Showing posts with label IR. Show all posts
Showing posts with label IR. Show all posts

Friday, September 28, 2018

Các chức năng của Phòng ĐBCL (2): Quality Assurance (QA), Institutional Research (IR), or Institutional Effectiveness (IE)?

Phần 1 ở đây: http://ncgdvn.blogspot.com/2018/09/cac-chuc-nang-cua-phong-bcl-revisited.html

Đây là Phần 2 của loạt bài viết về chức năng của phòng ĐBCL. Trong bài này tôi chỉ muốn bàn về tên tiếng Anh của Phòng ĐBCL (đảm bảo chất lượng) mà thôi. Bởi, những hiểu lầm do bất đồng ngôn ngữ mà tôi nói đến trong Phần 1 của bài viết này cũng tồn tại ngay trong tiếng Anh nữa, vì đang tồn tại hai trường phái khác nhau: Châu Âu (bao gồm cả nước Anh) và Mỹ.
Cần nói luôn: VN đang dùng từ đảm bảo chất lượng (quality assurance) tức là đang sử dụng ngôn ngữ của trường phái châu Âu, mà cụ thể là của Hà Lan. Dễ hiểu thôi, những người đầu tiên đưa khái niệm đảm bảo chất lượng vào VN là những người chịu ảnh hưởng tử “trường phái Hà Lan” (tạm gọi thế). Cái tên tuổi được nhắc đến rất nhiều vào thời đầu tiên của hoạt động ĐBCL tại VN là Ton Vroeijenstijn, cũng là một người Hà Lan (bản thân tôi đã làm việc với ông nhiều lần khi còn làm việc tại TTKT của ĐHQG-HCM). Ông là một chuyên gia trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng trong giáo dục, đã viết rất nhiều sách về lĩnh vực này, và cũng đã đến làm việc với VN nhiều lần trong nhiều năm, nên dấu ấn của ông trên hoạt động ĐBCL của VN, kể cả về mặt khái niệm và thuật ngữ - là rất rõ rệt.
Theo trường phái này, nói đến ĐBCL thì phải hiểu nó bao gồm 2 mảng: ĐBCL bên trong (internal QA hoặc IQA) vốn là việc của các trường, và ĐBCL bên ngoài (external QA hoặc EQA), là việc của các tổ chức chuyên đi đánh giá người khác (có thể là nhà nước, hoặc các tổ chức do nhà nước thành lập, hoặc các tổ chức nghề nghiệp, hoặc thậm chí tổ chức tư nhân, tùy nơi). Trong nhiều cách tổ chức việc thực hiện đánh giá bên ngoài đó, có một cách mà người ta học từ trường phái Mỹ, gọi là kiểm định, tiếng Anh là accreditation.
Nhưng ở Mỹ, trong một thời gian rất dài người ta không nói gì đến quality assurance hết (hiện nay thì thấy lác đác, chắc là do sự giao lưu qua lại giữa 2 bên, thì toàn cầu hóa mà’ cả CEFR là “chuẩn châu Âu” mà giờ cũng rất phổ biến ở Mỹ đó thôi, ha ha!). Ở Mỹ chỉ thấy có accreditation tức là đánh giá từ bên ngoài mà thôi (theo ngôn ngữ của trường phái châu Âu thì đây là một cách thực hiện EQA). Còn bên trong các trường thì chẳng có trường nào có bộ phận gọi là ĐBCL cả. Đến nỗi khi VN mới đưa ra những quy định đầu tiên về kiểm định, trong đó có yêu cầu các trường phải có bộ phận ĐBCL, thì tôi đã từng bị người khác chất vấn rằng ở Mỹ chẳng có trường đại học nào có phòng ĐBCL, vậy chẳng lẽ giáo dục đại học của Mỹ không đảm bảo chất lượng?
Ơ hơ hơ!!! Tôi cứng họng luôn, hi hi. Chỉ có thể nói - hơi chống chế, nói đại, nhưng có lẽ cũng không đến nỗi sai lắm - rằng do đại học Mỹ xem chất lượng là việc đương nhiên, ai cũng làm đến độ trở thành văn hóa rồi (cái này bên châu Âu gọi là văn hóa chất lượng đây) cho nên không cần một bộ phận riêng cho nó nữa. Nghe cũng ổn, nên không ai chất vấn thêm, ha ha!
