philippines A1d 54.40
(16) 101= Prince of Songkla University Thailand A1c 54.40
(17) 106 De La Salle University Philippines C2c 53.30
(18) 109= Airlangga University Indonesia B1d 52.50
(19) 113= Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia B2c 52.20
(20) 119 Bogor Agricultural University Indonesia B2c 49.90
(21) 122 Khon Kaen University Thailand A1c 49.00
(22) 126 Kasetsart University Thailand A2b 47.50
(23) 151= International Islamic University Malaysia (IIUM) Malaysia B1c
(24) 161= Padjadjaran University Indonesia A3d
(25) 161= Diponegoro University Indonesia A1d
----
Bài này tôi đang viết dở thì có chuyện gia đình, nên phải dừng lại. Nay viết vội để kết thúc cho khỏi quên ý tưởng, nên ai đọc vào sẽ thấy hơi khó chịu vì cảm giác ... dở dang của nó. Thôi thì các bạn chịu khó vậy, khi nào rảnh tôi sẽ viết bù, chứ sao giờ?
Đặc điểm của các trường này ra sao? Chúng ta hãy xem xét các số liệu trong danh sách theo các chủ đề sau:
1. Phân loại trường: Tất cả các trường trong danh sách đều thuộc loại A hoặc B, chỉ có hai (2) trường loại C (số 6 và số 17).
Nhưng trường loại A, B, hay C thì có nghĩa là gì nhỉ? À, cái này thì phải tìm hiểu trên trang web của QS. Sẽ viết trong một entry khác cho đầy đủ, nhưng phải chờ có thời gian đọc kỹ đã.
2. Các trường thành viên của AUN trong danh sách này chiếm một loạt các vị trí đầu tiên (8 hạng đầu của danh sách 25 trường). Điều này có nói lên cái gì không nhỉ? Sẽ phải trả lời trong một entry khác, như trên.
3. Singapore, Thái Lan, và Mã Lai đứng đầu danh sách. Riêng Singapore thì khỏi phải nói rồi, thậm chí NUS còn không thèm xếp hạng châu Á mà chỉ xếp hạng quốc tế thôi kia. Còn Thái Lan và Mã Lai thì thật đáng nể với những trường hàng đầu là UM (Mã) Chulalongkorn và Mahidol (Thái), và nhiều trường khác nữa.
Một vài nước khác của ĐNÁ có trong danh sách này là Philippines và Indo. 5 nước khác hoàn toàn vắng bóng, trong đó có Việt Nam (và tất nhiên, Lào, Campuchia, Myanmar, và cả Brunei nữa, nhưng nước này rất nhỏ và hình như chỉ có 1 trường đại học thì phải).
Những điều trên cần phải được diễn giải ra sao nhỉ? Đấy sẽ là một entry khác. Xin hẹn gặp lại!
Tuy nhiên, mặc dù là thành viên của cùng một hiệp hội với mục đích chung là nâng cao chất lượng giáo dục đại học của khu vực ASEAN, nhưng chất lượng của 26 trường này có nhiều chênh lệch, phản ánh sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia này. Nói ra thì buồn, nhưng ngay trong 10 quốc gia ĐNÁ, vốn là khu vực cũng chẳng có tiếng tăm lừng lẫy gì cho lắm, thì Việt Nam vẫn thuộc nhóm yếu hơn, đó là nhóm CLMV tức Campuchea - Lào - Myanmar - Việt Nam.
Như tôi đã viết trong một bài trước đây trên blog này, trong 26 trường của AUN thì chỉ có 13 trường có mặt trong bảng xếp hạng quốc tế của QS mà thôi. Có thể đọc bài ấy ở đây.
Bài viết này của tôi là nhằm xem xét danh sách các trường AUN có mặt trong top 200 châu Á và so sánh các đặc điểm của chúng với Việt Nam để đoán xem bao giờ mình mới có hy vọng có mặt được một vài trường trong danh sách này, gọi là "cho có với người ta", cho "thỏa lòng mong ước" của cả nước từ mấy năm qua, vậy mà.
Các bạn đọc bên dưới và cho ý kiến nhé!
-----
Như đã nói, trong 26 trường của AUN, chỉ có 13 trường lọt vào danh sách các trường hàng đầu thế giới của QS. Vậy 13 trường đó là trường nào nhỉ?
Có ngay, danh sách dưới đây:
1/ 31 (30) National University of Singapore (NUS) Singapore
2/ 74 (73) Nanyang Technological University (NTU) Singapore
3/ 180 (138) Chulalongkorn University Thailand
4/ 207 (180) Universiti Malaya (UM) Malaysia
5/ 228 (220) Mahidol University Thailand
6/ 236 (201) University of Indonesia Indonesia
7/ 263 (291) Universiti Kebangsaan Malaysia(UKM) Malaysia
8/ 307 (234) Ateneo de Manila University Philippines
9/ 309 (314) Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia
10/ 314 (262) University of the Philippines Philippines
11/ 321 (250) Universitas Gadjah Mada Indonesia
12/ 401-450 (351) Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia
13/ 401-500 (401-500) De La Salle University Philippines
Thế còn danh sách các trường đại học châu Á thì thế nào? À, danh sách cũng gần tương tự, trừ những trường chỉ tham gia xếp hạng thế giới chứ không tham gia xếp hạng châu Á như NUS của Singapore. Nói thêm, tổng cộng có 25 trường đại học của ĐNÁ trong danh sách 200 trường hàng đầu châu Á, tức ĐNÁ chiếm tỷ lệ 1/8 (không quá tệ, phải không? Nên nhớ là trong danh sách này có những đại gia giáo dục cỡ bự của châu Á là Nhật, Hàn, Hongkong, rồi cả Đài Loan, Israel, Trung Quốc,vv nữa!).
Danh sách 25 trường ĐNA trong danh sách top 200 châu Á được nêu dưới đây, trong đó các trường thuộc AUN được in đậm, và chiếm gần 1/2 danh sách. (Thực ra, nếu thêm NUS vào danh sách này thì sẽ được 26 trường, trong đó NUS đứng đầu, và như thế số trường thành viên của AUN sẽ chiếm đúng 1/2 danh sách tức 13/26). Thông tin lấy trên trang web của QS, ở đây.
(1) 18 Nanyang Technological University (NTU) Singapore B2a 87.70
(2) 28 Mahidol University Thailand B1b 80.20
(3) 42 Universiti Malaya (UM) Malaysia B1b 73.80
(4) 44 Chulalongkorn University Thailand A1b 73.30
(5) 50 University of Indonesia Indonesia A1d 68.59
(6) 58= Ateneo de Manila University Philippines C1d 65.40
(7) 58= Universiti Kebangsaan Malaysia (UKM) Malaysia B1b 65.40
(8) 69 Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia B1b 64.20
(9) 77 Universiti Putra Malaysia (UPM) Malaysia B1b 61.60
(10) 78 University of the Philippines Philippines A1c 61.40
(11) 79 Chiang Mai University Thailand A1b 61.20
(12) 82 Universiti Teknologi Malaysia (UTM) Malaysia B2b 59.80
(13) 85 Universitas Gadjah Mada Indonesia A1d 58.50
(14) 91 Thammasat University Thailand A1c 57.20
(15) 101= University of Santo Tomas Philippines A1d 54.40
(16) 101= Prince of Songkla University Thailand A1c 54.40
(17) 106 De La Salle University Philippines C2c 53.30
(18) 109= Airlangga University Indonesia B1d 52.50
(19) 113= Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia B2c 52.20
(20) 119 Bogor Agricultural University Indonesia B2c 49.90
(21) 122 Khon Kaen University Thailand A1c 49.00
(22) 126 Kasetsart University Thailand A2b 47.50
(23) 151= International Islamic University Malaysia (IIUM) Malaysia B1c
(24) 161= Padjadjaran University Indonesia A3d
(25) 161= Diponegoro University Indonesia A1d
----
Bài này tôi đang viết dở thì có chuyện gia đình, nên phải dừng lại. Nay viết vội để kết thúc cho khỏi quên ý tưởng, nên ai đọc vào sẽ thấy hơi khó chịu vì cảm giác ... dở dang của nó. Thôi thì các bạn chịu khó vậy, khi nào rảnh tôi sẽ viết bù, chứ sao giờ?
Đặc điểm của các trường này ra sao? Chúng ta hãy xem xét các số liệu trong danh sách theo các chủ đề sau:
1. Phân loại trường: Tất cả các trường trong danh sách đều thuộc loại A hoặc B, chỉ có hai (2) trường loại C (số 6 và số 17).
Nhưng trường loại A, B, hay C thì có nghĩa là gì nhỉ? À, cái này thì phải tìm hiểu trên trang web của QS. Sẽ viết trong một entry khác cho đầy đủ, nhưng phải chờ có thời gian đọc kỹ đã.
2. Các trường thành viên của AUN trong danh sách này chiếm một loạt các vị trí đầu tiên (8 hạng đầu của danh sách 25 trường). Điều này có nói lên cái gì không nhỉ? Sẽ phải trả lời trong một entry khác, như trên.
3. Singapore, Thái Lan, và Mã Lai đứng đầu danh sách. Riêng Singapore thì khỏi phải nói rồi, thậm chí NUS còn không thèm xếp hạng châu Á mà chỉ xếp hạng quốc tế thôi kia. Còn Thái Lan và Mã Lai thì thật đáng nể với những trường hàng đầu là UM (Mã) Chulalongkorn và Mahidol (Thái), và nhiều trường khác nữa.
Một vài nước khác của ĐNÁ có trong danh sách này là Philippines và Indo. 5 nước khác hoàn toàn vắng bóng, trong đó có Việt Nam (và tất nhiên, Lào, Campuchia, Myanmar, và cả Brunei nữa, nhưng nước này rất nhỏ và hình như chỉ có 1 trường đại học thì phải).
Những điều trên cần phải được diễn giải ra sao nhỉ? Đấy sẽ là một entry khác. Xin hẹn gặp lại!
Friday, December 10, 2010
Dựa vào đâu để xếp hạng đại học?
Dựa vào đâu để xếp hạng đại học?
Tiếp tục đọc bài “30 cách để xếp loại trường đại học” ở đây, sau đây là phần diễn nghĩa bản sơ đồ trong bài viết.
- Các phạm trù được sử dụng để xếp hạng:
Có 8 phạm trù đang được các bảng xếp hạng sử dụng, đó là:
1. Mức độ cạnh tranh và đặc điểm của sinh viên (tỷ lệ chọi, điểm đầu vào, tỷ lệ được cấp học bổng chính phủ, vv)
2. Đánh giá của bên liên quan (sinh viên, nhà tuyển dụng, đồng nghiệp)
3. Nguồn tài chính và chi phí (chi cho nghiên cứu, chi lương giảng viên, đóng góp tài chính của cựu sinh viên)
4. Mức độ quốc tế hóa (tỷ lệ giảng viên và sinh viên quốc tế)
5. Mức độ phục vụ xã hội (vd: tham gia quân đội, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình – Peace Corps – của LHQ)
6. Hỗ trợ tài chính cho người học (mức học phí, tỷ lệ sinh viên nhận học bổng hoàn cảnh khó khăn, tỷ lệ được hỗ trợ trên tổng số cần hỗ trợ, tổng số nợ học phí, mức độ hoàn trả nợ học phí của sinh viên tốt nghiệp)
7. Thành tích của sinh viên, giảng viên và cựu sinh viên (tỷ lệ tốt nghiệp và tỷ lệ lên lớp, số giảng viên có chân trong các hội đồng quốc gia, số sinh viên và giảng viên được nhận các giải thưởng, số lượng tiến sĩ do trường đào tạo, các công bố và trích dẫn của giảng viên, mức lương của cựu sinh viên, số cựu sinh viên có thành tích về nghề nghiệp)
8. Giảng dạy (tỷ lệ giảng viên-sinh viên, tỷ lệ giảng viên toàn thời gian trên tổng số, quy mô lớp học trung bình, chi phí cho hoạt động giảng dạy trên đầu sinh viên, bằng cấp của giảng viên)
- Sự khác biệt giữa các bảng xếp hạng trong việc lựa chọn các phạm trù xếp hạng
Có 6 bảng xếp hạng được đem ra so sánh ở đây, trong đó có 4 bảng xếp hạng quốc gia và 2 bảng xếp hạng quốc tế, đó là: USNWR (của Mỹ, rất phổ biến), Washington Monthly (cũng của Mỹ), Forbes, Kiplinger (chưa nghe bao giờ?), và 2 hệ thống xếp hạng quốc tế nổi tiếng là THE-QS (nhưng từ năm 2010 đã tách ra làm 2 là THE và QS rồi) và ARWU (của Trung Quốc, ĐH Giao thong Thượng Hải).
Khi nhìn vào sơ đồ ta sẽ thấy đa số các chỉ số chỉ được dùng 1 lần, tức mỗi bảng xếp hạng dùng các chỉ số khác nhau. Chỉ có đúng 1 (MỘT) chỉ số được 4/6 bảng xếp hạng cùng sử dụng, đó là tỷ lệ tốt nghiệp và lên lớp. Hai (HAI) chỉ số khác được 3/6 bảng xếp hạng sử dụng là điểm đầu vào (SAT hoặc ACT) và các thành tích (giải thưởng) của giảng viên/sinh viên. Còn lại, có 6 (SÁU) chỉ số được dung chung bởi 2/6 bảng xếp hạng, và 21 (HAI MƯƠI MỐT) chỉ số chỉ được dung bởi 1/6 bảng xếp hạng. Tổng cộng là 30.
