Sunday, May 31, 2020

Làm thế nào để nói dối bằng thống kê? Phần mở đầu

Phần dịch dưới đây là do tôi thực hiện từ cuốn sách nhỏ How to lie with statistics của Darrell Huff, xuất bản lần đầu ở Mỹ năm 1954 (hình như thế), và đã được tái bản rất nhiều lần. Bản in giấy mà tôi có trong tay được in năm 1993.

Tôi đặt mua cuốn sách này qua amazon vào khoảng năm 1998, khi vừa hoàn thành xong luận án tiến sĩ từ Úc. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp cận và rất thích thú khi sử dụng thống kê trong nghiên cứu và cảm thấy mình cần phải củng cố căn bản thống kê nhiều hơn nữa. Vì trước đó có được học gì đâu.

Từ đó đến nay đã hơn 30 năm rồi. Rất nhiều thứ đã thay đổi trong ngành giáo dục của chúng ta trong đó không thể nói là không có những tiến bộ đáng khen ngợi.  Nhưng riêng về việc dạy thống kê cho học sinh sinh viên thì tôi thấy hình như vẫn dậm chân tại chỗ, nếu không nói là có đôi chỗ tệ đi. Vì ngày nay việc phân tích thống kê đã trở nên quá dễ dàng với  các phần mềm chuyên dụng, nên ai cũng có thể chạy ra một lô số liệu mà không hiểu gì hết và diễn giải lung tung nhưng vẫn được người khác nghe và tin tưởng.

Vì vậy tôi cảm thấy mình cần phải dịch ít ra là một vài phần quan trọng của cuốn sách nhỏ này ra để chia sẻ với mọi người. Cũng khá mất thì giờ nên không nhanh được; ai hứng thú thì xin góp tay với tôi nhé (nhưng phải khá tiếng Anh và có chút background về thống kê mới được).

Nào, xin mời các bạn.
------


Statistical thinking will be one day as necessary for efficient citizenship as the ability to read and write. (H.G.Wells)

 "Sẽ có ngày tư duy thống kê trở thành một kỹ năng cần thiết để sống có hiệu quả với tư cách là một công dân, chẳng kém gì khả năng đọc và viết." 

----- 
Lời cảm tạ 
Những ví dụ nhỏ về những lỗi sai và ngụy biện khi dùng thống kê được nêu trong tập sách này đã được thu thập từ nhiều nơi và được nhiều người trợ giúp. Sau lời kêu gọi của tôi thông qua Hiệp hội Thống kê Hoa Kỳ, một số nhà thống kê chuyên nghiệp - những người mà không cần nói thì bạn cũng biết là vốn rất căm ghét việc lạm dụng số liệu thống kê - đã gửi cho tôi các ví dụ từ bộ sưu tập của mình. Những người này, tôi đoán, sẽ hoàn toàn vui lòng khi không thấy tên mình ở đây. Tôi cũng tìm thấy một số ví dụ có giá trị trong một số cuốn sách, chủ yếu là: Thống kê kinh doanh, do Martin A. Brumbaugh và Lester S. Kellogg; Đánh giá ý kiến ​​công chúng, do Hadley Cantril; Trình bày đồ họa, do Willard Cope Brinton; Thống kê kinh doanh thực hành, do Frederick E. Croxton và Dudle J. Cowden; Thống kê cơ bản, do George Simpson và Fri Kafka; và Phương pháp thống kê sơ cấp, của Helen Walker. 

Mở đầu 

"Ở khu này có rất nhiều tội phạm", cách đây không lâu bố vợ tôi đã tuyên bố như thế sau khi ông rời Iowa để đến California. Và quả đúng là vậy - nếu tin vào tờ báo mà ông đã đọc. Đó là một tờ báo cần mẫn không bỏ qua bất cứ tin tức nào về tội phạm trong khu vực, và được biết tờ báo này đưa tin về một vụ giết người tại Iowa còn kỹ hơn là tờ nhật báo lớn trong khu vực xảy ra vụ giết người ấy. 

Kết luận của bố vợ tôi cũng có thể xem là một kiểu thống kê. Nó được dựa trên một mẫu (sample), dù đó là một mẫu rất thiên lệch (biased). Cũng giống như nhiều số liệu thống kê phức tạp hơn, thống kê của bố vợ tôi mắc lỗi giả định sai khi cho rằng số lượng và độ dài của những bài báo viết về tội phạm là một số đo chính xác về tội phạm. 