Chỉ có điều, mọi người không hề biết - và lúc đầu tôi cũng không biết - rằng rất nhiều trường đại học của Mỹ có một bộ phận làm việc lặng lẽ, âm thầm, mẫn cán, ít người biết đến nhưng rất quan trọng. Phòng ấy có tên là IR, tức là institutional research mà ở VN đến nay vẫn chưa có ai dịch ra được cho chính xác. Tôi đã từng dịch nó ra - word by word - thành “nghiên cứu nội bộ” vì nó có tính chất nghiên cứu nghiêm chỉnh và dựa trên số liệu định lượng, nhưng nghiên cứu ấy chỉ phục vụ nội bộ thôi nên gọi là nghiên cứu nội bộ. Nhưng từ này có vẻ nghe ... lạ lạ nên ít người chấp nhận. Tôi cũng thấy một cách dịch khác là “phân tích nội bộ” và mặc dù không nêu được tính chất nghiên cứu của từ gốc nhưng nghe có vẻ hợp tai người Việt hơn. Vậy IR là gì? Thưa, với con mắt của một người làm nghề “đánh giá chất lượng”, tôi thấy phòng IR có thể xem là bộ phận thực hiện các chức năng của phòng đảm bảo chất lượng của VN (tất nhiên là nó cũng có những chức năng khác vì cơ cấu tổ chức hai bên là khác nhau). Nhưng vì sao tôi lại nghĩ vậy? Trước hết, hãy xem mô tả chức năng của IR từ một số trường:
1/ Santa Monica College: The Office of Institutional Research at SMC strives to support the college's mission and commitment to student learning and success by providing quality, accessible, reliable and relevant information to facilitate decision-making and planning processes, enhance institutional effectiveness, and promote a culture of evidence-based inquiry. (http://www.smc.edu/EnrollmentDevelopment/InstitutionalResearch/Pages/default.aspx)
2/ Williamnette University: (http://willamette.edu/offices/ir/index.html)
The office of Institutional Research and Planning Support...
  • provides information about the University to both internal and external constituents
  • is the primary source for current and historical data about student enrollment, demographics and outcomes and coordinates reporting to government and oversight agencies
  • supports enrollment management, planning, assessment and accreditation reviews through both primary and secondary research efforts
  • serves as the liaison to Willamette's regional accrediting agency
Còn nhiều nữa, các bạn tự tìm nhé. Nhưng hai ví dụ của tôi cũng đủ rồi phải không các bạn? Chú ý những chỗ in đậm (bold) nhé: cải tiến chất lượng, văn hóa minh chứng, hỗ trợ đánh giá, kiểm định, thẩm định; là đầu mối liên hệ với tổ chức kiểm định bên ngoài.
Ok, vậy IR có thể xem là phiên bản Mỹ của IQA, vốn là phiên bản châu Âu. Tất nhiên, IR có một điểm khác biệt rõ ràng so với IQA của châu Âu, vốn là sự khác biệt có tính nhất quán trong quan niệm về quản lý, mà đặc biệt là quản lý giáo dục, giữa Mỹ và châu Âu. Trường phái Mỹ thì ảnh hưởng nhiều bởi thực chứng luận (positivist), nên chú trọng sự khách quan, thích quan hệ nhân quả rõ ràng, tuyến tính, và quan trọng số liệu định lượng. Còn châu Âu thì ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa nhân văn (humanism/ humanisticism) nên xem việc gì cũng đa chiều, rối rắm (hi hi), và có tính triết lý, thích dùng lời lẽ và lý luận, phán đoán của chuyên gia hơn là dùng số liệu. Vì vậy, IR khác với QA ở chỗ tất cả với IR, việc đánh giá mọi thứ cần phải bắt đầu bằng số liệu và minh chứng, rồi những số liệu và minh chứng đó sẽ tự nó nói lên ý nghĩa của chúng mà không cần phải nhiều lời.