Đấy, bây giờ thì ta đã hiểu nghĩa của cái tựa: “30 cách xếp loại trường đại học” rồi, phải không? Cho nên nếu muốn nói là đạt top 200 thế giới thì ngay lập tức phải nói là “theo bảng xếp hạng nào”. Đó cũng là câu hỏi mà GS Marginson đã hỏi tôi khi tôi nói với ông về ước mơ lọt vào top 200 thế giới của VN trong hội thảo cách đây 2 năm, năm 2008.
Ôi, một ước mơ rất xa vời!
Tiếp tục đọc bài “30 cách để xếp loại trường đại học” ở đây, sau đây là phần diễn nghĩa bản sơ đồ trong bài viết.
- Các phạm trù được sử dụng để xếp hạng:
Có 8 phạm trù đang được các bảng xếp hạng sử dụng, đó là:
1. Mức độ cạnh tranh và đặc điểm của sinh viên (tỷ lệ chọi, điểm đầu vào, tỷ lệ được cấp học bổng chính phủ, vv)
2. Đánh giá của bên liên quan (sinh viên, nhà tuyển dụng, đồng nghiệp)
3. Nguồn tài chính và chi phí (chi cho nghiên cứu, chi lương giảng viên, đóng góp tài chính của cựu sinh viên)
4. Mức độ quốc tế hóa (tỷ lệ giảng viên và sinh viên quốc tế)
5. Mức độ phục vụ xã hội (vd: tham gia quân đội, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình – Peace Corps – của LHQ)
6. Hỗ trợ tài chính cho người học (mức học phí, tỷ lệ sinh viên nhận học bổng hoàn cảnh khó khăn, tỷ lệ được hỗ trợ trên tổng số cần hỗ trợ, tổng số nợ học phí, mức độ hoàn trả nợ học phí của sinh viên tốt nghiệp)
7. Thành tích của sinh viên, giảng viên và cựu sinh viên (tỷ lệ tốt nghiệp và tỷ lệ lên lớp, số giảng viên có chân trong các hội đồng quốc gia, số sinh viên và giảng viên được nhận các giải thưởng, số lượng tiến sĩ do trường đào tạo, các công bố và trích dẫn của giảng viên, mức lương của cựu sinh viên, số cựu sinh viên có thành tích về nghề nghiệp)
8. Giảng dạy (tỷ lệ giảng viên-sinh viên, tỷ lệ giảng viên toàn thời gian trên tổng số, quy mô lớp học trung bình, chi phí cho hoạt động giảng dạy trên đầu sinh viên, bằng cấp của giảng viên)
- Sự khác biệt giữa các bảng xếp hạng trong việc lựa chọn các phạm trù xếp hạng
Có 6 bảng xếp hạng được đem ra so sánh ở đây, trong đó có 4 bảng xếp hạng quốc gia và 2 bảng xếp hạng quốc tế, đó là: USNWR (của Mỹ, rất phổ biến), Washington Monthly (cũng của Mỹ), Forbes, Kiplinger (chưa nghe bao giờ?), và 2 hệ thống xếp hạng quốc tế nổi tiếng là THE-QS (nhưng từ năm 2010 đã tách ra làm 2 là THE và QS rồi) và ARWU (của Trung Quốc, ĐH Giao thong Thượng Hải).
Khi nhìn vào sơ đồ ta sẽ thấy đa số các chỉ số chỉ được dùng 1 lần, tức mỗi bảng xếp hạng dùng các chỉ số khác nhau. Chỉ có đúng 1 (MỘT) chỉ số được 4/6 bảng xếp hạng cùng sử dụng, đó là tỷ lệ tốt nghiệp và lên lớp. Hai (HAI) chỉ số khác được 3/6 bảng xếp hạng sử dụng là điểm đầu vào (SAT hoặc ACT) và các thành tích (giải thưởng) của giảng viên/sinh viên. Còn lại, có 6 (SÁU) chỉ số được dung chung bởi 2/6 bảng xếp hạng, và 21 (HAI MƯƠI MỐT) chỉ số chỉ được dung bởi 1/6 bảng xếp hạng. Tổng cộng là 30.
Đấy, bây giờ thì ta đã hiểu nghĩa của cái tựa: “30 cách xếp loại trường đại học” rồi, phải không? Cho nên nếu muốn nói là đạt top 200 thế giới thì ngay lập tức phải nói là “theo bảng xếp hạng nào”. Đó cũng là câu hỏi mà GS Marginson đã hỏi tôi khi tôi nói với ông về ước mơ lọt vào top 200 thế giới của VN trong hội thảo cách đây 2 năm, năm 2008.
Ôi, một ước mơ rất xa vời!
Thursday, December 9, 2010
"30 cách xếp loại trường đại học"
Tựa của entry này là tôi dịch tựa một bài viết trên tờ Chronicle of Higher Education mà tôi vừa đọc được, rất hay. Có thể tìm thấy nó ở đây.
Một bài viết cực ngắn, chỉ vỏn vẹn có mấy giòng thôi. Mà thực ra cũng chẳng phải là một bài viết đúng nghĩa, vì nó chỉ nhằm mô tả một sơ đồ. Nhưng chính cái sơ đồ ấy mới đáng nói, vì nó đã tóm tắt mọi thông tin trong đó. Xin xem hình dưới đây.

Còn đây là toàn bộ phần "lời" kèm theo sơ đồ để giải thích cách đọc thông tin:
Dưới đây là phần dịch của tôi:
Các đường cong trong hình dùng để nối các hệ thống xếp hạng với những chỉ số được sử dụng trong hệ thống đó. Lưu ý rằng chỉ có rất ít các chỉ số được từ hai hệ thống trở lên cùng sử dụng. Đa số các chỉ số tập trung vào yếu tố đầu vào như tỷ lệ chọi, tỷ số giảng viên-sinh viên, và tỷ lệ tiếp tục học sau năm thứ nhất. Không kể tỷ lệ tốt nghiệp, hầu như chẳng có chỉ số đầu ra nào được sử dụng, ví dụ như sinh viên tốt nghiệp đã sẵn sàng tham gia thị trường lao động hay chưa.
Ừ, nhưng nếu thế thì sao? Câu trả lời của tôi:
1. Tìm hiểu về các bảng xếp hạng giúp ta hiểu được những yếu tố và chỉ số nào được xem là quan trọng đối với một trường đại học.
2. Nó cũng giúp cho ta biết được khi một trường đại học nào đó nói rằng họ nằm trong top 100 của, ví dụ, ARWU, thì thực ra điều đó có nghĩa là gì, vì không phải hệ thống xếp hạng nào cũng có ý nghĩa giống nhau.
3. Quan trọng nhất, là nó giúp cho ta hiểu được tính tương đối của các hệ thống xếp hạng, và có lựa chọn phù hợp để tham gia (nếu có ý định tham gia), và bình tĩnh trước các kết quả được, dù cao, dù thấp, vì các kết quả này thực ra là rất tương đối. Xếp hạng, cuối cùng chỉ nên xem như một cơ hội để có số liệu so sánh và tự cải thiện mà thôi.
Một bài viết cực ngắn, chỉ vỏn vẹn có mấy giòng thôi. Mà thực ra cũng chẳng phải là một bài viết đúng nghĩa, vì nó chỉ nhằm mô tả một sơ đồ. Nhưng chính cái sơ đồ ấy mới đáng nói, vì nó đã tóm tắt mọi thông tin trong đó. Xin xem hình dưới đây.

Còn đây là toàn bộ phần "lời" kèm theo sơ đồ để giải thích cách đọc thông tin:
The lines below connect raters to each of the measures they take into account. Notice how few measures are shared by two or more raters. That indicates a lack of agreement among them on what defines quality. Much of the emphasis is on “input measures” such as student selectivity, faculty-student ratio, and retention of freshmen. Except for graduation rates, almost no “outcome measures,” such as whether a student comes out prepared to succeed in the work force, are used.
Dưới đây là phần dịch của tôi:
Các đường cong trong hình dùng để nối các hệ thống xếp hạng với những chỉ số được sử dụng trong hệ thống đó. Lưu ý rằng chỉ có rất ít các chỉ số được từ hai hệ thống trở lên cùng sử dụng. Đa số các chỉ số tập trung vào yếu tố đầu vào như tỷ lệ chọi, tỷ số giảng viên-sinh viên, và tỷ lệ tiếp tục học sau năm thứ nhất. Không kể tỷ lệ tốt nghiệp, hầu như chẳng có chỉ số đầu ra nào được sử dụng, ví dụ như sinh viên tốt nghiệp đã sẵn sàng tham gia thị trường lao động hay chưa.
Ừ, nhưng nếu thế thì sao? Câu trả lời của tôi:
1. Tìm hiểu về các bảng xếp hạng giúp ta hiểu được những yếu tố và chỉ số nào được xem là quan trọng đối với một trường đại học.
2. Nó cũng giúp cho ta biết được khi một trường đại học nào đó nói rằng họ nằm trong top 100 của, ví dụ, ARWU, thì thực ra điều đó có nghĩa là gì, vì không phải hệ thống xếp hạng nào cũng có ý nghĩa giống nhau.
3. Quan trọng nhất, là nó giúp cho ta hiểu được tính tương đối của các hệ thống xếp hạng, và có lựa chọn phù hợp để tham gia (nếu có ý định tham gia), và bình tĩnh trước các kết quả được, dù cao, dù thấp, vì các kết quả này thực ra là rất tương đối. Xếp hạng, cuối cùng chỉ nên xem như một cơ hội để có số liệu so sánh và tự cải thiện mà thôi.
Saturday, December 4, 2010
Vị trí của các trường đại học thuộc AUN trong bảng xếp hạng thế giới của QS
Trước hết, một chút dẫn nhập.
Cách đây ít lâu tôi có đưa lên trên blog này bài viết của tôi về benchmarking in higher education, đối sánh trong giáo dục đại học.
Đại khái, trong bài ấy tôi có tổng hợp phần lý luận của các nhà lý luận về benchmarking trên thế giới. Và kết luận của bài viết - cũng chỉ là tổng hợp của các lý luận sẵn có - là:
(1) benchmarking là một việc làm cần thiết để có thể học hỏi từ người khác khá hơn mình;
(2) benchmarking gồm nhiều giai đoạn, mà giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn quan trọng nhất, là tự hiểu mình, bằng cách thu thập những số liệu quan trọng (các chỉ số hoạt động cốt lõi, KPI) và so sánh mình với một đơn vị khác có những đặc điểm tương tự.
Giai đoạn đầu tiên này có tên gọi là metric benchmarking, tôi tạm dịch là đối sánh trắc lượng, ai có từ ngữ hay hơn để dịch nó thì xin cho tôi biết nhé.
Như vậy, ở giai đoạn đầu tiên này thì benchmarking rất giống ranking, chỉ khác nhau ở mục đích. Ranking thì có mục đích muốn khẳng định vị trí và sử dụng vị trí đó để quảng bá thương hiệu (ví dụ, có được cái "mác" top 100, 200, 500 trong bảng xếp hạng quốc tế). Và nó cũng dẫn đến những thay đổi, những hành động để đạt mục tiêu, nhưng mục tiêu ở đây là mục tiêu đạt thứ hạng cao - một mục đích tự thân.
Còn đối sánh thì nhằm vào việc hiểu mình, hiểu tại sao mình đạt thứ hạng này hay thứ hạng khác, và vì thế không mấy quan tâm đến việc mình có thứ hạng nào, mà quan trọng hơn là giải thích tại sao mình có thứ hạng đó, còn người khác thì có thứ hạng kia. Và quan trọng hơn nữa, là tìm hiểu những gì người khác làm tốt hơn mình để có thể học hỏi từ họ.
Trong đối sánh, điều quan trọng đầu tiên là chọn đối tác đối sánh (benchmark partner, tức đối sánh với ai). Ở điểm này, tôi cho rằng 2 ĐHQG của VN rất may mắn vì đang là thành viên của AUN, vì có 2 điều lợi:
(1) có sẵn đối tác đối sánh (tất nhiên là không phải tất cả mọi thành viên của AUN đều trở thành đối tác đối sánh của VN, vd hiện nay chưa nên đối sánh với Singapore vì khoảng cách giữa 2 bên còn rất xa, nhưng dù sao thì phạm vi lựa chọn cũng đã thu hẹp đáng kể);
(2) dễ thu thập được số dữ liệu về họ thông qua các nguồn công khai như trên trang web, hoặc các kết quả xếp hạng đã công bố, và cả những nguồn không công khai mà chỉ chia sẻ nội bộ thông qua các đoàn đánh giá ngoài. Một điều kiện rất hiếm có đối với các trường đại học của VN mà chúng ta cần khai thác để cải thiện.
Well, phần "dẫn nhập" của tôi cho entry này như thế là quá dài rồi. Bây giờ vào phần chính: kết quả xếp hạng của 13/26 trường thành viên của AUN (13 trường còn lại chưa có tên trong bất kỳ bảng xếp hạng nào, trong số đó có 2 trường của VN!)
