Showing posts with label hied law. Show all posts
Showing posts with label hied law. Show all posts

Friday, September 9, 2011

"Nhiều ý kiến không đồng tình dự luật Giáo dục đại học" (Thanh Nien)

Source: http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110909/Nhieu-y-kien-khong-dong-tinh-du-luat-Giao-duc-dai-hoc.aspx
-----
Nhiều ý kiến không đồng tình dự luật Giáo dục đại học
09/09/2011 2:17

Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội vừa tổ chức các buổi tọa đàm góp ý dự luật Giáo dục đại học (GDĐH) của Bộ GD-ĐT. Dự luật lần thứ 4 (đưa ra lần 2) tiếp tục bị nhiều nhà giáo dục phê bình.

GS-TS Nguyễn Minh Thuyết - nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, băn khoăn về việc bản dự thảo lần này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết những vấn đề cốt tử của GDĐH hiện nay. Đó là phải giải quyết được tốt nhất quan hệ giữa phát triển quy mô với nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó chất lượng đào tạo phải được đặt lên hàng đầu.

Trong khi đó GS-TS Bành Tiến Long - nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, đề nghị bổ sung điều khoản về Hội đồng trường trong dự luật GDĐH. Ông cho rằng: “Các trường có Hội đồng trường để chịu trách nhiệm về quản trị nhà trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tất cả những vấn đề liên quan theo quy định nhà nước và đại diện nhà nước giám sát tính tự chủ quản lý của nhà trường”.

TS Lê Viết Khuyến - Hiệp hội Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, cũng cho biết dự thảo không thể hiện rõ một tư tưởng chủ đạo nào, có kết cấu vụn và được soạn thảo theo kiểu lắp ghép cơ học các điều khoản ở Luật Giáo dục (sửa đổi), điều lệ trường ĐH…

Trong một diễn biến khác, trước nhiều ý kiến đề nghị cần quy định về trường ĐH vì lợi nhuận và trường ĐH không vì lợi nhuận, ban soạn thảo đã bổ sung điều 10 trong dự luật GDĐH: “Khuyến khích cơ sở GDĐH tư thục và cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận… Cấm lợi dụng các hoạt động GDĐH vì mục đích vụ lợi”. Cũng theo đó, tại điểm a, khoản 3 điều 65 của dự thảo, quy định phần tài chính chênh lệch thu và chi từ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học… sẽ được miễn thuế.

Đăng Nguyên

Thursday, September 8, 2011

"Không thể là “luật khung” thêm nữa"

Thêm một bài khác về Luật Giáo dục đại học, cũng trên báo Tiền Phong hôm nay. Ở đây.

Nhân tiện, ai cần đọc bản dự thảo này thì vào tải xuống ở đây, trên trang web của Bộ GD&ĐT.

Enjoy!


------
TP - Nền giáo dục đại học nước ta đang tồn tại nhiều vấn đề. Những hiện tượng như chỉ vài điểm cũng đậu đại học; các trường ngoài công lập đua nhau tuyển sinh, thậm chí sẵn sàng bỏ tiền “dụ” sinh viên như những đợt khuyến mãi bán hàng tồn kho, lỗi thời… đang gây bức xúc dư luận. Một bộ luật điều chỉnh hoạt động giáo dục bậc đại học để lĩnh vực tối quan trọng này đi đúng hướng là cần thiết trong điều kiện hiện nay.

Thống kê của Bộ Giáo dục- Đào tạo cho biết, từ năm 1999 đến nay, số trường CĐ, ĐH ở nước ta liên tục tăng. Năm 1999 cả nước có 153 trường ĐH, CĐ thì đến năm 2004 số trường ĐH, CĐ tăng lên 230. Đến năm 2010-2011, số trường là 386. Tức là sau trên dưới 10 năm, số trường ĐH, CĐ tăng hơn 200%.