Vậy còn IE thì sao? IE chính là viết tắt của Institutional Effectiveness. Từ này cũng chưa có ai dịch sang tiếng Việt, nên tôi tạm dịch là “nghiên cứu hiệu quả nội bộ” (hoặc nếu bạn thích thì có thể dùng cụm từ “phân tích hiệu quả nội bộ” cho nó giống cụm từ phân tích nội bộ ở trên). Theo quan sát của tôi, thuật ngữ này chỉ mới xuất hiện khoảng vài thập niên gần đây, có thể từ thập niên 1990 (?) và là sự bổ sung, mở rộng chức năng của IR để thêm cho nó khía cạnh diễn giải, phán đoán dựa trên cả số liệu (việc của IR) lẫn hiểu biết và kinh nghiệm của chuyên gia.
Phải nói thêm rằng tên gọi của các phòng ĐBCL (tạm gọi theo cách của VN như thế) ở các nơi là rất khác nhau, bởi vì chức năng ĐBCL thường được ghép vào với một số chức năng có liên quan khác. Nhưng hai tên gọi phổ biến nhất, và cũng là bao quát nhất, là QA (đảm bảo chất lượng) và IE (phân tích hiệu quả nội bộ). Ngoài ra, cũng có những trường có tên gọi nghe qua có vẻ trùng lắp là IR and IE, khi đó người ta xem IR là chuyên về thu thập số liệu một cách độc lập khách quan (bất kể dùng vào mục đích gì) còn IE là sử dụng số liệu đã thu thập để phân tích, tổng hợp và diễn giải theo một mục tiêu nào đó (ví dụ: phục vụ cải tiến chất lượng bên trong, hoặc phục vụ báo cáo ra bên ngoài để đáp ứng yêu cầu giải trình).
Có thể đọc thêm bài trong link bên dưới để hiểu thêm về 2 tên gọi QA và IE, đặc biệt là triết lý ẩn dưới hai tên gọi này.
Đây là đoạn trích cần đọc nếu không có thời gian đọc toàn bài. Nói ngắn gọn, dùng từ QA là muốn nhấn manh quan điểm phục vụ khách hàng bên ngoài; còn dùng từ IE là thể hiện quan điểm mình làm vì mình, cho mình. phục vụ lợi ích của mình.
The difference in the unit title - Quality Assurance (QA) or Institutional Effectiveness (IE) - commonly relates to the difference of the philosophy behind. In general, while the Quality Assurance (or Quality Improvement) model indicates customer-oriented approach, Institutional Effectiveness inclines more towards the optimization of activities, processes and services. Accordingly, if we want to simplify, QA model more depends on the level of the quality culture embedded within the HEI, while IE model relies more on robust, well controlled quality management processes. For example, we can presume that private, for-profit institutions may choose IE model rather than QA; also, IE may be more appropriate choice for public institutions working under restrictive budgets. From the other side, the QA model maybe the indicator of the transparent, open student-centered institution (public or private non-for-profit).
Còn dưới đây là một ví dụ của một trường có sự phân biệt giữa IR và IE như tôi đã nêu ở trên, cho thấy phán đoán trên của tôi là có cơ sở chứ không phải là ... phán bừa: https://www.doane.edu/institutional-research-institutional-effectiveness
IR:
IR collects, archives and maintains data for the purpose of analyzing, distributing and presenting summary information. This information is used to support the decision-making process, policy formation, and the planning needs of the University. IR ensures integrity of data provided to governmental agencies and internal and external constituencies.
IE:
IE analyzes data with regards to the University's overall operations, providing information to departments across campus to make improvements. IE provides information and proposes alternative solutions to support the decision-making process. IE works to improve academic program planning, institutional and program assessments, and accreditation. Well, tạm thế. Tôi phải làm việc khác, nên sẽ bổ sung các trích dẫn và tài liệu tham khảo liên quan sau. (còn tiếp)