Kết quả xếp hạng của các trường thuộc AUN trong 500 thứ hạng đầu của các bảng xếp hạng thế giới của QS trong 2 năm 2009 và 2010 được nêu dưới đây. Các bạn đọc như sau:
- Con số ngoài cùng từ trái sang: số thứ tự
- Con số thứ hai là kết quả xếp hạng của QS năm 2010; số trong ngoặc đơn ngay bên cạnh là thứ hạng của năm 2009, để so sánh
- Phần còn lại là tên trường, tên quốc gia
1/ 31 (30) National University of Singapore (NUS) Singapore
2/ 74 (73) Nanyang Technological University (NTU) Singapore
3/ 180 (138) Chulalongkorn University Thailand
4/ 207 (180) Universiti Malaya (UM) Malaysia
5/ 228 (220) Mahidol University Thailand
6/ 236 (201) University of Indonesia Indonesia
7/ 263 (291) Universiti Kebangsaan Malaysia(UKM) Malaysia
8/ 307 (234) Ateneo de Manila University Philippines
9/ 309 (314) Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia
10/ 314 (262) University of the Philippines Philippines
11/ 321 (250) Universitas Gadjah Mada Indonesia
12/ 401-450 (351) Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia
13/ 401-500 (401-500) De La Salle University Philippines
Nhận xét của tôi: Theo bảng xếp hạng này thì tốt nhất là chúng ta nên đối sánh với các đại học từ hạng 6 trở đi, đó là các trường UI (hạng 236), UKM (263), Ateneo de Manila (307), USM (309), UP (hạng 314), UGM (hạng 321), ITB hoặc De La Salle (có hạng từ 401 đến 500). Vì phải cải tiến dần dần mà, so với người giỏi quá thì ta sẽ thấy ... choáng ngợp, và ... nản chí, phải không?
Cứ từ từ, bình tĩnh, nhưng kiên trì cải thiện từng ngày, từng giờ, and you'll be there, đại học của VN ơi! Và trong cuộc đua chất lượng này, ĐHQG-HCM cũng đã có những động thái tích cực, mặc dù thành quả thì còn lâu mới có thể thấy được.
Ví dụ cụ thể của nỗ lực hội nhập đây này: Hình hội thảo về chuyển đổi tín chỉ trong khối AUN tại ĐHQG-HCM tháng 1/2010. Trang web của AUN-ACT, có thông tin về hội thảo nói trên, ở đây. Mà không chỉ hội thảo đâu nhé, ĐHQG-HCM đang tham gia tích cực bằng cách gửi các môn học giảng dạy bằng tiếng Anh để thu hút sinh viên trong khu vực ASEAN đến VN học đấy, các bạn vào trang web ấy mà xem.
Cách đây ít lâu tôi có đưa lên trên blog này bài viết của tôi về benchmarking in higher education, đối sánh trong giáo dục đại học.
Đại khái, trong bài ấy tôi có tổng hợp phần lý luận của các nhà lý luận về benchmarking trên thế giới. Và kết luận của bài viết - cũng chỉ là tổng hợp của các lý luận sẵn có - là:
(1) benchmarking là một việc làm cần thiết để có thể học hỏi từ người khác khá hơn mình;
(2) benchmarking gồm nhiều giai đoạn, mà giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn quan trọng nhất, là tự hiểu mình, bằng cách thu thập những số liệu quan trọng (các chỉ số hoạt động cốt lõi, KPI) và so sánh mình với một đơn vị khác có những đặc điểm tương tự.
Giai đoạn đầu tiên này có tên gọi là metric benchmarking, tôi tạm dịch là đối sánh trắc lượng, ai có từ ngữ hay hơn để dịch nó thì xin cho tôi biết nhé.
Như vậy, ở giai đoạn đầu tiên này thì benchmarking rất giống ranking, chỉ khác nhau ở mục đích. Ranking thì có mục đích muốn khẳng định vị trí và sử dụng vị trí đó để quảng bá thương hiệu (ví dụ, có được cái "mác" top 100, 200, 500 trong bảng xếp hạng quốc tế). Và nó cũng dẫn đến những thay đổi, những hành động để đạt mục tiêu, nhưng mục tiêu ở đây là mục tiêu đạt thứ hạng cao - một mục đích tự thân.
Còn đối sánh thì nhằm vào việc hiểu mình, hiểu tại sao mình đạt thứ hạng này hay thứ hạng khác, và vì thế không mấy quan tâm đến việc mình có thứ hạng nào, mà quan trọng hơn là giải thích tại sao mình có thứ hạng đó, còn người khác thì có thứ hạng kia. Và quan trọng hơn nữa, là tìm hiểu những gì người khác làm tốt hơn mình để có thể học hỏi từ họ.
Trong đối sánh, điều quan trọng đầu tiên là chọn đối tác đối sánh (benchmark partner, tức đối sánh với ai). Ở điểm này, tôi cho rằng 2 ĐHQG của VN rất may mắn vì đang là thành viên của AUN, vì có 2 điều lợi:
(1) có sẵn đối tác đối sánh (tất nhiên là không phải tất cả mọi thành viên của AUN đều trở thành đối tác đối sánh của VN, vd hiện nay chưa nên đối sánh với Singapore vì khoảng cách giữa 2 bên còn rất xa, nhưng dù sao thì phạm vi lựa chọn cũng đã thu hẹp đáng kể);
(2) dễ thu thập được số dữ liệu về họ thông qua các nguồn công khai như trên trang web, hoặc các kết quả xếp hạng đã công bố, và cả những nguồn không công khai mà chỉ chia sẻ nội bộ thông qua các đoàn đánh giá ngoài. Một điều kiện rất hiếm có đối với các trường đại học của VN mà chúng ta cần khai thác để cải thiện.
Well, phần "dẫn nhập" của tôi cho entry này như thế là quá dài rồi. Bây giờ vào phần chính: kết quả xếp hạng của 13/26 trường thành viên của AUN (13 trường còn lại chưa có tên trong bất kỳ bảng xếp hạng nào, trong số đó có 2 trường của VN!)
Kết quả xếp hạng của các trường thuộc AUN trong 500 thứ hạng đầu của các bảng xếp hạng thế giới của QS trong 2 năm 2009 và 2010 được nêu dưới đây. Các bạn đọc như sau:
- Con số ngoài cùng từ trái sang: số thứ tự
- Con số thứ hai là kết quả xếp hạng của QS năm 2010; số trong ngoặc đơn ngay bên cạnh là thứ hạng của năm 2009, để so sánh
- Phần còn lại là tên trường, tên quốc gia
1/ 31 (30) National University of Singapore (NUS) Singapore
2/ 74 (73) Nanyang Technological University (NTU) Singapore
3/ 180 (138) Chulalongkorn University Thailand
4/ 207 (180) Universiti Malaya (UM) Malaysia
5/ 228 (220) Mahidol University Thailand
6/ 236 (201) University of Indonesia Indonesia
7/ 263 (291) Universiti Kebangsaan Malaysia(UKM) Malaysia
8/ 307 (234) Ateneo de Manila University Philippines
9/ 309 (314) Universiti Sains Malaysia (USM) Malaysia
10/ 314 (262) University of the Philippines Philippines
11/ 321 (250) Universitas Gadjah Mada Indonesia
12/ 401-450 (351) Bandung Institute of Technology (ITB) Indonesia
13/ 401-500 (401-500) De La Salle University Philippines
Nhận xét của tôi: Theo bảng xếp hạng này thì tốt nhất là chúng ta nên đối sánh với các đại học từ hạng 6 trở đi, đó là các trường UI (hạng 236), UKM (263), Ateneo de Manila (307), USM (309), UP (hạng 314), UGM (hạng 321), ITB hoặc De La Salle (có hạng từ 401 đến 500). Vì phải cải tiến dần dần mà, so với người giỏi quá thì ta sẽ thấy ... choáng ngợp, và ... nản chí, phải không?
Cứ từ từ, bình tĩnh, nhưng kiên trì cải thiện từng ngày, từng giờ, and you'll be there, đại học của VN ơi! Và trong cuộc đua chất lượng này, ĐHQG-HCM cũng đã có những động thái tích cực, mặc dù thành quả thì còn lâu mới có thể thấy được.
Ví dụ cụ thể của nỗ lực hội nhập đây này: Hình hội thảo về chuyển đổi tín chỉ trong khối AUN tại ĐHQG-HCM tháng 1/2010. Trang web của AUN-ACT, có thông tin về hội thảo nói trên, ở đây. Mà không chỉ hội thảo đâu nhé, ĐHQG-HCM đang tham gia tích cực bằng cách gửi các môn học giảng dạy bằng tiếng Anh để thu hút sinh viên trong khu vực ASEAN đến VN học đấy, các bạn vào trang web ấy mà xem.
Tuesday, November 23, 2010
Cũng là có hạng (dù là hạng ... bét!)
Đây không phải xếp hạng đại học. Mà là xếp hạng bãi biển.
Hôm trước trên trang này tôi có đưa về TP HCM trong bảng xếp hạng các thành phố lớn trên thế giới. Hãnh diện lắm, dù đó không phải là điều mình ngờ đến, hay có kế hoạch phấn đấu gì cả.
Còn lần này, thì một thành phố biển thuộc loại đẹp nhất VN, thành phố đang ra sức PR mình như một thành phố du lịch xinh đẹp và thân thiện, gần đây là nơi tổ chức nhiều sự kiện lớn, đặc biệt là liên quan đến thi hoa hậu, đã được tạp chí National Geographic của Mỹ bình chọn đưa vào bảng xếp hạng.
Hãnh diện chưa? Ồ, không có gì để hãnh diện cả, chúng ta xếp hạng ... bét ấy mà!
Cùng hạng bét với ta, cho nó ... đông vui một nhà, còn có một số anh em khác nữa. Hạng này điểm cao nhất là 47, còn hạng bét là 24. Việt Nam có Nha Trang và Mũi Né, cả 2 đều là những khu du lịch ăn nên làm ra, đồng hạng 43 điểm. Thế là còn khá nhé, đúng không nào, tuy là hạng bét, nhưng là những hạng đầu của tốp bét (!).
Hạng bét tĩ, 24 điểm, là ở bang Louisiana, Gulf Coast của Mỹ. Bị tràn dầu. Ô nhiễm nặng.
Trên một chút, 33 điểm, cũng là Gulf Coast của Mỹ, thuộc bang Mississippi. Bão lụt (cơn bão Katrina nổi tiếng), rồi gần đây là tràn dầu nữa. Thua!
Nhích lên một chút, bãi biển Sihanoukville của Campuchea, 38 điểm, phát triển thiếu bền vững, quản lý chất thải kém, ô nhiễm môi trường.
Đồng hạng 38 điểm, là bãi biển Sharm el Sheikh Area của Egypt. Phát triển quá nhanh, đông nghẹt người, tàn phá môi sinh, hủy hoại di sản văn hóa của người Bedouin địa phương ở nơi này. Buồn thế.
Cao hơn một chút, là bãi biển Goa của Ấn Độ, 41 điểm. Vốn nổi tiếng là khu nghỉ mát của thực dân Bồ Đào Nha, thiên nhiên hoang dã, kiến trúc thuộc địa thơ mộng. Nhưng hiện nay chỉ còn là du lịch sex, và chẳng ai quan tâm đến bảo vệ di sản thiên nhiên và di sản văn hóa của vùng này. Xuống cấp.
Rồi đến hạng 43 điểm của VN rồi đó. Có nhiều bãi biển ở hạng này, nhưng thôi kệ nó, chỉ quan tâm đến ta thôi. Họ nói gì ta thế nhỉ? Đây này:
Mọi người cần đọc thêm thông tin đầy đủ thì vào đây này. Họ chia 5 top, tốp đầu (top rated), tốp khá (doing well), tốp giữa (in the balance), tốp có nguy cơ (facing trouble), và tốp ... bét. VN có 2 bãi biển nằm ở đó.
Kết luận ư? Dưới đây này, thực ra chỉ là những suy nghĩ vụn của tôi:
1. Sao dạo này thế giới thích xếp hạng quá nhỉ? Hết trường đại học, trước đó là các đội bóng, rồi đến thành phố, giờ là bãi biển! Nhưng ... có lẽ cũng tốt: minh bạch, rõ ràng, không chối cãi được vì nó rành rành ra đó nhé!
2. Không khéo nhân dịp này Bộ Du lịch (có bộ như vậy không ta?) của mình cũng lại có kế hoạch "xây dựng" mấy bãi biển đẳng cấp quốc tế chứ chẳng chơi đâu?
3. Nếu có quyền nói, thì tôi nói thế này: đừng có lập kế hoạch xếp hạng gì cả. Hãy bình tĩnh, chậm rãi làm đúng từ những việc nhỏ. Hãy bảo vệ môi trường, hãy trân trọng thiên nhiên và con người. Rồi mọi cái sẽ đến sau.
4. Các nước phát triển trước đã bị trả giá về môi trường. Cái chúng ta còn lại là thiên nhiên và di sản văn hóa - cái mà họ không còn nữa, hoặc không còn nhiều. Ngược lại, khoa học công nghệ ta còn lâu mới bằng họ, vậy sao nỡ phá hủy môi trường để chạy theo họ, đến bao giờ ta mới tỉnh ngộ đây?
Viết thêm sáng ngày 24/11/2010
5. Bảo vệ môi trường phải là việc của tất cả mọi người chứ không riêng của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch hay Bộ Môi trường và Tài nguyên (hình như tên của mấy bộ ấy là như thế). Muốn vậy, phải giáo dục ý thức môi trường cho mọi người, và tập thói quen tốt ngay từ nhỏ.
Không vứt rác, chuột chết (!) ra đường. Ít dùng túi ny-lông. Hạn chế dùng nước một cách phí phạm (ví dụ, dùng nước ngọt sạch để xả bồn cầu, trong khi người dân ở một số nơi không có nước ngọt để uống). Ý thức về vệ sinh môi trường ....
Lại là chuyện của giáo dục rồi đây! (Đó là lý do, chắc là hơi ... gượng ép chút, khiến cho bài viết về xếp hạng bãi biển cũng có thể đưa vào trang về giáo dục, nhỉ?)
---
Viết thêm nữa, chiều 24/11/2010
Mới nghe qua về cảng Shihanoukville của Campuchea (xem ở trên) thì lại đọc được bài này. Thấy hay nên đưa về đây. Các bạn đọc nhé, ở đây này. Xin trích dẫn:
Hôm trước trên trang này tôi có đưa về TP HCM trong bảng xếp hạng các thành phố lớn trên thế giới. Hãnh diện lắm, dù đó không phải là điều mình ngờ đến, hay có kế hoạch phấn đấu gì cả.