Chính vì vậy, những kỳ vọng vào một bộ luật dành riêng cho lĩnh vực giáo dục đại học (GDĐH) chắc chắn không ngoài việc đưa hoạt động này vào quy củ theo tinh thần của luật Giáo dục, một bộ luật được coi là khung pháp lý của hoạt động giáo dục nói chung. Tuy vậy, dự thảo luật GDĐH dường như lại mang dáng dấp của một “luật khung”. Tức là không cụ thể. Không ít tân sinh viên lo tương lai bấp bênh, chưa rõ “dịch vụ” mà họ bỏ tiền ra mua có đáng đồng tiền bát gạo, và ai sẽ phải chịu trách nhiệm nếu họ lỡ mua phải “hàng giả”?

Chỉ đơn cử một vấn đề mà thực tế đang đòi hỏi nhưng dự luật lại nêu chung chung, mơ hồ: đó là phân định rạch ròi khái niệm giáo dục có lợi nhuận. Cần phải minh định rõ ràng, các trường này với các trường phi lợi nhuận. Việc phát triển các ngành nghề, lĩnh vực chiến lược, lâu dài, mang tính công ích… cần được ưu tiên cho trường công với những chính sách đặc thù.

Nhu cầu kinh doanh giáo dục là hoàn toàn chính đáng, cũng chính đáng ngang với nhu cầu được thụ hưởng nền giáo dục tốt của người dân vậy. Nhưng khi đã minh định tiêu chí giáo dục có lợi nhuận thì cũng cần phải coi nó như một ngành dịch vụ, hơn thế còn là ngành dịch vụ đặc biệt với những điều kiện ngặt nghèo, chặt chẽ. Sản phẩm, dịch vụ mà các trường cung cấp không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người học mà còn tạo nguồn nhân lực, động lực phát triển xã hội, hoặc kéo chậm lại tốc độ hiện đại hóa, cường thịnh hóa đất nước. Khi đã coi giáo dục đại học là sản phẩm dịch vụ, trường đại học như cơ sở sản xuất kinh doanh thì tất nhiên họ có quyền tự chủ trong hoạt động.

Chính vì vậy, chắc chắn xã hội không mong đợi một bộ luật quan trọng và nóng bỏng như luật GDĐH tiếp tục ra đời dưới dạng “luật khung” với nhiều khiếm khuyết.

Anh Minh

“Dự thảo luật giáo dục đại học: Một bước lùi”

Tôi vừa đọc được bài này hay quá trên báo Tiền Phong hôm nay, nên phải chép về đây để lưu làm tài liệu tham khảo sau này. Nếu mọi người muốn đọc bản gốc thì ở đây. Enjoy!
----
TP - Chưa có đề án tổng thể về một cuộc cải cách giáo dục mới, chưa có chiến lược phát triển giáo dục đại học (GDĐH), nên sự ra đời của Luật GDĐH lần này dễ là cuộc đẻ non, một bước lùi lớn của hệ thống GDĐH – các chuyên gia giáo dục nhận định.

Ông Trần Hồng Quân, nguyên Bộ trưởng GD&ĐT gọi bản dự thảo luật GD&ĐH mới được Bộ GD&ĐT đưa ra trưng cầu ý kiến các nhà giáo là một cuộc đẻ non. Theo ông Quân, những nhà làm luật cần xác định Luật GD hiện hành đã là luật khung, bao trùm tất cả nên Luật GDĐH cần phải cụ thể. Tuy nhiên, dự thảo luật này lại có nhiều điểm giống luật khung với rất nhiều quy định chung chung về các cơ sở đào tạo đến cơ quan quản lý.