Tuesday, March 29, 2011

Nói thêm về "nghiên cứu nội bộ" (institutional research)

Tôi viết entry này cho một người nguyên là học trò, nay đã là một đồng nghiệp trẻ của tôi, đang được mời làm một công việc mà theo tôi hiểu thì nó chính xác là công việc mà tôi gọi là "nghiên cứu nội bộ". Viết, để làm rõ thêm cho bạn ấy, mà cũng là để cho ngành giáo dục của VN quen và chấp nhận một khái niệm, một tên gọi, và một sự vật/ hoạt động rất mới mẻ đối với chúng ta, nhưng đã rất cũ tại Mỹ, vì đã có lịch sử tồn tại đến mấy trăm năm rồi.

Như các bạn thường đọc blog này đã biết, "nghiên cứu nội bộ" là cụm từ tiếng Việt mà tôi chọn để dịch cụm từ "institutional research" trong tiếng Anh - một từ rất dở, nhưng tôi chưa biết phải dịch như thế nào cho nó hay.

Giải thích chút về việc tại sao lại dịch là "nội bộ". Trước hết, trong tiếng Việt đã có người dịch "institutional" là "nội bộ", như trong cụm từ "institutional TOEFL" mà người ta vẫn dịch là "TOEFL nội bộ". Hơn nữa, tại ĐHQG-HCM nơi tôi làm việc hiện nay cũng có một cụm từ đã quen dùng trong đó có chứa cụm từ "nội bộ", đó là "đánh giá ngoài nội bộ" - để chỉ những đợt đánh giá ngoài do chính ĐHQG-HCM tổ chức, sử dụng bộ tiêu chuẩn chất lượng của Bộ GD-ĐT và các quy trình, tiêu chuẩn chọn thành viên đoàn đánh giá tương tự như trong hướng dẫn của Bộ, nhưng là do chính ĐHQG-HCM thực hiện. Cụm từ "ĐGN nội bộ" khi mới đặt ra cũng có những người phản đối vì thấy không hay, nhưng quả thật nếu không dùng từ nội bộ thì cũng chẳng biết dùng từ gì cho phù hợp, nên cho đến nay nó đã được chấp nhận hoàn toàn.

Thực ra, ngay trên blog này thì trước đây tôi cũng đã viết vài bài về "nghiên cứu nội bộ" (các bạn có thể dùng chức năng search trên blog để tìm cụm từ "institutional research" sẽ ra hết các bài viết đó). Nhưng đó chỉ là những bài tản mạn, chủ yếu viết để lưu lại những ý tưởng thoáng qua trong đầu, hoặc những tài liệu mới tìm được - tức là viết cho mình. Nay thì vì có chuyện người đồng nghiệp trẻ đó nên tôi viết thêm bài này cho bạn ấy, đồng thời cũng chia sẻ cho tất cả mọi người có quan tâm.

Nhưng "nghiên cứu nội bộ" là gì? Trước hết, hãy xem qua các định nghĩa được lấy từ Internet; những chỗ in nghiêng dưới đây là phần dịch (thoát) của tôi:
1. "Institutional Research is the sum total of all activities directed at empirically describing the full spectrum of functions (educational, administrative, and support) at a college or university. Institutional research activities examine those functions in their broadest definitions and, in the context of both internal and external environments, embrace data collection and analytical strategies in support of decision making at the institution."
--Joe L. Saupe - Nguồn: http://www.nd.edu/~instres/home3/aboutIR/about_ir_definition.shtml

Nghiên cứu nội bộ (NCNB) là tổng của tất cả các hoạt động nhắm đến việc mô tả trên cơ sở các chứng cứ thật về toàn bộ các chức năng (giáo dục, quản lý, hỗ trợ) của một trường đại học hoặc cao đẳng. Các hoạt động NCNB xem xét các chức năng này theo định nghĩa rộng nhất, và dựa trên bối cảnh cả bên trong lẫn bên ngoài, thực hiện việc thu thập số liệu và các chiến lược phân tích để hỗ trợ quá trình ra quyết định tại một trường.
2. Research conducted within an institution of higher education in order to provide information which supports planning, policy formation, and decision making. Saupe (1981)