Còn lần này, thì một thành phố biển thuộc loại đẹp nhất VN, thành phố đang ra sức PR mình như một thành phố du lịch xinh đẹp và thân thiện, gần đây là nơi tổ chức nhiều sự kiện lớn, đặc biệt là liên quan đến thi hoa hậu, đã được tạp chí National Geographic của Mỹ bình chọn đưa vào bảng xếp hạng.
Hãnh diện chưa? Ồ, không có gì để hãnh diện cả, chúng ta xếp hạng ... bét ấy mà!
Cùng hạng bét với ta, cho nó ... đông vui một nhà, còn có một số anh em khác nữa. Hạng này điểm cao nhất là 47, còn hạng bét là 24. Việt Nam có Nha Trang và Mũi Né, cả 2 đều là những khu du lịch ăn nên làm ra, đồng hạng 43 điểm. Thế là còn khá nhé, đúng không nào, tuy là hạng bét, nhưng là những hạng đầu của tốp bét (!).
Hạng bét tĩ, 24 điểm, là ở bang Louisiana, Gulf Coast của Mỹ. Bị tràn dầu. Ô nhiễm nặng.
Trên một chút, 33 điểm, cũng là Gulf Coast của Mỹ, thuộc bang Mississippi. Bão lụt (cơn bão Katrina nổi tiếng), rồi gần đây là tràn dầu nữa. Thua!
Nhích lên một chút, bãi biển Sihanoukville của Campuchea, 38 điểm, phát triển thiếu bền vững, quản lý chất thải kém, ô nhiễm môi trường.
Đồng hạng 38 điểm, là bãi biển Sharm el Sheikh Area của Egypt. Phát triển quá nhanh, đông nghẹt người, tàn phá môi sinh, hủy hoại di sản văn hóa của người Bedouin địa phương ở nơi này. Buồn thế.
Cao hơn một chút, là bãi biển Goa của Ấn Độ, 41 điểm. Vốn nổi tiếng là khu nghỉ mát của thực dân Bồ Đào Nha, thiên nhiên hoang dã, kiến trúc thuộc địa thơ mộng. Nhưng hiện nay chỉ còn là du lịch sex, và chẳng ai quan tâm đến bảo vệ di sản thiên nhiên và di sản văn hóa của vùng này. Xuống cấp.
Rồi đến hạng 43 điểm của VN rồi đó. Có nhiều bãi biển ở hạng này, nhưng thôi kệ nó, chỉ quan tâm đến ta thôi. Họ nói gì ta thế nhỉ? Đây này:
Vietnam: Nha Trang and Mui Ne
Score: 43
"Overdevelopment without a watchful eye" has recently swallowed up stretches of previously empty coastline in both of these southern resort towns, putting the "amazing natural beauty" of their environs at risk.
Dịch thoát nghĩa: Phát triển nóng mà không quan tâm đến cảnh quan thiên nhiên đã nuốt trửng những bờ biển dài vắng vẻ trước đây của cả 2 thành phố du lịch phương nam này, khiến vẻ đẹp tự nhiên đến sững sờ của chúng đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá.
Mọi người cần đọc thêm thông tin đầy đủ thì vào đây này. Họ chia 5 top, tốp đầu (top rated), tốp khá (doing well), tốp giữa (in the balance), tốp có nguy cơ (facing trouble), và tốp ... bét. VN có 2 bãi biển nằm ở đó.
Kết luận ư? Dưới đây này, thực ra chỉ là những suy nghĩ vụn của tôi:
1. Sao dạo này thế giới thích xếp hạng quá nhỉ? Hết trường đại học, trước đó là các đội bóng, rồi đến thành phố, giờ là bãi biển! Nhưng ... có lẽ cũng tốt: minh bạch, rõ ràng, không chối cãi được vì nó rành rành ra đó nhé!
2. Không khéo nhân dịp này Bộ Du lịch (có bộ như vậy không ta?) của mình cũng lại có kế hoạch "xây dựng" mấy bãi biển đẳng cấp quốc tế chứ chẳng chơi đâu?
3. Nếu có quyền nói, thì tôi nói thế này: đừng có lập kế hoạch xếp hạng gì cả. Hãy bình tĩnh, chậm rãi làm đúng từ những việc nhỏ. Hãy bảo vệ môi trường, hãy trân trọng thiên nhiên và con người. Rồi mọi cái sẽ đến sau.
4. Các nước phát triển trước đã bị trả giá về môi trường. Cái chúng ta còn lại là thiên nhiên và di sản văn hóa - cái mà họ không còn nữa, hoặc không còn nhiều. Ngược lại, khoa học công nghệ ta còn lâu mới bằng họ, vậy sao nỡ phá hủy môi trường để chạy theo họ, đến bao giờ ta mới tỉnh ngộ đây?
Viết thêm sáng ngày 24/11/2010
5. Bảo vệ môi trường phải là việc của tất cả mọi người chứ không riêng của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch hay Bộ Môi trường và Tài nguyên (hình như tên của mấy bộ ấy là như thế). Muốn vậy, phải giáo dục ý thức môi trường cho mọi người, và tập thói quen tốt ngay từ nhỏ.
Không vứt rác, chuột chết (!) ra đường. Ít dùng túi ny-lông. Hạn chế dùng nước một cách phí phạm (ví dụ, dùng nước ngọt sạch để xả bồn cầu, trong khi người dân ở một số nơi không có nước ngọt để uống). Ý thức về vệ sinh môi trường ....
Lại là chuyện của giáo dục rồi đây! (Đó là lý do, chắc là hơi ... gượng ép chút, khiến cho bài viết về xếp hạng bãi biển cũng có thể đưa vào trang về giáo dục, nhỉ?)
---
Viết thêm nữa, chiều 24/11/2010
Mới nghe qua về cảng Shihanoukville của Campuchea (xem ở trên) thì lại đọc được bài này. Thấy hay nên đưa về đây. Các bạn đọc nhé, ở đây này. Xin trích dẫn:
Tại thị trấn Kep giáp biên giới Việt Nam, liên doanh các nhà đầu tư Mỹ, Nhật và Ả Rập đang đổ vào đó 2 tỉ USD để xây dựng các hạng mục resort, khách sạn, biệt thự cao cấp và nhiều cơ sở hạ tầng khác phục vụ du lịch sinh thái biển trải dài 6km. 10 hòn đảo trong vịnh Sihanoukville cũng đã được Campuchia cho các doanh nghiệp lớn của Mỹ, Hồng Kông, Anh nước ngoài thuê để phát triển du lịch.
Tuy nhiên, Chính phủ không quên yêu cầu các đối tác giữ nguyên vẻ đẹp sơ khai và tự nhiên của thành phố cảng cổ này. Các ngôi biệt thự do Pháp xây trong thời kỳ thuộc địa cũng được yêu cầu chỉ sửa chữa, không phá vỡ, không mở rộng. Chỉ được làm hồi sinh Sihanoukville - điểm nghỉ dưỡng cao cấp của các quan chức thuộc địa Pháp hồi cuối XIX -đầu XX chứ không được biến Sihanoukville thành thành phố mới. Những đầu tư nghiêm túc và bền vững của Campuchia vào du lịch biển có thể sẽ biến Sihanoukville thành điểm du lịch nghỉ dưỡng biển số 1 của Đông Nam Á như kỳ vọng của vương quốc này.
Friday, October 8, 2010
Một số bài viết tham khảo về Ranking và Benchmarking
1. Measured, and found wanting more.
http://www.timeshighereducation.co.uk/story.asp?storycode=412341
2. Much to be learned from university rankings
http://pkukmweb.ukm.my/v3/images/stories/BicaraNaibCanselor/MediaTempatan/Much%20to%20be%20learnt%20from%20university%20rankings%20-%20New%20Straits%20Times,%2018%20 November%202008.pdf
3. http://incoherently-scattered.blogspot.com/2010/08/awru-rankings.html
4. http://talk.collegeconfidential.com/graduate-school/897640-arwu-ranking-legitiment-2.html
5. http://www.huffingtonpost.com/social/ixington/college-rankings-backlash_n_684683_57448726.html
6. http://rankingwatch.blogspot.com/2009_06_01_archive.html -
Bài số 6 này rất hay, có thể đọc kỹ và phân tích thêm để rút ra một vài kết luận cho VN.
http://www.timeshighereducation.co.uk/story.asp?storycode=412341
2. Much to be learned from university rankings
http://pkukmweb.ukm.my/v3/images/stories/BicaraNaibCanselor/MediaTempatan/Much%20to%20be%20learnt%20from%20university%20rankings%20-%20New%20Straits%20Times,%2018%20 November%202008.pdf
3. http://incoherently-scattered.blogspot.com/2010/08/awru-rankings.html
4. http://talk.collegeconfidential.com/graduate-school/897640-arwu-ranking-legitiment-2.html
5. http://www.huffingtonpost.com/social/ixington/college-rankings-backlash_n_684683_57448726.html
6. http://rankingwatch.blogspot.com/2009_06_01_archive.html -
Bài số 6 này rất hay, có thể đọc kỹ và phân tích thêm để rút ra một vài kết luận cho VN.
Sunday, October 3, 2010
Thứ hạng đại học và thu nhập của sinh viên tốt nghiệp
Tôi vừa đọc được bài này nói về thứ hạng đại học và thu nhập của người tốt nghiệp trên tờ AtlanticWire, thấy thú vị quá nên đưa lên đây để chia sẻ với mọi người. Ai đọc được bằng tiếng Anh thì read, and enjoy nhé! Lần này thì enjoy thật, chứ không giống như bài viết về benchmarking của tôi, phải không? ;-)
Còn ai không đọc tiếng Anh, hoặc làm biếng, thì có thể xem phần tóm tắt và bình loạn dưới đây của tôi.
---------------
Bài viết mà tôi giới thiệu ở đây có tựa tiếng Anh là "Yes, you really should go into debt for Yale", dịch (thoát) sang tiếng Việt là "Ừ, cứ mạnh dạn vay tiền rồi vào Yale mà học".
Cái tựa này nghe "khiêu khích" quá phải không? Ừ, khiêu khích thật chứ, vì hiện nay đa số các nhà nghiên cứu giáo dục ở Mỹ cho rằng các trường tư có tiếng như Harvard, Yale, Stanford vv đang thu học phí cao một cách vô lý, mà nếu xem việc đi học đại học là một sự đầu tư thì có lẽ không đáng để người học phải tốn kém như thế, khi những lợi ích sau khi tốt nghiệp của trường tư so với trường công cũng chẳng hơn kém nhau là mấy.
Nhưng tác giả của bài viết mà tôi đang giới thiệu ở đây lại chứng minh điều ngược lại. Well, không ngược hoàn toàn, nhưng nói chung là tác giả bài viết không đồng ý với quan điểm tôi mới nêu ở trên. Trong bài viết của mình, Heather (tên riêng của tác giả) trích dẫn Thornfinn, người đã tìm được kết quả nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu thuộc 3 trường Harvard-Berkeley-Northwestern. Nhóm này đã chứng minh được mối liên hệ giữa thứ hạng của một trường đại học và thu nhập của sinh viên khi tốt nghiệp, theo đó trường có thứ hạng càng cao thì sinh viên tốt nghiệp cũng có thu nhập càng cao.
Well, đó là mô tả tổng quát. Nói chính xác là có một mối liên hệ, nhưng đó không phải là một liên hệ tuyến tính. Dùng ngôn ngữ bình dân để diễn nghĩa lại câu tôi vừa viết thì như thế này: đúng là sinh viên các trường top như Harvard, Yale vv có thu nhập cao thật, nhưng đó là những trường tốp đầu thực sự mà thôi, có thể là vài chục trường đầu bảng. Còn sau đó thì sự khác biệt về thu nhập giữa sinh viên tốt nghiệp các trường khác nhau có giảm đi nhiều. Chẳng hạn, tốt nghiệp một trường có thứ hạng 75 với một trường có thứ hạng 125 thì thu nhập cũng chẳng khác nhau là mấy. Để rõ hơn, có thể xem hình dưới đây.
Rồi đó, tất cả bài viết chỉ có vậy. Bạn nghĩ sao? Cũng thú vị chứ, phải không, khi đọc những kết luận dựa trên số liệu cụ thể, theo kiểu Mỹ (nói cái gì cũng phải có chứng cứ, kết luận gì cũng phải có nghiên cứu nghiêm chỉnh). Nhưng tôi đọc xong thì cũng hơi ... thất vọng một chút. Vì tôi vẫn luôn tin vào việc "đứng trên đôi chân của mình", và thường nói với các con tôi rằng tất cả là do mình, chứ không phải là do nhân thân và lý lịch (con cái nhà ai, quen biết những ai, học hành ở trường nào ...). Thế mới biết, hóa ra là ông cha mình đã nắm được chân lý này từ lâu rồi, rằng "nước chảy chỗ trũng", hoặc, ngậm ngùi hơn một chút:
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa.
Thế này thì chẳng trách tại sao mà mọi người đều muốn cho con cái đi tỵ nạn giáo dục hết cả! Không biết "bao giờ dân nổi can qua" nhỉ? Để "con vua lúc ấy phải ra quét chùa" nữa chứ, để con tui quét hoài sao được, phải không bà con?
Còn ai không đọc tiếng Anh, hoặc làm biếng, thì có thể xem phần tóm tắt và bình loạn dưới đây của tôi.