GS Lâm Quang Thiệp cho rằng dự thảo Luật GDĐH chỉ đề cập việc đào tạo ở bậc ĐH, một phạm vi rất hẹp của nền GDĐH. Các sứ mạng nghiên cứu sáng tạo tri thức, phản biện xã hội còn quá mờ nhạt. Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường ĐH được xem là yếu tố quan trọng nhất để phát triển hệ thống GDĐH. Trong đó khẳng định vai trò của hội đồng trường trong một trường đại học tự chủ, như quy định trong Luật GD hiện hành. Vậy mà, dự thảo Luật GDĐH không đề cập đến hội đồng trường. GS Thiệp gọi đây là một bước lùi rất lớn của hệ thống GDĐH.

GS. Thiệp cho hay, Nghị quyết 05 của Chính phủ năm 2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, văn hóa, thể thao khẳng định: Các trường tư có thể theo cơ chế vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận, nhưng Nhà nước khuyến khích các trường đi theo hướng không vì lợi nhuận. Tuy nhiên, từ đó đến nay các quy chế ĐH tư được ban hành chỉ tạo hành lang pháp lý cho các trường vì lợi nhuận. Không có quy chế nào cho các trường không vì lợi nhuận, điều đó gây nên bất ổn và chệch hướng đối với một số trường ĐH ngoài công lập. Theo GS Thiệp, lẽ ra luật GD ĐH lần này phải khắc phục thiếu sót đó, tuy nhiên trong dự thảo Luật GDĐH cũng không đề cập đến các khái niệm GD có lợi nhuận hay phi lợi nhuận.

Tuy nhiên, GS Hoàng Xuân Sính cho hay, đây là lúc Luật GDĐH cần thiết phải ra đời vì Luật GD đã quá lạc hậu và "quản các trường ĐH như quản một đứa trẻ". Lần này, các trường được tự chủ hơn trong tuyển sinh, chương trình đào tạo, nhân lực. Nhưng chắc chắn các trường cũng chưa thỏa mãn và sẽ đòi thêm quyền tự chủ hơn nữa.

“Dự thảo Luật GD ĐH nói về đội ngũ trí thức, đảm bảo đời sống cho lực lượng này. Nhưng nói thực tôi thách … làm được. Lý do là không có tiền”. Tuy nhiên, bà Sính lạc quan cho rằng, đã đưa ra trong luật thì sẽ phải tìm kiếm cách làm, không nhẽ lại bỏ?
Từ khi Bộ GD&ĐT xây dựng dự thảo Luật GDĐH và cho đăng tải để lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội, đã có rất nhiều băn khoăn từ phía dư luận, từ việc sinh viên có thể học ĐH trong 1,5 năm, đến vấn đề tự chủ của các trường, tên gọi trong hệ thống (cao đẳng thường và cao đẳng nghề) …

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga cho biết, dự thảo Luật GDĐH được dự thảo từ cách đây một năm rưỡi và đây là bản dự thảo lần thứ tư. Ban soạn thảo luật cũng đã tiếp thu các ý kiến đóng góp. Theo lộ trình, dự thảo sẽ được trình lên Chính phủ trong kỳ họp Chính phủ tới (12-9).

Một vài con số về hệ thống ĐH-CĐ
Theo số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT từ năm 1999 đến nay số lượng trường CĐ, ĐH ở nước ta liên tục tăng. Năm 1999 cả nước có 153 trường ĐH, CĐ với 893.754 sinh viên (SV) thì đến năm 2004 số trường ĐH, CĐ tăng lên 230 trường với 1.319.754 SV. Đến năm 2010-2011 số trường ĐH, CĐ tăng 386 trường với 2.162.106 SV. Cụ thể: Năm học 1999 - 2000 số trường CĐ trên cả nước là 84 trường (5 ngoài công lập - NCL) với 173.912 SV. Năm 2004 - 2005 tăng lên 137 trường (7 trường NCL) với 273.463SV. Năm 2010 - 2011 tăng lên đến 223 trường (30 trường NCL) với 726.219 SV. Trong khi đó, ở bậc ĐH năm học 1999- 2000 có 69 trường ĐH (17 trường NCL) với 719.842 SV. Năm 2004 - 2005 tăng lên 93 trường (22 NCL) với 1.046.219 SV. Năm 2010 - 2011 tăng lên đến 163 trường (53 NCL) với 1.435.887 SV.