NCNB là loại nghiên cứu được thực hiện trong một trường đại học để cung cấp thông tin cần thiết để hỗ trợ việc lập kế hoạch, xây dựng chính sách, và ra quyết định.
3. A critical intermediary function that links the educational, managerial, and information functions of higher education institutions and systems. Peterson (1985)

NCNB là một chức năng trung gian rất cần thiết có khả năng kết nối các chức năng giáo dục, quản lý, và thông tin của các trường đại học và của cả hệ thống.
4. The analysis and interpretation of institutional records and data, plus the occasional or periodic studies that are necessary to supplement routine record keeping and reporting. Fincher (1985)

NCNB là việc phân tích và diễn giải các hồ sơ lưu trữ và số liệu, kèm với những nghiên cứu bất chợt hoặc định kỳ vốn cần thiết để bổ sung thêm vào việc lưu trữ hồ sơ và báo cáo.
Ghi chú: Các định nghĩa 2, 3, 4 được rút ra từ bài viết của Dawn Ressel nhằm giới thiệu IR, có thể download tại địa chỉ: http://www.kspsd.org/IR/common/documents/IR_Conf_2006_Presentations/1%20What%20is%20IR.ppt.

Như vậy, qua các định nghĩa đã nêu, ta thấy IR là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong bộ máy quản lý của các trường đại học của Mỹ, vì đây là những chuyên gia phân tích (analyst) được đào tạo chuyên nghiệp, với những phương pháp, quy trình, và công cụ thu thập, xử lý và phân tích số liệu, và khả năng lập luận, diễn giải để đưa ra những kiến giải và giải pháp cho các nhà quản lý liên quan đến việc xây dựng chính sách và chiến lược phát triển của một trường đại học, và giám sát đánh giá việc triển khai thực hiện các chính sách và chiến lược đó.

Một điều cần lưu ý là IR đòi hỏi những kỹ năng chuyên nghiệp về thu thập, phân tích và diễn giải số liệu, tức là những phương pháp định lượng dựa trên thống kê. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa cách quản lý trường đại học kiểu Mỹ và quản lý trường đại học kiểu VN: một bên là ra quyết định dựa trên số liệu, bên kia là ra quyết định bất chấp số liệu (tôi chỉ nói như vậy thôi, tùy các bạn quyết định bên nào là Mỹ, bên nào là VN nhé!)

Và như thế, các nhà nghiên cứu nội bộ rõ ràng cũng là những nhà nghiên cứu nghiêm chỉnh, đúng nghĩa; điểm khác biệt duy nhất giữa các nhà nghiên cứu nội bộ và các nhà nghiên cứu giáo dục khác là ở mục đích nghiên cứu của họ mà thôi: NCNB thực hiện để phục vụ cho một đơn vị cụ thể (một kiểu nghiên cứu theo đặt hàng, mặc dù đây là người đặt hàng cố định và đương nhiên, tức là đơn vị nơi nhà NCNB hoạt động), còn nghiên cứu không nội bộ (!) thì nghiên cứu cho ai dùng cũng được. Tuy nhiên, thực ra sự khác biệt này trên thực tế không lớn, vì NCNB xong mà phép đưa ra công khai (đôi khi không được phép, do có những thông tin nhạy cảm đối với đơn vị) thì tất cả mọi người đều có thể sử dụng, và ý nghĩa của các NCNB còn cao hơn các nghiên cứu không nội bộ (!) vì sự sâu sát thực tế của nó.

Một điểm cuối cùng tôi muốn nêu ở đây về nghiên cứu nội bộ, đó là NCNB nếu cần được phân loại thì sẽ thuộc về phạm trù "nghiên cứu hành động" tức action research trong tiếng Anh, và "nghiên cứu đánh giá" tức evaluation research trong tiếng Anh. Nghiên cứu hành động là gì thì trước đây tôi có viết một bài nhỏ, định viết thêm nhưng bận quá, nay mai sẽ cần viết tiếp. Còn nghiên cứu đánh giá là gì thì tôi chưa đề cập ở đây bao giờ, nhưng sẽ có lúc phải viết thôi. Vì đó là những loại hình nghiên cứu rất thường sử dụng trong giáo dục, nhưng ở VN vẫn chưa có nhiều người biết đến.