---------------
Bài viết mà tôi giới thiệu ở đây có tựa tiếng Anh là "Yes, you really should go into debt for Yale", dịch (thoát) sang tiếng Việt là "Ừ, cứ mạnh dạn vay tiền rồi vào Yale mà học".
Cái tựa này nghe "khiêu khích" quá phải không? Ừ, khiêu khích thật chứ, vì hiện nay đa số các nhà nghiên cứu giáo dục ở Mỹ cho rằng các trường tư có tiếng như Harvard, Yale, Stanford vv đang thu học phí cao một cách vô lý, mà nếu xem việc đi học đại học là một sự đầu tư thì có lẽ không đáng để người học phải tốn kém như thế, khi những lợi ích sau khi tốt nghiệp của trường tư so với trường công cũng chẳng hơn kém nhau là mấy.
Nhưng tác giả của bài viết mà tôi đang giới thiệu ở đây lại chứng minh điều ngược lại. Well, không ngược hoàn toàn, nhưng nói chung là tác giả bài viết không đồng ý với quan điểm tôi mới nêu ở trên. Trong bài viết của mình, Heather (tên riêng của tác giả) trích dẫn Thornfinn, người đã tìm được kết quả nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu thuộc 3 trường Harvard-Berkeley-Northwestern. Nhóm này đã chứng minh được mối liên hệ giữa thứ hạng của một trường đại học và thu nhập của sinh viên khi tốt nghiệp, theo đó trường có thứ hạng càng cao thì sinh viên tốt nghiệp cũng có thu nhập càng cao.
Well, đó là mô tả tổng quát. Nói chính xác là có một mối liên hệ, nhưng đó không phải là một liên hệ tuyến tính. Dùng ngôn ngữ bình dân để diễn nghĩa lại câu tôi vừa viết thì như thế này: đúng là sinh viên các trường top như Harvard, Yale vv có thu nhập cao thật, nhưng đó là những trường tốp đầu thực sự mà thôi, có thể là vài chục trường đầu bảng. Còn sau đó thì sự khác biệt về thu nhập giữa sinh viên tốt nghiệp các trường khác nhau có giảm đi nhiều. Chẳng hạn, tốt nghiệp một trường có thứ hạng 75 với một trường có thứ hạng 125 thì thu nhập cũng chẳng khác nhau là mấy. Để rõ hơn, có thể xem hình dưới đây.
Rồi đó, tất cả bài viết chỉ có vậy. Bạn nghĩ sao? Cũng thú vị chứ, phải không, khi đọc những kết luận dựa trên số liệu cụ thể, theo kiểu Mỹ (nói cái gì cũng phải có chứng cứ, kết luận gì cũng phải có nghiên cứu nghiêm chỉnh). Nhưng tôi đọc xong thì cũng hơi ... thất vọng một chút. Vì tôi vẫn luôn tin vào việc "đứng trên đôi chân của mình", và thường nói với các con tôi rằng tất cả là do mình, chứ không phải là do nhân thân và lý lịch (con cái nhà ai, quen biết những ai, học hành ở trường nào ...). Thế mới biết, hóa ra là ông cha mình đã nắm được chân lý này từ lâu rồi, rằng "nước chảy chỗ trũng", hoặc, ngậm ngùi hơn một chút:Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa.
Thế này thì chẳng trách tại sao mà mọi người đều muốn cho con cái đi tỵ nạn giáo dục hết cả! Không biết "bao giờ dân nổi can qua" nhỉ? Để "con vua lúc ấy phải ra quét chùa" nữa chứ, để con tui quét hoài sao được, phải không bà con?
Wednesday, September 29, 2010
Top 200, Simon Marginson, và 2060!
Slide so sánh VN với các nước trong khu vực, trong bài trình bày của GS Marginson. Nhìn vào đây thì thấy ĐH VN chỉ nên benchmark với Indo trước đã, mà Indo hiện nay cũng có mấy trường trong top 500 của QS rồi đó. Còn VN thì vẫn mờ mịt chân mây?----------------
Cái tựa của entry này hẳn sẽ làm cho nhiều người thắc mắc, tôi nghĩ thế.
Số là tôi đang đọc, tìm hiểu và viết về benchmarking và ranking trong giáo dục đại học. Và đang định viết một bài so sánh các kết quả xếp hạng đại học thế giới năm 2010, vì đây là năm đầu tiên mà QS và THE tách ra làm 2 hệ thống khác nhau, nên hiện nay có đến 3 bảng xếp hạng quốc tế với các kết quả không giống nhau: ARWU (của SJTU mà ta quen dịch là ĐHP Giao thông Thượng Hải); QS (vốn trước đây là THES, sau đổi thành THE-QS), và THE, hệ thống mới với cách xếp hạng mới được cho là đã cải thiện đáng kể so với hệ thống của THE-QS mà hiện nay QS vẫn tiếp tục sử dụng.
Cả 3 bảng xếp hạng đều đã công bố kết quả năm 2010, trong đó "giựt gân" là QS đưa ra kết quả Cambridge lần đầu tiên vượt qua Harvard ở vị trí đứng đầu thế giới, và gần đây nhất là THE đưa Harvard trở lại vị trí đầu còn Cambridge lui trở về vị trí thường thấy ở các bảng xếp hạng trước nay, dưới Harvard.
Tóm lại, "top 200" trong cái tựa của entry này là nói về các danh sách xếp hạng đó, trong đó danh sách của THE mới công bố gần đây nhất là một danh sách top 200 (QS công bố danh sách top 500, và ARWU cũng vậy). Thế còn Simon Marginson và 2060?
Ừ, tôi nhớ ra Simon Marginson là vì báo Doanh nhân Sài Gòn mới đây có đưa bài viết của GS Marginson nhân dịp THE công bố kết quả xếp hạng năm nay. Ai quan tâm có thể đọc bài viết ấy ở đây. Nhưng thật ra, những ý kiến này GS Marginson đã đưa ra cách đây 2 năm chứ không phải là đưa vào dịp THE công bố kết quả xếp hạng 2010 của mình mới đây.
Vậy chứ GS Marginson đưa ra những ý kiến đó vào dịp nào thế? À, nếu các bạn chịu khó tra mạng thì sẽ tìm thấy một hội thảo có tầm cỡ do ĐHQG Hà Nội phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cách đây 2 năm về vấn đề xếp hạng, trong đó có mời các nhà nghiên cứu/thực hành về xếp hạng đại học trên thế giới đến báo cáo. Hội thảo đó tôi cũng có đi dự, và ấn tượng nhất là về bài báo cáo của GS Marginson (mà cũng có thể là tôi hơi ... thiên vị chăng, vì GS Marginson đến từ Úc, là nơi tôi học trước đây, nên có thể sẽ thấy có thiện cảm hơn ;-)).
Thực ra thì trong những người báo cáo hôm ấy, GS Marginson là có tầm cỡ nhất (những người khác thì có kinh nghiệm của practitioners), và khách quan nhất, vì ông không phải là người thực hiện xếp hạng mà chỉ là nhà nghiên cứu, quan sát "hiện tượng" xếp hạng. Và đó là lần đầu tiên ông đến VN, với những phát biểu rất ngoại giao nhưng cũng rất dễ thương, gây thiện cảm, khi ông nói ông đến VN như về nhà (các bạn xem bài viết mà tôi đưa link ở trên).
Và điều tôi ấn tượng nhất ở GS Marginson là ông rất thẳng thắn về "ước mơ đẳng cấp quốc tế" của VN. Khi hỏi về khả năng đạt top 200 vào năm 2020, ông tỏ ra rất nghi ngờ (và điều đó là đúng), và có đưa một con số mà lúc ấy làm cho nhiều người rất shock (hay nói đúng hơn là tỉnh cơn mê!): đó là VN chỉ có thể có một trường trong top 200 thế giới vào năm 2060 mà thôi.
Lúc ấy, nhiều người không tin vào con số 2060 của ông, cho rằng đấy là một sự mỉa mai, phóng đại, hoặc thậm chí ... sỉ nhục. Tôi cũng nghĩ, ông nói đại khái, để nhấn mạnh. Nhưng nay nghĩ lại, thấy ông nói không hề sai. Năm nay đã là 2010 rồi, mà VN thì còn chưa thấy đâu trên bản đồ ĐH thế giới cả. Tôi sẽ viết thêm về điều này sau. Còn TQ, họ đã cải tổ từ năm 1976, và năm 1989 tôi có dịp đi Mỹ, tận mắt thấy số sinh viên TQ tràn ngập các đại học Mỹ. Từ ấy đến nay đã hơn 30 năm, chính phủ TQ cũng đã có nhiều kế hoạch rót tiền cho các đại học trọng điểm của họ, và cải tổ nhiều mặt, thì nay họ mới bắt đầu có một số trường lọt vào top 200 của các bảng xếp hạng. Vậy thì tại sao VN lại có thể cần thời gian ít hơn 50 năm, đặc biệt là ngay từ bây giờ hình như ta vẫn chưa có những bước đi đúng hướng?
Tôi đã đọc lại bài viết của GS Marginson và thấy nó rất đáng đọc, đáng được dịch đầy đủ để phổ biến cho mọi người đọc. Giá mà không bận như hiện nay thì tôi cũng dịch nó ra đấy, nhưng bận quá! Thôi thì đưa mấy đường link để giới thiệu với mọi người. Và xin kết bài này với phần kết luận trong slide của GS Marginson (ý tưởng là của GS Marginson, còn lời là của tôi):
- Hãy quên đi ước mơ vào top 200 các đại học nghiên cứu của thế giới (theo bảng xếp hạng của SJTU)
- Nếu muốn ước mơ thì có thể nghĩ đến lọt vào top 500 vào khoảng năm 2025 hoặc 2030, mặc dù điều này cũng không phải là dễ.
- Lọt vào top 200 chỉ có thể là năm 2060, nhưng điều này còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố [ý nói: phụ thuộc vào chính sách đầu tư cho KH-CN của chính phủ VN]
- Cần đầu tư tập trung vào một số trường đại học nghiên cứu với mức đầu tư cạnh tranh được với thế giới [diễn nghĩa của tôi: không thể trả lương cho một người có bằng tiến sĩ và gần 30 năm làm trong ngành giáo dục như tôi với mức lương và mọi thứ thu nhập chưa đến 10 triệu như hiện nay - quá phi lý!]
- Chỉ những trường đó mới nên tham gia xếp hạng thế giới
- Còn xếp hạng quốc gia thì không nên có một loại bảng xếp hạng duy nhất, mà cần có nhiều bảng xếp hạng khác nhau tùy theo sứ mạng và loại hình trường.
Những lời khuyên thật chí lý! Còn dưới đây là link dẫn đến bài viết và slide của ông:
1. Bài viết:
www.cshe.unimelb.edu.au/.../Marginson/VNU%20rankings%20symposium%2013%20November%202008.pdf
2. Slide: www.cshe.unimelb.edu.au/.../Marginson/VNU13Nov2008%20slides.pdf
Thế đấy. 2060 thì tôi 100 tuổi rồi. Thôi thì ráng sống khỏe, sống vui, và sống lâu, 50 năm nữa bằng tuổi đại tướng Võ Nguyên Giáp, biết đâu tôi còn sống và sẽ thấy một đại học của VN vào top 200 thế giới nhỉ? Lúc ấy, tôi sẽ nói: cách đây 50 năm tôi đã bỏ công nghiên cứu về xếp hạng và đối sánh các trường đại học, nên bây giờ chúng ta mới có ngày nay!
Ừ, ai cấm mình mơ ước, các bạn nhỉ?
-----
Cập nhật lúc 8:38 tối cùng ngày
Tôi mới tìm được trên mạng Kỷ yếu hội thảo mà tôi đã nêu ở trên, bản dịch tiếng Việt. Các bạn có thể vào đây để download và đọc nhé.
Sunday, September 19, 2010
"Các tiêu chí xếp hạng đại học của tạp chí Times Higher Education (THE)"
Hình này minh họa tương quan lực lượng giữa các cường quốc giáo dục đại học trên thế giới theo kết quả xếp hạng 2010 của THE, được lấy trên mạng, ở đây.Đọc được bài này có liên quan đến những điều tôi đang quan tâm nên tôi đưa về đây để lưu. Nó ở đây.
Những bài có liên quan:
1. "Tạp chí Times Higher Education công bố xếp hạng 200 đại học hàng đầu", ở đây.
2. "Harvard đứng đầu top 200 đại học hàng đầu thế giới", ở đây.
3. "Xếp hạng đại học: Mỹ áp đảo, Anh rớt hạng" ở đây.
4. "Times Higher Education công bố danh sách đại học tốt nhất", ở đây.
5. Trên BBC, sáng nay 21/9/2010: "Hoa Kỳ áp đảo ...", ,ở đây.
Vài nhận xét ngắn: (1) Giới truyền thông VN lúc này quan tâm đến xếp hạng đại học toàn cầu quá. (2) Các trường đại học TQ đang tiến lên một cách đáng kể, lọt vào top 50.
Có thể nhận thấy những khuynh hướng sau đang xuất hiện tại VN:
- Giáo dục đã được xem như một loại hàng hóa thực sự, và vì vậy cần cung cấp thông tin thị trường nhanh gọn đến độc giả.
- Toàn cầu hóa giáo dục đại học và hiện tượng "luân chuyển chất xám" đang diễn ra rõ rệt ở VN (VN là sending country, và các nước có trường đại học ở hàng top là receiving countries).
- Việc hiểu biết về các hệ thống xếp hạng đại học và trắc lượng khoa học (science metrics) là thực sự cần thiết, trước hết là để tự biết mình, rồi sau đó sẽ biết mình cần làm gì để đi đến mục tiêu đã đặt ra.