Số lượng giảng viên ở các trường cũng tăng theo nhưng số giảng viên có trình độ cao thì tăng không đều.
Quang Phương (tổng hợp)

Friday, May 6, 2011

Nhân góp ý dự thảo Luật giáo dục đại học Việt Nam, bàn về “tự chủ đại học”

Bài viết này của tôi vừa được đăng trên Tạp chí Tia Sáng số ngày 5/5/2011, có thể đã được biên tập lại chút ít. Chưa thấy đưa lên trang Tia Sáng online. Dưới đây xin đăng lại bài viết nguyên bản của tôi để chia sẻ đến bạn bè và những người hay đọc blog này.

Cập nhật ngày 9/5/2011
Bài đăng trên Tạp chí Tia Sáng nay đã được đưa lên phiên bản online, tại đây.

--------------
Trong những ngày qua, báo chí Việt Nam đã cho đăng tải ý kiến của các cá nhân, tổ chức góp ý cho bản dự thảo Luật Giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam. Những ý kiến này rất đa dạng và tập trung vào các khía cạnh khác nhau của bản dự thảo, nhưng hầu hết đều thống nhất ở một điểm: dự thảo Luật Giáo dục đại học hiện nay chưa đủ mạnh để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học trong thời gian tới. Một vấn đề được xem là quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay là quyền tự chủ của các trường đại học, tiếc thay, lại chưa được đề cập đến một cách đầy đủ trong bản dự thảo đang được góp ý.

Tự chủ đại học: từ “nhà nước kiểm soát” đến “nhà nước giám sát”
Trao quyền tự chủ cho các trường đại học là điều không có gì mới ở các nước phương tây, nhưng cũng không phải là một hiện tượng phổ biến ở mọi nơi. Theo báo cáo về quản trị đại học trên thế giới của World Bank năm 2008, hiện vẫn đang tồn tại 4 mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mức độ hoàn toàn không tự chủ là mô hình nhà nước kiểm soát (state control) ở Malaysia, đến các mô hình tự chủ ngày càng nhiều là bán tự chủ (semi-autonomous) ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc [1]. Mặt khác, cũng theo báo cáo này, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là thay đổi từ mô hình nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn – một sự thay đổi có tên gọi là sự chuyển dịch từ mô hình nhà nước kiểm soát (state control) sang mô hình nhà nước giám sát (state supervision) [2].

Chuyển đổi từ mô hình nhà nước kiểm soát sang các mô hình tự chủ là điều không dễ dàng. Đối với những quốc gia đang phát triển, có hai lý do thường được đưa ra để giải thích cho sự duy trì vai trò tuyệt đối của nhà nước; đó là (1) yêu cầu kiểm soát chất lượng, và (2) mục tiêu công bằng xã hội. Tuy nhiên, trước những thay đổi lớn trong bối cảnh hiện nay như sự gia tăng nhu cầu học tập ở bậc đại học của người học, sự phát triển cả về số lượng lẫn loại hình của các trường đại học-cao đẳng, đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực, cũng như sự phát triển vũ bão của các ngành khoa học-kỹ thuật, thì phương pháp quản lý bằng sự kiểm soát tuyệt đối của nhà nước ngày càng tỏ ra kém hữu hiệu. Cũng vậy, không thể tạo ra sự công bằng thông qua việc áp dụng cùng một phương pháp quản lý cho tất cả mọi trường đại học khi chúng có các sứ mạng, điều kiện, và bối cảnh hoạt động khác xa nhau. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì mô hình nhà nước kiểm soát sẽ chỉ có tác dụng cản trở sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc gia.