(Mở ngoặc một chút: Vì ít có người biết đến nên người ta đánh giá rất sai lầm về cái có thể gọi là công trình nghiên cứu của khối ngành xã hội - nhân văn. Cái này thì tôi đã bị vướng vào tranh cãi đôi ba lần với những người thuộc khối ngành kỹ thuật và tự nhiên rồi; họ - theo truyền thống trên toàn thế giới, nhưng nặng nề hơn nhiều ở VN - là những người vốn coi thường dân xã hội nhân văn, cho rằng những người thuộc khối xh-nv chẳng biết nghiên cứu khoa học gì sất, và những cái như là "action research" hay "instititional research" hoặc "evaluation research" chỉ là những cái vớ vẩn, không cần biết đến! Còn ai thuộc khối xã hội nhân văn mà muốn học hỏi về nghiên cứu khoa học thì phải tìm các nhà khoa học tự nhiên mà học hỏi, những vị "know-all" này - mà tôi có hân hạnh biết một vài vị - sẽ làm phúc mà dạy bảo cho, cứ ngoan ngoãn, chăm chỉ mà học, rồi sẽ có ngày hiểu được, mà không hiểu thì cứ phải có các vị ấy đỡ đầu cho, thì nghiên cứu mới có chất lượng!!!!! Thế đấy!)

Quay trở lại nghiên cứu nội bộ. Thông điệp của tôi cho entry này là như sau: đây là một loại hình nghiên cứu mà các nhà lãnh đạo giáo dục của VN nên quan tâm, vì có như thế thì mới mong có những giải pháp khả thi và hữu hiệu cho việc cải thiện chất lượng giáo dục VN. Nếu không thì những mục tiêu cao cả của việc cải cách giáo dục ở VN mãi mãi vẫn chỉ là những ước mộng không thành, những ảo vọng xa vời, những ước mơ không thực tế!!!!

Nhân tiên, xin chia sẻ: Tôi đang là một thành viên (có đóng phí) của AIR, Hiệp hội nghiên cứu nội bộ của Mỹ, và thấy đây là một tổ chức rất tốt, có rất nhiều hoạt động nâng cao năng lực cho hội viên. Cụ thể, tháng 5 này tôi sẽ tham dự hội nghị khoa học hàng năm của AIR tại Toronto, Canada. Mà chưa cần tham dự hội nghị, chỉ cần vào trang web của AIR (tôi đã giới thiệu trên blog này một lần) thì cũng thấy có rất nhiều resources cần thiết cho chúng ta sử dụng tại VN. Tôi đã xin phép dịch chúng để phổ biến cho mọi người, và đã được AIR chấp thuận rất hồ hởi, thậm chí khuyến khích, miễn là với mục đích phi lợi nhuận.

Tôi đang tổ chức cho TT của tôi dịch một tài liệu của AIR (mang tính căn bản), khi dịch xong sẽ chia sẻ lên blog này. Nhưng vẫn còn rất nhiều tài liệu cần dịch; vậy nếu có bạn nào có thể tham gia thì xin gửi địa chỉ mail để tôi liên lạc nhé (gửi qua comment). Xin nói thêm: dịch tự nguyện, với mục đích phi lợi nhuận, không có kinh phí các bạn ạ! Nhưng nếu các bạn làm được thì sẽ là một đóng góp rất cụ thể cho nền giáo dục nước nhà đấy, tốt hơn rất nhiều so với việc viết lên những bài viết đao to búa lớn, đưa ra những định hướng lâu dài kiểu như phải trao thêm quyền tự chủ và tăng tính chịu trách nhiệm (ai cũng biết là cần làm thế), nhưng còn làm điều đó như thế nào thì ... bó tay không biết (muốn làm sao thì làm, việc nhỏ nhít thế mà không biết thì thôi, còn chúng tôi thì chỉ quan tâm đến những vấn đề đại sự, to tát, quan trọng mà thôi!)

Rất đón chờ sự chia sẻ và đóng góp của các bạn.