Tuesday, August 17, 2010
Cảm nhận nhanh về kết quả xếp hạng đại học của Giao thông Thượng Hải 2010
Hình chụp màn hình 10 trường hàng đầu 2010 theo SJTU: thấy toàn là cờ Mỹ!!!!Nóng hổi, mới ra lò hôm Chủ nhật 15/8.
Vài cảm nhận nhanh:
- Mỹ (tư bản giãy chết) vẫn chiếm địa vị độc tôn, với 8/10 chỗ trong top 10, đứng đầu là Havard với điểm tuyệt đối 100/100 cho tất cả các tiêu chí! 2 trường còn lại (damn it) là người anh em của Mỹ, UK, với Cambridge và Oxford ở vị trí 5 và 10. Chưa hết, trong 100 vị trí hàng đầu, cũng có đến 54 trường Mỹ!
- Sau Mỹ, thì trung tâm trí tuệ của nhân loại vẫn là Châu Âu, vì trong 100 vị trí đầu bảng chỉ thấy loáng thoáng có vài trường châu Á, chủ yếu là Nhật, và 1 trường của Úc (mà Úc thì cũng bà con với Anh, Mỹ mà thôi, mặc dù nó nằm ở châu Á!).
- Trung Quốc cũng đã có một số trường lọt vào top 200, đó là (of course) Thanh Hoa và Bắc Kinh. Ngoài ra, các trường châu Á (không kể Nhật và Úc) lọt vào top 200 còn có NTU của Đài Loan (National Taiwan University, xin đừng nhầm với NTU của Singapore) và một trường của Hongkong. Nếu tính Hongkong cũng thuộc TQ (mặc dù thể chế khác, một quốc gia hai chế độ mà) thì TQ có 3 trường thuộc top 200.
- Còn VN? Bao giờ có trong top 200? Câu trả lời của tôi: hãy đối sánh với TQ, thực vậy. Hãy xem nhà nước TQ đã làm gì cho giáo dục đại học của họ trong thời gian qua. Bao nhiêu tiền và thời gian đã được đổ ra để đầu tư vào đấy, xuất phát điểm của các trường là ở nơi nào so với VN, và quan trọng hơn hết, là những cải tổ trong cách quản lý, và cả triết lý giáo dục của họ nữa.
Không những thế, còn phải xem xét cả những đổi mới và cởi mở về thể chế chính trị của TQ. Một điều có thể tóm tắt nhanh: trong thời gian qua, mọi đổi mới thành công của TQ đều đi theo hướng dân chủ hóa, phát huy sức mạnh của xã hội dân sự, và phi chính trị hóa các trường đại học. Hiện nay thậm chí họ đang bàn đến việc xóa bỏ vị trí công chức/quan chức trong hệ thống chính trị của các hiệu trưởng đại học.
Hãy đọc, và suy nghĩ, và chia sẻ cảm nhận của mình ở đây, các bạn nhé. Tìm ở đây này: http://www.arwu.org/. Xin báo trước: trang web của họ đang terribly busy!!!! Khó vào lắm.
Còn dưới đây là Press Release chính thức của họ, ai không vào được thì đọc tạm nhé!
-----------------------------------------------------------
Sunday, August 15, 2010
Shanghai, People's Republic of China
The 2010 Academic Ranking of World Universities (ARWU) is released today by the Center for World-Class Universities of Shanghai Jiao Tong University. Starting from 2003, ARWU has been presenting the world top 500 universities annually based on a set of objective indicators and third-party data. ARWU has been recognized as the precursor of global university rankings and one of the most influential lists.
US still dominates 2010 list with 8 universities in the top 10 and 54 universities in the top 100. Harvard University remains the No. 1 in the world for the eighth year, followed by Berkeley and Stanford. MIT, Caltech, Princeton, Columbia, Chicago also appear in top 10 as in 2009.
The best ranked UK universities are Cambridge (5th) and Oxford (10th), other well placed European universities include: ETH Zurich (23rd) and University of Zurich (51st) in Switzerland, Paris 6 (39th) and Paris 11 (45th) in France, Copenhagen (40th) and Aarhus (98th) in Denmark, Karolinska (42nd) and Uppsala (66th) in Sweden, Utrecht (50th) and Leiden (70th) in Netherlands, Munich (52nd) and TU Munich (56th) in Germany, Helsinki (72nd) in Finland, Moscow (74th) in Russia, Oslo (75th) in Norway, and Ghent (90th) in Belgium.
106 universities from Asia-Pacific region are ranked among top 500 in 2010, among them the leaders are: Tokyo (20th) and Kyoto (24th) in Japan, ANU (59th) and Melbourne (62nd) in Australia, and Hebrew University of Jerusalem (72nd) in Israel. While the ranking methodology has been kept the same, the number of top 500 Chinese universities reaches 34 in 2010, which is more than doubled of that in 2004 (16), with National Taiwan University, Peking, Tsinghua, and Chinese University of Hong Kong ranked among top 200. Universities in Middle East countries are making significant progress, King Saud University and King Fahd University of Petroleum & Minerals of Saudi Arabia first enters into top 400 and top 500 respectively, Istanbul University in Turkey and University of Teheran in Iran are very close to top 400.
Besides the overall ranking, the 2010 Academic Ranking of World Universities by Broad Subject Fields (ARWU-FIELD) and 2010 Academic Ranking of World Universities by Subject Field (ARWU-SUBJECT) are also published. These rankings list the world top 100 universities in five broad subject fields and in five selected subject fields, where the top 3 universities are:
Natural Sciences and Mathematics – Harvard, Berkeley and Cambridge
Engineering/Technology and Computer Sciences – MIT, Stanford and Berkeley
Life and Agriculture Sciences – Harvard, UC San Francisco and MIT
Clinical Medicine and Pharmacy – Harvard, UC San Francisco and John Hopkins
Social Sciences – Harvard, Chicago and Stanford
Mathematics – Princeton, Berkeley and Harvard
Physics – Harvard, MIT and Caltech
Chemistry – Berkeley, Harvard and Cambridge
Computer Science – Stanford, MIT and Berkeley
Economics / Business – Harvard, Chicago and MIT
The complete lists and detailed methodology can be found at the Academic Ranking of World Universities website at http://www.arwu.org/.
Center for World-Class Universities of Shanghai Jiao Tong University (CWCU): CWCU has been focusing on the study of world-class universities for many years, published the first Chinese-language book titled world-class universities and co-published the first English book titled world-class universities with European Centre for Higher Education of UNESCO. CWCU initiated the "First International Conference on World-Class Universities" (WCU-1) in 2005 and organizes the conference every second year, which attracts a large number of participants from all major countries. CWCU endeavors to build databases of major research universities in the world and clearinghouse of literature on world-class universities, and provide consultation for governments and universities.
Contact: Dr. Ying CHENG ranking@sjtu.edu.cn
Sunday, August 15, 2010
Xếp hạng các bảng xếp hạng chương trình MBA
Bạn biết bao nhiêu bảng xếp hạng các chương trình MBA? Không biết bất cứ cái nào ư? Thật kém! Có biết ư? Tốt, vậy có nhiêu bảng nhỉ, và quan trọng hơn nữa, là nên tin theo bảng nào? Hừm, rắc rối thật.
Nhưng bạn đừng quá buồn. Không riêng gì bạn, mà rất nhiều người khác, kể cả những bạn đọc ở các nước phương tây cũng không biết. Nhưng bạn cũng không phải lo: giờ đây, câu trả lời cho câu hỏi trên đã có người đưa ra rồi.
Đúng sai, xin tạm miễn bàn. Dù gì thì cũng phải có một bước khởi đầu chứ nhỉ? Vậy thì đây: Ranking the MBA rankings. Ở đây.
Các bạn hãy đọc nhé. Tôi cũng chỉ mới đọc lướt. Chưa có nhiều thời gian, nên tạm ghi lại đây cái đã. Sẽ quay trở lại đọc kỹ hơn, và bình luận chút xíu, để có cái trao đổi với mọi người, cho vui. Và hy vọng nó cũng cung cấp chút thông tin ít nhiều chính xác, một điều đang rất cần cho giáo dục VN thời hội nhập này.
Enjoy!
Nhưng bạn đừng quá buồn. Không riêng gì bạn, mà rất nhiều người khác, kể cả những bạn đọc ở các nước phương tây cũng không biết. Nhưng bạn cũng không phải lo: giờ đây, câu trả lời cho câu hỏi trên đã có người đưa ra rồi.
Đúng sai, xin tạm miễn bàn. Dù gì thì cũng phải có một bước khởi đầu chứ nhỉ? Vậy thì đây: Ranking the MBA rankings. Ở đây.
Các bạn hãy đọc nhé. Tôi cũng chỉ mới đọc lướt. Chưa có nhiều thời gian, nên tạm ghi lại đây cái đã. Sẽ quay trở lại đọc kỹ hơn, và bình luận chút xíu, để có cái trao đổi với mọi người, cho vui. Và hy vọng nó cũng cung cấp chút thông tin ít nhiều chính xác, một điều đang rất cần cho giáo dục VN thời hội nhập này.
Enjoy!
Sunday, July 4, 2010
"Đo lường thư mục, xếp hạng toàn cầu và sự minh bạch"
Bản dịch và giới thiệu bài này của tôi đã được đăng trên Tạp chí Tia Sáng số đầu tháng 7 này ở đây. Bản gốc tiếng Anh ở đây. Xin đăng lên đây bản gốc chưa qua biên tập của tôi ở đây và mong nhận những ý kiến trao đổi của các bạn. Thực ra, bản dịch có sự đóng góp đáng kể của Kim Khôi, con trai tôi, tôi chỉ hiệu đính và viết lời giới thiệu. Cũng là một cách luyện tiếng Anh hàn lâm cho Khôi.
---
Xếp hạng đại học đang trở thành một hiện tượng toàn cầu, một phần do sự hữu ích và tiện lợi của nó. Các kết quả xếp hạng cung cấp cho các vị lãnh đạo nhà nước cũng như các trường đại học một chỉ dẫn nhanh và (được tin là) khách quan về vị thế của nền giáo dục một quốc gia hay uy tín của một trường đại học. Việc chấp nhận tham gia xếp hạng và cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng được xem như một bước tiến trong quản trị đại học, vì nó giúp làm minh bạch hoạt động của các trường đại học đối với các bên có liên quan.
Một điều mà ai cũng nhận thấy là phương pháp xếp hạng của các tổ chức khá khác biệt, dẫn đến những vị trí khác nhau của cùng một trường trong những bảng xếp hạng khác nhau. Không những thế, các tổ chức xếp hạng rất hay thay đổi phương pháp, và thậm chí quan hệ giữa các tổ chức xếp hạng này cũng hay thay đổi, đôi khi đang là đối tác trở thành đối thủ, như trường hợp của Times Higher Education và QS Quacquarelli Symonds. Tuy vậy, sự tin tưởng của các trường đối với các tổ chức xếp hạng này dường như không hề suy xuyển bởi những việc như vậy, và số lượng trường tự nguyện cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng để sau đó biết được vị trí của mình trên thế giới không hề giảm đi mà ngày càng tăng lên. Cho dù chúng chỉ là các tổ chức tư nhân, hoạt động trên cơ sở có lợi nhuận, và không hề có sự giám sát nào của một bên thứ ba, theo nguyên tắc khách quan và minh bạch mà các trường phải chấp nhận khi tham gia xếp hạng.
Liệu các tổ chức xếp hạng này có đáng được hưởng sự tin tưởng tuyệt đối này chăng? Họ làm gì với tất cả dữ liệu mà các trường hàng năm đã cung cấp cho họ? Bài viết của tác giả Chris Olds vừa đăng trên trang mạng Global Higher Education ngày 23/6/2010 vừa qua đã đặt ra những vấn đề đáng suy nghĩ về vai trò của các tổ chức này. Theo tác giả, có lẽ đã đến lúc cần có một cơ chế giám sát và bạch hóa hoạt động của các tổ chức xếp hạng, để tránh những sai lầm tương tự như vai trò của các tổ chức xếp hạng tín dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết độc đáo này đến toàn thể bạn đọc.
Đo lường thư mục , xếp hạng toàn cầu và sự minh bạch
23/06/2010, globalhighered
Vì sao chúng ta rất chú ý đến vào những ứng dụng thực tế và tiềm năng của đo lường thư mục (“thuật ngữ chung để chỉ các số liệu liên quan đến ấn phẩm”, theo định nghĩa của OECD), và các phương pháp xếp hạng trường đại học trên thế giới, nhưng lại ít quan tâm đến các công ty tư nhân và mối quan hệ giữa các công ty đó – những kẻ đứng sau các hệ thống đo lường thư mục và bảng xếp hạng toàn cầu nói trên?
Tôi chợt nảy ra câu hỏi này khi đọc tờ tạp chí Nature số ra ngày 17 tháng 06, 2010, trong đó có một bài đánh giá chi tiết về những khía cạnh khác nhau của đo lường thư mục, bao gồm giá trị của các “đo lường khoa học” (science metrics) dùng để đánh giá các khía cạnh tác động khác nhau của thành quả nghiên cứu (vd: các ấn phẩm), và các “thành tựu khoa học cá nhân”.
Số đặc biệt này của tờ tạp chí Nature, và đặc biệt là cuộc khảo sát của Richard Van Noorden về “hệ sinh thái đang tiến hóa nhanh chóng” của đo lường thư mục, thực sự rất đáng đọc. Dù chỉ là một chiều kích rắc rối và mơ hồ trong đời sống học thuật, đo lường thư mục ngày càng được chấp nhận như một khía cạnh trong quản trị giáo dục đại học và nghiên cứu (xét theo nghĩa rộng). Đo lường thư mục đang tạo ra một tác động đa dạng và ngày càng sâu rộng đối với quá trình quản trị đại học trên nhiều phạm vi khác nhau, từ mức độ cá nhân (trọng tâm chính trong số đặc biệt của tạp chí Nature) đến cấp đơn vị/khoa, bộ môn; trường đại học; ngành học/lĩnh vực đào tạo; quốc gia; khu vực; và cả toàn thế giới.