Khi xem xét các dự án cải cách giáo dục được tiến hành trên thế giới trong thời gian vừa qua, trong đó bao gồm cả việc xây dựng mới và ban hành luật giáo dục đại học lần đầu tiên, hoặc điều chỉnh bổ sung các đạo luật mới cho giáo dục đại học, có thể thấy vấn đề tự chủ luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi nhất cần giải quyết trước khi có thể quyết định những khía cạnh cụ thể khác [3]. Với việc xây dựng luật giáo dục đại học lần đầu tiên tại Việt Nam hiện nay, chúng ta đang có cơ hội hiếm có để tạo ra một thiết kế tổng quát có tính hội nhập và hướng đến sự phát triển cho nền giáo dục đại học của Việt Nam trong tương lai. Việc bỏ qua không đề cập đến vấn đề tự chủ đại học trong bản dự thảo luật giáo dục đại học hiện nay quả là một thiếu sót không nên có.

“Danh xưng” của các cơ sở giáo dục và các mức độ tự chủ
Nên trao quyền tự chủ cho các trường đại học của Việt Nam như thế nào, khi hiện nay chúng ta đã có hơn 400 trường đại học và cao đẳng với các đặc điểm rất khác nhau? Những trường này thuộc các địa phương, các ngành nghề, các loại hình trường khác nhau, với bề dày lịch sử và điều kiện hoạt động vô cùng đa dạng đến độ có thể không có bất kỳ đặc điểm gì chung, vậy liệu có thể giao quyền tự chủ cho tất cả các trường này hay chăng? Thực ra, việc trao quyền tự chủ cho các trường không nhất thiết phải xảy ra đồng đều trong toàn bộ một hệ thống giáo dục đại học. Trên thế giới hiện nay, có thể thấy trong cùng một quốc gia vẫn tồn tại nhiều hơn một mô hình quản trị được áp dụng. Ngay cả ở những nước phát triển, nơi có nhiều trường được hoàn toàn độc lập (mô hình 4), vẫn có thể có những trường bị kiểm soát hoàn toàn (mô hình 1).

Mức độ tự chủ của cơ sở giáo dục đại học ở một số nước trên thế giới được biểu hiện rõ ràng thông qua tên gọi của từng cơ sở giáo dục đại học, trong đó không phải bất kỳ một trường nào có đào tạo cấp bằng cử nhân trở lên cũng có thể được gọi là “university” (dịch sang tiếng Việt là “đại học”), mà còn có nhiều danh xưng khác như “college” , “academy” , “institute” – những từ này hiện khó dịch sang tiếng Việt một cách chính xác do chúng ta chưa phân biệt rõ các loại hình cơ sở giáo dục đại học khác nhau. Ở nhiều nước có nền giáo dục đại học phát triển cao, việc cho phép một cơ sở giáo dục được công nhận “danh xưng đại học” (tạm dịch cụm từ “university status” trong tiếng Anh) là một quy định rất chặt chẽ ở mức độ cao nhất là mức độ lập pháp, có nghĩa là được ghi rõ trong luật giáo dục. Và một khi một trường đã được hệ thống giáo dục đại học của một nước công nhận “danh xưng đại học” thì trường đó cũng đồng thời được trao cho mức độ tự chủ cao nhất trong hệ thống đó.

“Danh xưng” của một cơ sở giáo dục đại học vì thế không phải là một việc làm tùy tiện do mỗi cơ sở giáo dục tự quyết định, mà phải được quy định chặt chẽ bằng luật, vì sự khác biệt về danh xưng của trường này so với trường khác có liên quan đến sự khác biệt về mức độ tự chủ và quyền hạn của một trường trong mối quan hệ với nhà nước. Điều này cũng cho phép một hệ thống giáo dục đại học cung cấp thông tin về đẳng cấp và năng lực của trường đó cho các đối tượng bên ngoài. Do hiện nay điều này còn chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam, nên việc xây dựng Luật giáo dục đại học tại Việt Nam vào lúc này chính là cơ hội để xác định rõ ở mức độ cao nhất (mức độ lập pháp), thế nào là một cơ sở giáo dục đáng được công nhận “danh xưng đại học”. Việc xác định các loại danh xưng cho một cơ sở giáo dục đại học chính là một biện pháp quan trọng để giải quyết bài toán liên quan đến “tự chủ đại học” đã được thảo luận trong những phần trên.