Vào mùa đông cách đây vài năm một số nhà điều tra độc lập đã báo cáo những số liệu về một loại thuốc kháng histamin. Tất cả đều đưa ra kết quả tương tự cho thấy một tỷ lệ lớn các trường hợp bị cảm lạnh đã được chữa khỏi sau khi uống thuốc. Kết quả này được quảng cáo ầm ĩ dẫn đến sự bùng nổ các loại dược phẩm. Điều này là do tâm lý luôn mong đợi một loại thuốc tiên, và cũng phản ánh một hiện tượng kỳ lạ, đó là người ta luôn từ chối không chịu xem lại các số liệu thống kê trong quá khứ về một điều đã quá rõ ràng. Như Henry G. Felsen, một người hài hước và không phải là một nhân vật có thẩm quyền về y khoa, đã chỉ ra cách đây khá lâu rằng nếu được điều trị đúng cách thì bệnh cảm lạnh sẽ được chữa khỏi chỉ trong bảy ngày, còn nếu không chữa gì cả thì bị kéo dài dai dẳng cả tuần.

Tình hình là như thế đó, với tất cả những gì bạn đọc thấy và nghe thấy. Những con số trung bình, các hệ số tương quan, các xu hướng và đồ thị không phải lúc nào cũng chính xác như ta tưởng. Những số liệu thống kê có thể có những ý nghĩa khác, nhiều hơn những gì ta có thể đọc ra rất nhiều, mà cũng có thể có ý nghĩa ít hơn. Ngôn ngữ bí hiểm của thống kê, rất hấp dẫn trong một nền văn hóa tôn sùng dữ liệu, được sử dụng để đưa tin giật gân, thổi phồng, gây nhầm lẫn và đơn giản hóa mọi vấn đề. Tất nhiên phương pháp thống kê và thuật ngữ thống kê là cần thiết trong các báo cáo rộng rãi về xu hướng kinh tế và xã hội, về môi trường kinh doanh, về các "ý kiến" thăm dò điều tra dân số. Nhưng nếu không có những cây bút biết viết lách một cách trung thực và hiểu biết, cũng không có các độc giả hiểu rõ ý nghĩa của những con số thống kê, thì kết quả chỉ có thể là những câu từ vô nghĩa. 

Trong các bài viết phổ biến về các vấn đề khoa học, sự lạm dụng thống kê tràn ngập hình ảnh những "người hùng" cật lực làm việc ngoài giờ mà không có tiền phụ trội trong những phòng thí nghiệm thiếu ánh sáng. Giống như người thợ trang điểm "dặm thêm chút bột phấn, pha thêm chút màu son", các số liệu thống kê đang được biến hóa theo kiểu trang điểm cô dâu khiến những sự kiện quan trọng bỗng trở thành "trông không còn nhận ra cô ấy nữa". Một số liệu thống kê được diễn giải khéo còn có tác dụng lớn hơn cả "lời nói dối lớn" của Hitler; nó dẫn dắt người ta đến những sai lầm, nhưng người ta sẽ không bắt bẻ được bạn.

Cuốn sách này có thể xem như là cuốn sách nhập môn trong việc sử dụng số liệu thống kê để đánh lừa. Bạn có thể cho rằng đây là một cuốn cẩm nang dành cho những tên lừa đảo. Có lẽ tôi có thể biện minh cho mình bằng cách so sánh cuốn sách với việc một tên trộm đã nghỉ hưu công bố những hồi ức của mình, và những gì tên trộm công bố đã dẫn đến một khóa học sau đại học về cách bẻ khóa và lột xác: Kẻ gian đã biết hết những mánh khóe này rồi; còn những người lương thiện thì cần phải biết để tự vệ.

Friday, May 29, 2020

Quản lý chất lượng toàn diện trong giáo dục (4): Phần giới thiệu, trang 1-2

Introduction
"Have you ever seen a teacher who loves his or her job, who is involved and enthusiastic, but who is a bad teacher? I haven't." ( Enid Brown interviewed by Ron Brandt 1992)

Mở đầu
"Bạn đã bao giờ thấy một giáo viên yêu thích công việc của mình, luôn tham gia mọi việc và rất nhiệt tình, nhưng lại là một giáo viên tồi? Tôi thì chưa." (Enid Brown, trả lời phỏng vấn do Ron Brandt  thực hiện năm 1992)

Imagine a "quality" school. Imagine engaged, capable teachers, instructing with passion. Imagine students seeking new opportunities to learn and create, inventing new ways of using their growing abilities, concerned parents working with the school, and an administration openly committed to
the pursuit of quality. Imagine a school district that produced young adults committed to lifelong learning and growth and armed with the skills and desire to contribute to society.
Hãy tưởng tượng một trường "có chất lượng". Hãy tưởng tượng các giáo viên có năng lực, nhiệt tình, và đam mê dạy học. Hãy tưởng tượng những học sinh luôn tìm mọi cơ hội để học hỏi và sáng tạo, tự phát minh ra những phương cách mới để sử dụng khả năng ngày càng tăng của mình, những phụ huynh quan tâm luôn chung tay với với nhà trường và một chính quyền cam kết theo đuổi chất lượng. Hãy tưởng tượng một khu học chánh sản sinh ra những người trẻ tuổi say mê học tập và phát triển suốt đời, đồng thời được trang bị đầy đủ các kỹ năng và có mong muốn đóng góp cho xã hội.