Giờ đây, trong tình hình sự phát triển của “hệ sinh thái” này đang thay đổi nhanh chóng, cùng với việc tồn tại quá nhiều những sáng kiến đổi mới đang phát sinh liên quan đến việc nên hay không nên sử dụng đo lường thư mục vào các ngành học/lĩnh vực khác nhau; để hiểu rõ hơn bản chất và tác động của việc sáng tạo và phổ biến tri thức, có lẽ chúng ta nên lùi lại và suy nghĩ về hiện tượng những tổ chức không thuộc nhà nước, vì lợi nhuận, lại đang tạo ra một loại công nghệ gắn chặt một cách ăn ý với văn hóa kiểm định hiện nay của chúng ta như thế này.
Trong bài viết hôm nay, tôi muốn nêu ra hai quan điểm chính trước khi đúc kết với một số câu hỏi cần xem xét.
Trước hết, tôi cảm thấy dường như đang có một số lượng lớn bất thường các nghiên cứu về việc ứng dụng hay lạm dụng các số liệu đo lường, nhưng lại rất ít các nghiên cứu về các công ty tạo ra những số liệu đó, cách thức hoạt động cũng mối liên hệ lẫn nhau giữa các công ty này, và về cách thức chúng tìm cách tác động vào bản chất của hoạt động học thuật trên toàn thế giới.
Tại thời điểm này, tôi không cố ý ám chỉ rằng những công ty như Elsevier (tác giả của Scopus), Thomson Reuters (tác giả của ISI Web of Knowledge), và Google (tác giả của Google Scholar) đang tạo ra những tác động tiêu cực (tham khảo bài ‘Regional content expansion in Web of Science®: opening borders to exploration’, một mẩu tin tốt lành về Thomson Reuters mà chúng tôi đã vui mừng tìm thấy), nhưng tôi muốn nêu ra rằng hiện nay rõ ràng có một sự bất xứng giữa số lượng nghiên cứu về đo lường thư mục và nghiên cứu về những công ty thực hiện đo lường thư mục, cũng như về cách thức mà người ta đã đưa những công nghệ đánh giá đó vào cuộc sống và thị trường. Ví dụ khi tìm kiếm trên công cụ ISI Web of Knowledge của Thomson Reuters những thuật ngữ như Scopus, Thomson Reuters, Web of Science và đo lường thư mục ta sẽ nhận được một danh sách gần như vô tận những bài viết so sánh những cơ sở dữ liệu chính, những đổi mới có liên quan đến các cơ sở dữ liệu vv, nhưng thật ngạc nhiên là có rất ít những nghiên cứu về Elsevier hoặc Thomson Reuters (tức các công ty tạo ra công cụ đánh giá). Càng ngày càng ít đi, thực vậy, và khá giống với hiện tượng thiếu vắng các nghiên cứu quan trọng có liên quan đến các tổ chức xếp hạng tín dụng như Moody’s hoặc Standard and Poor’s.
Kế đến, và là một vấn đề có liên quan, dường như vai trò của những công ty như Elsevier, Thomson Reuters, chưa kể các công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd., và TSL Education Ltd., trong việc cổ xúy cho hiện tượng xếp hạng toàn cầu hầu như rất ít được quan tâm, hoàn toàn trái ngược với những tranh luận gay gắt về những phương pháp xếp hạng. Ví dụ, bốn hệ thống xếp hạng toàn cầu chính trong quá khứ cũng như hiện nay là:
• Hệ thống xếp hạng của trường đại học Giao thông Thượng Hải (từ năm 2003 đến nay)
• Hệ thống xếp hạng các trường đại học quốc tế của tạp chí Times Higher Education phối hợp với QS Quacquarelli Symonds. (2004-2009)
• Hệ thống xếp hạng các trường đại học của tạp chí Times Higher Education phối hợp với Thomson Reuters (từ năm 2010 trở đi)
• Hệ thống xếp hạng các trường đại học của QS Quacquarelli Symonds (2010 trở đi)
-- tất cả đều dựa trên cơ sở dữ liệu cung cấp bởi Thomson Reuters và Elsevier.
Một trong những khía cạnh thú vị về sự tham gia của những công ty này vào hiện tượng xếp hạng là họ đã giúp tạo nên sự mong đợi đã được chuẩn hóa là việc xếp hạng diễn ra mỗi năm một lần, cho dù chẳng có bất kỳ lý lẽ rõ ràng (và tất nhiên là không được nêu rõ) nào về tần suất xếp hạng này. Tại sao ta không thực hiện xếp hạng chẳng hạn 3-4 năm/lần, có thể là cùng kỳ hạn tổ chức World Cup hoặc Olympics chẳng hạn? Tôi có thể hiểu tại sao việc xếp hạng các trường đại học phải diễn ra thường xuyên hơn so với kế hoạch xếp hạng bị trì hoãn dài hạn của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (NRC), và chắc chắn việc xếp hạng các trường đại học cần diễn ra thường xuyên hơn số năm đội Pháp vô địch World Cup (xin lỗi nhé …) nhưng tại sao lại phải xếp hạng hàng năm?
Tuy nhiên, hãy thử nhìn nhận vấn đề này dưới quan điểm của các công ty thực hiện xếp hạng so với quan điểm xét ưu, nhược điểm của các phương pháp xếp hạng.
Từ quan điểm của công ty tổ chức xếp hạng, chu kỳ xếp hạng hàng năm cần được chuẩn hóa vì đó là cơ chế để tự do trích xuất dữ liệu từ các trường đại học. Dữ liệu này rõ ràng là dùng để xếp hạng nhưng nó cũng được sử dụng để phát triển các dịch vụ kèm theo và khả năng thực hiện các đối sánh, những dịch vụ này có thể bán lại cho các trường đại học, các hội đồng tài trợ, các quỹ hỗ trợ, các tổ chức khu vực và các tổ chức tương tự (vd Ủy ban Liên minh Châu Âu đang tham gia mạnh mẽ vào việc đối sánh và hiện nay đang tài trợ cho kế hoạch xếp hạng Châu Âu).
Công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd., ví dụ thế, đã tiếp thị cho những dịch vụ này (có thể xem mẩu trích từ brochure của QS) tại gian hàng của họ trong hội nghị NAFSA vừa qua tại thành phố Kansas, trong khi Thomson Reuters đang bận phát triển dự án mà họ gọi là Dự án Hồ sơ toàn cầu về các trường đại học (Global Institutional Profiles Project). Dự án này do Jonathon Adams tiên phong, ông là một cựu nhân viên của Đại học Leeds, người đã thành lập một công ty tư nhân (Evidence Ltd) vào đầu thập niên 90, công ty từng tham gia vào các chương trình Đánh giá nghiên cứu (REA) tại Anh Quốc và chương trình ERA của Châu Âu trước khi được Thomson Reuters mua lại vào tháng 01, 2009.
Các cổng nhập dữ liệu trực tuyến chuyên nghiệp (tham khảo hình bên trên) cũng đang được hình thành. Những cổng này tạo ra một đường lưu chuyển dữ liệu tự do (ít ra là một chiều) giữa các phòng hành chính của hàng trăm trường đại học trên thế giới với các công ty thực hiện xếp hạng.
Nhu cầu về dữ liệu ngày càng tiêu tốn nhiều tài nguyên của các trường đại học. Chẳng hạn, các biểu mẫu của tổ chức QS hiện đang được các trường đại học khắp thế giới sử dụng bao gồm 14 chuyên mục chính và mỗi chuyên mục chính lại có nhiều mục phụ: tất cả bao gồm 60 trường dữ liệu, trong đó có 10 trường rất quan trọng cho hoạt động xếp hạng của QS sẽ được thực hiện vào tháng 10, 2010. Một khi các đường dẫn dữ liệu được thiết lập thì động lực phụ thuộc vào nguồn dữ liệu chắc chắn tồn tại, và mức độ phức tạp của những yêu cầu về dữ liệu có thể tăng dần lên.
Như vậy là mục tiêu chính dường như có liên quan đến việc sử dụng kết quả xếp hạng toàn cầu để cập nhật các cơ sở dữ liệu mà người sử dụng sẽ phải đóng phí, chưa kể là để phát triển các cơ sở tri thức và các tiềm năng tri thức trong nội bộ công ty (sử dụng cho việc tư vấn), hiện đã đang được vận hành trên phạm vi toàn cầu.
Tóm lại, liệu chúng ta có cần quan tâm đến và làm một hành động gì đó về tình trạng không cân xứng đã được xác định giữa các nghiên cứu về đo lường thư mục và về các công ty thực hiện việc đo lường cũng như các công ty dịch vụ thông tin được lắp ghép bên trong chúng hay không?
Tiếp đến, đâu là sự lý do của việc xếp hạng hàng năm so với một cách xếp hạng được phân tích kỹ hơn, xét trên khía cạnh thời gian? Thật ra tại sao ta không thống nhất thực hiện tất cả các xếp hạng quốc tế vào những năm cụ thể (vd: 2010, 2014, 2018) nhằm giảm áp lực đối với các trường đại học trong việc cung cấp dữ liệu, và cho phép những so sánh kịp thời giữa các hệ thống xếp hạng có tính cạnh tranh. Một nhịp độ được tính toán kỹ lưỡng hơn hẳn là sẽ phản ánh được nhịp độ thay đổi thật trong các cơ sở giáo dục đại học hơn là nhu cầu của các công ty thực hiện xếp hạng.
Và cuối cùng, liệu những công ty như Thomson Reuters và Elsevier, cũng như những đối tác của họ (đặc biệt là các công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd và TSL Education Ltd), có minh bạch về bản chất các hoạt động của mình như cần có hay không? Có lẽ cần có sự công khai/thảo luận về:
• Điều gì xảy ra với những dữ liệu mà các trường đại học tự nguyện cung cấp?
• Điều gì được quy định trong các hợp đồng giữa các tổ chức xếp hạng (vd giữa Times Higher Education và Thomson Reuters)?
• Các trường có những quyền lợi gì liên quan đến việc kiểm tra công khai và sử dụng mọi dữ liệu và phân tích có liên quan được tạo ra dựa trên các dữ liệu mà các trường đã cung cấp từ đầu?
• Ai sẽ quản lý, hoặc ít ra là quan sát, mối quan hệ giữa các công ty trên và các trường đại học trên thế giới? Có phải mối quan hệ này tốt nhất nên tiếp tục dựa trên cơ sở quan hệ song phương giữa trường và công ty? Hay cách tiếp cận hiện nay không phù hợp? Nếu không phù hợp thì nên chăng cần có một tổ chức thứ ba tham gia vào mối quan hệ này ở phạm vi quốc gia (vd: Bộ Giáo dục Hoa Kỳ hoặc các hiệp hội đại học quốc gia), ở phạm vi khu vực (như Hiệp hội đại học Châu Âu), và/hoặc trên phạm vi quốc tế (vd: Hiệp hội đại học quốc tế)?
Tóm lại, chẳng phải lúc này chính là thời điểm thích hợp khi cơ chế minh bạch vốn đang được áp đặt cho các trường đại học trên thế giới cũng phải được áp dụng vào các công ty tư nhân đang đứng đằng sau các hệ thống đo lường thư mục và xếp hạng toàn cầu đó hay sao?
Kris Olds
Nguồn: Global Higher Education
---
Xếp hạng đại học đang trở thành một hiện tượng toàn cầu, một phần do sự hữu ích và tiện lợi của nó. Các kết quả xếp hạng cung cấp cho các vị lãnh đạo nhà nước cũng như các trường đại học một chỉ dẫn nhanh và (được tin là) khách quan về vị thế của nền giáo dục một quốc gia hay uy tín của một trường đại học. Việc chấp nhận tham gia xếp hạng và cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng được xem như một bước tiến trong quản trị đại học, vì nó giúp làm minh bạch hoạt động của các trường đại học đối với các bên có liên quan.
Một điều mà ai cũng nhận thấy là phương pháp xếp hạng của các tổ chức khá khác biệt, dẫn đến những vị trí khác nhau của cùng một trường trong những bảng xếp hạng khác nhau. Không những thế, các tổ chức xếp hạng rất hay thay đổi phương pháp, và thậm chí quan hệ giữa các tổ chức xếp hạng này cũng hay thay đổi, đôi khi đang là đối tác trở thành đối thủ, như trường hợp của Times Higher Education và QS Quacquarelli Symonds. Tuy vậy, sự tin tưởng của các trường đối với các tổ chức xếp hạng này dường như không hề suy xuyển bởi những việc như vậy, và số lượng trường tự nguyện cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng để sau đó biết được vị trí của mình trên thế giới không hề giảm đi mà ngày càng tăng lên. Cho dù chúng chỉ là các tổ chức tư nhân, hoạt động trên cơ sở có lợi nhuận, và không hề có sự giám sát nào của một bên thứ ba, theo nguyên tắc khách quan và minh bạch mà các trường phải chấp nhận khi tham gia xếp hạng.
Liệu các tổ chức xếp hạng này có đáng được hưởng sự tin tưởng tuyệt đối này chăng? Họ làm gì với tất cả dữ liệu mà các trường hàng năm đã cung cấp cho họ? Bài viết của tác giả Chris Olds vừa đăng trên trang mạng Global Higher Education ngày 23/6/2010 vừa qua đã đặt ra những vấn đề đáng suy nghĩ về vai trò của các tổ chức này. Theo tác giả, có lẽ đã đến lúc cần có một cơ chế giám sát và bạch hóa hoạt động của các tổ chức xếp hạng, để tránh những sai lầm tương tự như vai trò của các tổ chức xếp hạng tín dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết độc đáo này đến toàn thể bạn đọc.