Quay trở lại việc áp dụng các mức độ tự chủ khác nhau tại các loại trường khác nhau (với những danh xưng khác nhau), có thể nói đây là biện pháp duy nhất khả thi để có thể giải quyết bài toán lớn của giáo dục đại học ngày nay, đó là: Làm thế nào vừa mở rộng tiếp cận giáo dục đại học cho mọi đối tượng nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để đạt được mục tiêu phát triển nhân lực và tính cạnh tranh quốc gia. Khi giao quyền tự chủ cho những trường đã có đủ điều kiện về năng lực, nhà nước sẽ có nhiều điều kiện hơn để có thể kiểm soát chặt chẽ và hữu hiệu những trường chưa có đủ điều kiện để tạo ra chất lượng. Trong khi đó, những trường được tự chủ cũng sẽ có điều kiện phát huy tính sáng tạo của mình để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực, và tồn tại thành công trước thách thức của sự cạnh tranh từ các trường đại học trên thế giới. Nói cách khác, nó giải quyết cả hai vấn đề chất lượng và công bằng đã nêu ở phần trên.

Góp ý cho Dự thảo Luật giáo dục đại học Việt Nam về vấn đề tự chủ
Để Luật giáo dục đại học của Việt Nam có thể đạt được những mục tiêu như phát biểu của GS Đào Trọng Thi, chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội trong bài viết trên báo Tuổi trẻ ngày 21/4/2011, là “phải giải quyết được hai vấn đề lớn. Một là chất lượng đào tạo - vấn đề đang gây bức xúc lớn trong xã hội, hai là giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục ĐH”, rõ ràng vấn đề tự chủ đại học (ở các mức độ khác nhau cho các loại hình trường khác nhau) phải được đưa vào luật. Nhưng đưa như thế nào? Chúng tôi xin đề nghị:

1. Trong Chương 1, “Những quy định chung”, cần có thêm phần giải thích ý nghĩa và các đặc điểm phân biệt của các “danh xưng” hiện đang được sử dụng tại Việt Nam để chỉ các loại hình trường khác nhau như “đại học” (trong các cụm từ “đại học quốc gia”, “đại học vùng”), “trường đại học”, “trường thành viên” (“học viện”, “trường cao đẳng”, “trường cao đẳng nghề”, vv. Đồng thời, cần xác định các từ tương đương của các từ này trong tiếng Anh; đây cũng sẽ là căn cứ để dịch các văn bằng, chứng chỉ của Việt Nam ra tiếng nước ngoài một cách chính xác và thống nhất.
2. Trong Chương 2, “Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ sở giáo dục”, cần có thêm những điều liên quan các danh xưng của một cơ sở giáo dục, phân biệt rõ những đặc điểm của một cơ sở giáo dục có thể được công nhận “danh xưng đại học” (university status) với những loại hình trường khác thấp hơn về quy mô, về trình độ đào tạo, hoặc về năng lực triển khai các hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Đồng thời với việc xác định danh xưng của các trường, cần đưa thêm các điều khoản liên quan đến các mức độ tự chủ của mỗi loại hình trường khác nhau. Đặc biệt, rất cần làm rõ mô hình “đại học quốc gia”, một loại mô hình thí điểm về tính tự chủ cao trong giáo dục đại học của Việt Nam, tồn tại gần hai thập niên nay với những thành tựu và kinh nghiệm có thể chia sẻ cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam, nhưng đến nay vẫn hoàn toàn chưa được nhắc đến trong luật giáo dục.