As you read this Bulletin, keep your own vision of quality in the back of your mind and use it to keep your focus. No one can really understand the transformational power of Total Quality Management without a personal vision of quality and, conversely, an awareness of the enormous costs we pay
for our current lack of quality in education.
Khi bạn đọc Bản tin này, hãy hình dung trong đầu những mong đợi của bạn về chất lượng và sử dụng nó để có được sự tập trung. Không ai có thể thực sự hiểu được sức mạnh biến đổi của Quản lý chất lượng toàn diện nếu không có tầm nhìn cá nhân về chất lượng, và ở chiều ngược lại, nếu không nhận thức về chi phí khổng lồ mà chúng ta phải trả cho sự thiếu hụt chất lượng giáo dục hiện nay.

Total Quality Management (TQM), or Total Quality Learning (TQL), offers no insight or blueprint on how to change an organization to achieve higher quality results, but it does create an environment in which people develop the ability, knowledge, motivation, and opportunity to improve. People work better together, and this coordination and alignment of work activities creates improvements in quality.
Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) hoặc Chất lượng học tập tổng thể (TQL) không đưa ra sự hiểu biết thấu đấo hoặc kế hoạch chi tiết về cách thay đổi một tổ chức để đạt đưowjc chất lượng cao hơn, mà tạo ra một môi trường để mọi người phát triển khả năng, kiến ​​thức, động lực và cơ hội cải thiện. Mọi người làm việc tốt hơn với nhau, và sự phối hợp và liên kết các hoạt động công việc này tạo ra sự cải thiện về chất lượng.

The ideas you'll encounter within the heading of TQM provide an intellectual feast of discussion and self-discovery. Where else can you find candid assertions that directly contradict traditional beliefs about how to manage and relate to people in our organizations? What other improvement strategy asks for a life-long commitment to learning and self-improvement? How often are you challenged to confront the basic assumptions about why people behave in certain ways? When did you last reinvent your role in the workplace?
Các ý tưởng bạn sẽ gặp trong danh mục các ý tưởng của TQM cung cấp chất liệu trí tuệ để bạn có thể thảo luận và tự khám phá. Ở nơi nào khác bạn có thể tìm thấy những lời khẳng định thẳng thừng và mâu thuẫn trực tiếp với những niềm tin truyền thống về phương pháp quản lý và quan hệ với mọi người trong các tổ chức? Chiến lược cải tiến nào khác đòi hỏi sự cam kết lâu dài trong học tập và cải thiện bản thân? Liệu bạn có thường xuyên bị thách thức khi đối mặt với các giả định cơ bản về lý do tại sao mọi người cư xử theo những cách nhất định? Lần cuối cùng bạn tái tạo vai trò của mình ở nơi làm việc là khi nào?

There are three things you need to keep in mind as we explore quality. The first is that TQM principles, when properly applied, will result in quality improvements. There is no question about it. Second, the improvements generally require a transformation of the organization and the ways people perceive their roles in that organization. Finally, the tenets of TQM, once understood, go beyond our careers and provide tools for improving the quality of every aspect of our lives. The same methods of continuous improvement we apply to our factories and schools also apply to our neighborhoods and families.
Có ba điều bạn cần ghi nhớ khi tìm hiểu chất lượng. Đầu tiên là các nguyên tắc TQM, khi được áp dụng đúng cách, sẽ dẫn đến cải tiến chất lượng. Đây là điều không còn gì để thắc mắc. Thứ hai, cải tiến nói chung đòi hỏi một sự chuyển đổi của tổ chức và cách mọi người nhận thức vai trò của họ trong tổ chức đó. Cuối cùng, các nguyên lý của TQM, một khi đã được hiểu, sẽ vượt xa những ứng dụng trong công việc và cung cấp các công cụ để cải thiện chất lượng mọi khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta. Các phương pháp cải tiến liên tục tương tự mà chúng ta áp dụng trong các nhà máy hoặc trường học cũng sẽ áp dụng được trong khu phố và trong gia đình của chúng ta.

Box:
TQM is not a prescription for some sort of remediation. It is not an adjunct to existing processes. It is means of continuously reinventing the system to achieve the goals of the organization.
Source: Texas Association of School Administrators (1992)

TQM không phải là một toa thuốc giúp khắc phục những yếu kém. Đó cũng không phải là một sự bổ sung cho các quy trình hiện có, mà là phương tiện liên tục phát minh lại hệ thống để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Nguồn: Hiệp hội Hiệu trưởng bang Texas (1992)