Đo lường thư mục , xếp hạng toàn cầu và sự minh bạch
23/06/2010, globalhighered
Vì sao chúng ta rất chú ý đến vào những ứng dụng thực tế và tiềm năng của đo lường thư mục (“thuật ngữ chung để chỉ các số liệu liên quan đến ấn phẩm”, theo định nghĩa của OECD), và các phương pháp xếp hạng trường đại học trên thế giới, nhưng lại ít quan tâm đến các công ty tư nhân và mối quan hệ giữa các công ty đó – những kẻ đứng sau các hệ thống đo lường thư mục và bảng xếp hạng toàn cầu nói trên?
Tôi chợt nảy ra câu hỏi này khi đọc tờ tạp chí Nature số ra ngày 17 tháng 06, 2010, trong đó có một bài đánh giá chi tiết về những khía cạnh khác nhau của đo lường thư mục, bao gồm giá trị của các “đo lường khoa học” (science metrics) dùng để đánh giá các khía cạnh tác động khác nhau của thành quả nghiên cứu (vd: các ấn phẩm), và các “thành tựu khoa học cá nhân”.
Số đặc biệt này của tờ tạp chí Nature, và đặc biệt là cuộc khảo sát của Richard Van Noorden về “hệ sinh thái đang tiến hóa nhanh chóng” của đo lường thư mục, thực sự rất đáng đọc. Dù chỉ là một chiều kích rắc rối và mơ hồ trong đời sống học thuật, đo lường thư mục ngày càng được chấp nhận như một khía cạnh trong quản trị giáo dục đại học và nghiên cứu (xét theo nghĩa rộng). Đo lường thư mục đang tạo ra một tác động đa dạng và ngày càng sâu rộng đối với quá trình quản trị đại học trên nhiều phạm vi khác nhau, từ mức độ cá nhân (trọng tâm chính trong số đặc biệt của tạp chí Nature) đến cấp đơn vị/khoa, bộ môn; trường đại học; ngành học/lĩnh vực đào tạo; quốc gia; khu vực; và cả toàn thế giới.
Giờ đây, trong tình hình sự phát triển của “hệ sinh thái” này đang thay đổi nhanh chóng, cùng với việc tồn tại quá nhiều những sáng kiến đổi mới đang phát sinh liên quan đến việc nên hay không nên sử dụng đo lường thư mục vào các ngành học/lĩnh vực khác nhau; để hiểu rõ hơn bản chất và tác động của việc sáng tạo và phổ biến tri thức, có lẽ chúng ta nên lùi lại và suy nghĩ về hiện tượng những tổ chức không thuộc nhà nước, vì lợi nhuận, lại đang tạo ra một loại công nghệ gắn chặt một cách ăn ý với văn hóa kiểm định hiện nay của chúng ta như thế này.
Trong bài viết hôm nay, tôi muốn nêu ra hai quan điểm chính trước khi đúc kết với một số câu hỏi cần xem xét.
Trước hết, tôi cảm thấy dường như đang có một số lượng lớn bất thường các nghiên cứu về việc ứng dụng hay lạm dụng các số liệu đo lường, nhưng lại rất ít các nghiên cứu về các công ty tạo ra những số liệu đó, cách thức hoạt động cũng mối liên hệ lẫn nhau giữa các công ty này, và về cách thức chúng tìm cách tác động vào bản chất của hoạt động học thuật trên toàn thế giới.
Tại thời điểm này, tôi không cố ý ám chỉ rằng những công ty như Elsevier (tác giả của Scopus), Thomson Reuters (tác giả của ISI Web of Knowledge), và Google (tác giả của Google Scholar) đang tạo ra những tác động tiêu cực (tham khảo bài ‘Regional content expansion in Web of Science®: opening borders to exploration’, một mẩu tin tốt lành về Thomson Reuters mà chúng tôi đã vui mừng tìm thấy), nhưng tôi muốn nêu ra rằng hiện nay rõ ràng có một sự bất xứng giữa số lượng nghiên cứu về đo lường thư mục và nghiên cứu về những công ty thực hiện đo lường thư mục, cũng như về cách thức mà người ta đã đưa những công nghệ đánh giá đó vào cuộc sống và thị trường. Ví dụ khi tìm kiếm trên công cụ ISI Web of Knowledge của Thomson Reuters những thuật ngữ như Scopus, Thomson Reuters, Web of Science và đo lường thư mục ta sẽ nhận được một danh sách gần như vô tận những bài viết so sánh những cơ sở dữ liệu chính, những đổi mới có liên quan đến các cơ sở dữ liệu vv, nhưng thật ngạc nhiên là có rất ít những nghiên cứu về Elsevier hoặc Thomson Reuters (tức các công ty tạo ra công cụ đánh giá). Càng ngày càng ít đi, thực vậy, và khá giống với hiện tượng thiếu vắng các nghiên cứu quan trọng có liên quan đến các tổ chức xếp hạng tín dụng như Moody’s hoặc Standard and Poor’s.
Kế đến, và là một vấn đề có liên quan, dường như vai trò của những công ty như Elsevier, Thomson Reuters, chưa kể các công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd., và TSL Education Ltd., trong việc cổ xúy cho hiện tượng xếp hạng toàn cầu hầu như rất ít được quan tâm, hoàn toàn trái ngược với những tranh luận gay gắt về những phương pháp xếp hạng. Ví dụ, bốn hệ thống xếp hạng toàn cầu chính trong quá khứ cũng như hiện nay là:
• Hệ thống xếp hạng của trường đại học Giao thông Thượng Hải (từ năm 2003 đến nay)
• Hệ thống xếp hạng các trường đại học quốc tế của tạp chí Times Higher Education phối hợp với QS Quacquarelli Symonds. (2004-2009)
• Hệ thống xếp hạng các trường đại học của tạp chí Times Higher Education phối hợp với Thomson Reuters (từ năm 2010 trở đi)
• Hệ thống xếp hạng các trường đại học của QS Quacquarelli Symonds (2010 trở đi)
-- tất cả đều dựa trên cơ sở dữ liệu cung cấp bởi Thomson Reuters và Elsevier.
Một trong những khía cạnh thú vị về sự tham gia của những công ty này vào hiện tượng xếp hạng là họ đã giúp tạo nên sự mong đợi đã được chuẩn hóa là việc xếp hạng diễn ra mỗi năm một lần, cho dù chẳng có bất kỳ lý lẽ rõ ràng (và tất nhiên là không được nêu rõ) nào về tần suất xếp hạng này. Tại sao ta không thực hiện xếp hạng chẳng hạn 3-4 năm/lần, có thể là cùng kỳ hạn tổ chức World Cup hoặc Olympics chẳng hạn? Tôi có thể hiểu tại sao việc xếp hạng các trường đại học phải diễn ra thường xuyên hơn so với kế hoạch xếp hạng bị trì hoãn dài hạn của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (NRC), và chắc chắn việc xếp hạng các trường đại học cần diễn ra thường xuyên hơn số năm đội Pháp vô địch World Cup (xin lỗi nhé …) nhưng tại sao lại phải xếp hạng hàng năm?
Tuy nhiên, hãy thử nhìn nhận vấn đề này dưới quan điểm của các công ty thực hiện xếp hạng so với quan điểm xét ưu, nhược điểm của các phương pháp xếp hạng.
Từ quan điểm của công ty tổ chức xếp hạng, chu kỳ xếp hạng hàng năm cần được chuẩn hóa vì đó là cơ chế để tự do trích xuất dữ liệu từ các trường đại học. Dữ liệu này rõ ràng là dùng để xếp hạng nhưng nó cũng được sử dụng để phát triển các dịch vụ kèm theo và khả năng thực hiện các đối sánh, những dịch vụ này có thể bán lại cho các trường đại học, các hội đồng tài trợ, các quỹ hỗ trợ, các tổ chức khu vực và các tổ chức tương tự (vd Ủy ban Liên minh Châu Âu đang tham gia mạnh mẽ vào việc đối sánh và hiện nay đang tài trợ cho kế hoạch xếp hạng Châu Âu).
Công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd., ví dụ thế, đã tiếp thị cho những dịch vụ này (có thể xem mẩu trích từ brochure của QS) tại gian hàng của họ trong hội nghị NAFSA vừa qua tại thành phố Kansas, trong khi Thomson Reuters đang bận phát triển dự án mà họ gọi là Dự án Hồ sơ toàn cầu về các trường đại học (Global Institutional Profiles Project). Dự án này do Jonathon Adams tiên phong, ông là một cựu nhân viên của Đại học Leeds, người đã thành lập một công ty tư nhân (Evidence Ltd) vào đầu thập niên 90, công ty từng tham gia vào các chương trình Đánh giá nghiên cứu (REA) tại Anh Quốc và chương trình ERA của Châu Âu trước khi được Thomson Reuters mua lại vào tháng 01, 2009.
Các cổng nhập dữ liệu trực tuyến chuyên nghiệp (tham khảo hình bên trên) cũng đang được hình thành. Những cổng này tạo ra một đường lưu chuyển dữ liệu tự do (ít ra là một chiều) giữa các phòng hành chính của hàng trăm trường đại học trên thế giới với các công ty thực hiện xếp hạng.
Nhu cầu về dữ liệu ngày càng tiêu tốn nhiều tài nguyên của các trường đại học. Chẳng hạn, các biểu mẫu của tổ chức QS hiện đang được các trường đại học khắp thế giới sử dụng bao gồm 14 chuyên mục chính và mỗi chuyên mục chính lại có nhiều mục phụ: tất cả bao gồm 60 trường dữ liệu, trong đó có 10 trường rất quan trọng cho hoạt động xếp hạng của QS sẽ được thực hiện vào tháng 10, 2010. Một khi các đường dẫn dữ liệu được thiết lập thì động lực phụ thuộc vào nguồn dữ liệu chắc chắn tồn tại, và mức độ phức tạp của những yêu cầu về dữ liệu có thể tăng dần lên.
Như vậy là mục tiêu chính dường như có liên quan đến việc sử dụng kết quả xếp hạng toàn cầu để cập nhật các cơ sở dữ liệu mà người sử dụng sẽ phải đóng phí, chưa kể là để phát triển các cơ sở tri thức và các tiềm năng tri thức trong nội bộ công ty (sử dụng cho việc tư vấn), hiện đã đang được vận hành trên phạm vi toàn cầu.
Tóm lại, liệu chúng ta có cần quan tâm đến và làm một hành động gì đó về tình trạng không cân xứng đã được xác định giữa các nghiên cứu về đo lường thư mục và về các công ty thực hiện việc đo lường cũng như các công ty dịch vụ thông tin được lắp ghép bên trong chúng hay không?
Tiếp đến, đâu là sự lý do của việc xếp hạng hàng năm so với một cách xếp hạng được phân tích kỹ hơn, xét trên khía cạnh thời gian? Thật ra tại sao ta không thống nhất thực hiện tất cả các xếp hạng quốc tế vào những năm cụ thể (vd: 2010, 2014, 2018) nhằm giảm áp lực đối với các trường đại học trong việc cung cấp dữ liệu, và cho phép những so sánh kịp thời giữa các hệ thống xếp hạng có tính cạnh tranh. Một nhịp độ được tính toán kỹ lưỡng hơn hẳn là sẽ phản ánh được nhịp độ thay đổi thật trong các cơ sở giáo dục đại học hơn là nhu cầu của các công ty thực hiện xếp hạng.
Và cuối cùng, liệu những công ty như Thomson Reuters và Elsevier, cũng như những đối tác của họ (đặc biệt là các công ty QS Quacquarelli Symonds Ltd và TSL Education Ltd), có minh bạch về bản chất các hoạt động của mình như cần có hay không? Có lẽ cần có sự công khai/thảo luận về:
• Điều gì xảy ra với những dữ liệu mà các trường đại học tự nguyện cung cấp?
• Điều gì được quy định trong các hợp đồng giữa các tổ chức xếp hạng (vd giữa Times Higher Education và Thomson Reuters)?
• Các trường có những quyền lợi gì liên quan đến việc kiểm tra công khai và sử dụng mọi dữ liệu và phân tích có liên quan được tạo ra dựa trên các dữ liệu mà các trường đã cung cấp từ đầu?
• Ai sẽ quản lý, hoặc ít ra là quan sát, mối quan hệ giữa các công ty trên và các trường đại học trên thế giới? Có phải mối quan hệ này tốt nhất nên tiếp tục dựa trên cơ sở quan hệ song phương giữa trường và công ty? Hay cách tiếp cận hiện nay không phù hợp? Nếu không phù hợp thì nên chăng cần có một tổ chức thứ ba tham gia vào mối quan hệ này ở phạm vi quốc gia (vd: Bộ Giáo dục Hoa Kỳ hoặc các hiệp hội đại học quốc gia), ở phạm vi khu vực (như Hiệp hội đại học Châu Âu), và/hoặc trên phạm vi quốc tế (vd: Hiệp hội đại học quốc tế)?
Tóm lại, chẳng phải lúc này chính là thời điểm thích hợp khi cơ chế minh bạch vốn đang được áp đặt cho các trường đại học trên thế giới cũng phải được áp dụng vào các công ty tư nhân đang đứng đằng sau các hệ thống đo lường thư mục và xếp hạng toàn cầu đó hay sao?
Kris Olds
Nguồn: Global Higher Education
Subscribe to:
Posts (Atom)