Trước khi kết thúc, xin trích dịch một vài phần trong các điều khoản của Luật giáo dục đại học Ba Lan 2005, có liên quan đến hai góp ý của chúng tôi trên đây để mọi người tham khảo:

Điều 3
1. Danh xưng “đại học” (university) được sử dụng để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện để đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất là 12 chuyên ngành, trong đó có tối thiểu 2 chuyên ngành về các ngành khoa học nhân văn, khoa học xã hội hoặc thần học, toán học, vật lý, khoa học công trình và công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học kinh tế, luật học.
[…]
3. Danh xưng “đại học kỹ thuật” (technical university) để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện để đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất 12 chuyên ngành, trong đó có ít nhất 8 chuyên ngành về khoa học công nghệ (technological sciences) và công trình (engineering).
4. Danh xưng “học viện”(academy) được sử dụng để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất hai ngành học (disciplines).
Điều 4
1. Các cơ sở giáo dục đại học được quyền tự chủ trong mọi mặt hoạt động của mình, nhưng phải tuân thủ những quy định nêu trong đạo luật (act) này.
2. Mọi hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học được hướng dẫn bởi các nguyên tắc tôn trọng tự do trong giảng dạy, tự do trong nghiên cứu khoa học, và tự do trong sáng tạo nghệ thuật.
3. Các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương và địa phương chỉ có quyền ra quyết định liên quan đến các cơ sở giáo dục đại học trong những trường hợp được các đạo luật cụ thể của Quốc hội cho phép.
[…]
Điều 6
1. Các trường đại học có các quyền hạn sau:
(i) ra quyết định về các điều kiện tuyển sinh, kể cả số lượng sinh viên sẽ tuyển, trừ trường hợp tuyển sinh cho ngành Y;
(ii) lập các kế hoạch học tập và chương trình giảng dạy, theo các tiêu chuẩn được quy định tại Điều 9, đoạn 2 và 3 dưới đây;
(iii) kiểm tra kiến thức và kỹ năng của sinh viên;
(iv) cấp phát văn bằng chứng chỉ phù hợp khi sinh viên đã hoàn tất việc học ở các trình độ đào tạo chuyên nghiệp, tiến sĩ, cũng như các chứng chỉ sau đại học và các chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng khác.
[…] [4]
--------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo

1. Fielden, J. (2008) Global Trends in University Governance. Education Working Paper Series, number 9. Washington, D. C.: World Bank. Tải xuống ngày 22/4/2011 từ trang thông tin điện tử của World Bank. Địa chỉ truy cập: http://siteresources.worldbank.org/EDUCATION/Resources/278200-1099079877269/547664-1099079956815/Global_Trends_University_Governance_webversion.pdf

2. Act of 27 July 2005. Law on Higher Education Law. Tải xuống ngày 22/4/2011 từ trang thông tin điện tử của Hiệp hội hiệu trưởng các trường đại học Ba Lan (KRASP). Địa chỉ truy cập: http://www.krasp.org.pl/en/documents/documents

Các chú dẫn:
[1] Fielden 2008, trang 13
[2] Fielden 2008, trang 15
[3] Fielden 2008, trang 18
[4] Poland’s Law on Higher Education, trang 3-4

Sunday, April 24, 2011

Luật giáo dục đại học Ba Lan 2005

Nhân VN đang lấy ý kiến về dự thảo Luật giáo dục đại học, tôi có tìm đọc luật giáo dục đại học của các nước khác và tìm được Luật giáo dục đại học Ba Lan 2005. Nghĩ rằng nó sẽ có ích cho những người đang tìm hiểu về việc này nên tôi đưa link lên đây để chia sẻ với mọi người, và viết vài giòng giới thiệu nó theo những gì tôi đã đọc và hiểu được. Mọi người đọc bên dưới nhé.
-----------
Trước hết, cần biết có thể tìm được Luật giáo dục đại học Ba Lan 2005 ở đâu. Có lẽ có thể tìm nhiều nơi, nhưng tôi đã tìm được bản tiếng Anh trên trang web của Hiệp hội hiệu trưởng các trường đại học Ba Lan (acronym là KRASP), ở đây.

Luật giáo dục đại học Ba Lan được ban hành ngày 27/7/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/9/2005. Đây là một đạo luật rất chi tiết, gồm 277 điều, bản tiếng Anh dài đến 95 trang. Tôi chỉ mới kịp đọc lướt qua phần đầu là phần "những quy định chung" (general provisions) thôi, nhưng cũng thấy có nhiều điều đáng ghi nhận, xin nêu dưới đây.

1. Phần định nghĩa từ ngữ được nêu ngay ở điều 2 (điều 1 nêu phạm vi áp dụng). Danh mục từ ngữ được nêu gồm đến 33 mục, làm rõ mọi từ ngữ được sử dụng trong đạo luật.
2. Điều 3, ngay sau điều 2 là phần định nghĩa từ ngữ, liệt kê các loại hình trường đại học khác nhau dựa quy mô ngành đào tạo. Xin xem phần trích dẫn bên dưới.
1. The word “university” may be used in the name of a higher education institution whose organisational units are authorised to confer the academic degree of doktor in at least twelve disciplines, including at least two in humanities, social or theological sciences, in mathematical, physical or engineering and technological sciences, natural sciences and in legal or economic sciences.

2. The words “technical university” may be used in the name of a higher education institution whose organisational units are authorised to confer the academic degree of doktor in at least twelve disciplines, including at least eight in engineering and technological sciences.

3. The word “university” together with another adjective or adjectives added to define the profile of a higher education institution may be used in the name of a higher education institution whose organisational units are authorised to confer the academic degree of doktor in at least six disciplines, including at least four in the areas covered by the profile of the institution.

4. The words “university of technology” may be used in the name of a higher education institution whose organisational units are authorised to confer the academic degree of doktor in at least six disciplines, including four in engineering and technological sciences.

5. The word “academy” may be used in the name of a higher education institution whose
organisational units are authorised to confer the academic degree of doktor in at least two disciplines.

3. Điều 4 cũng rất đáng chú ý vì nó đưa ra những nguyên tắc vận hành của một cơ sở giáo dục đại học, trong đó nhấn mạnh quyền tự chủ của nhà trường và sự tự do của các giảng viên trong trường. Xin xem phần trích.
1. A higher education institution shall be autonomous in all areas of its activity pursuant to the rules laid down in this Act.

2. Activities of higher education institutions shall be governed by the principles of freedom of teaching, freedom of research and freedom of artistic creativity.

3. In fulfilling their mission of discovering and conveying the truth through the conduct of research and the teaching of students, higher education institutions shall constitute an integral part of the national education and research system.

4. Higher education institutions shall co-operate with the economic environment, in particular by selling or providing on a free-of-charge basis results of their research and development work to entrepreneurs and by promoting the idea of entrepreneurship in the academic community, within the framework of economic activity to be pursued as organisationally and financially separate from the
activity referred to in Articles 13 and 14.

5. Central government administration bodies and bodies of local government units may take decisions concerning higher education institutions only in cases provided for in Acts of Parliament.

4. Điều 9 của đạo luật quy định rõ những quyền hạn mà Bộ trưởng phụ trách đại học được thực hiện đối với các trường đại học.
5. Điều 11, khoản 6 nêu rõ "hậu quả" của việc bị đánh giá không tốt khi kiểm định: bị rút quyền đào tạo những chương trình chưa tốt.

Chỉ cần bao nhiêu đó thôi thì tôi nghĩ cũng đã cung cấp đủ ý tưởng để đóng góp cho dự thảo luật giáo dục VN rồi đó! Không hiểu khi đọc hết cả 277 điều thì còn học được những gì nữa nhỉ?