Đây là một phần khác của đề tài An Giang mà hôm trước tôi đã có một entry.
Sau khi đưa entry đó lên blog, tôi nhận được một vài ý kiến của các bạn đọc, đề nghị tôi đưa tiếp những phần còn lại lên. Những ý kiến đó làm tôi cảm thấy thật ấm lòng, vì những gì mình làm ra dẫu sao cũng có chút ích lợi cho ai đó, đặc biệt là những người làm trong ngành giáo dục.
Tuy nhiên, những yêu cầu ấy tôi không đáp ứng ngay được, không phải vì không quan tâm mà do làm nhiều việc cùng một lúc (tôi vừa làm người quản lý, vừa là chuyên gia ngay trong công việc chính của mình, mà đó lại là công việc mới và có nhiều thay đổi cần phải cập nhật liên tục. Không những thế, tại cơ quan tôi phải đóng vai team leader, coach, trainer, và superivsor cùng một lúc! Rồi lại phải đi dạy, vì nếu không sẽ mất luôn nghề dạy của mình. Chưa kể tôi phải nhận làm thêm bên ngoài để kiếm sống, lại còn viết lách - riêng khoản viết lách này là vì yêu thích nên tôi không "oán trách" gì ai, tuy nhiên nó cũng làm tôi tốn thì giờ kha khá). Ngoài ra, như tôi đã "cảnh báo", tôi làm việc có hơi tùy hứng một chút (may mà cũng hơi nhiều hứng nên mới có thể làm được một số việc, chứ nếu không thì ... chết!) nên chưa hứng thì chưa làm.
Nhưng sáng nay thì hứng đã đến (!) nên tôi tiếp tục tìm và đưa lên tiếp những phần khác của đề tài ấy. Hôm nay là bản dịch 10 tiêu chuẩn giáo viên của bang Wisconsin. Tôi đã dịch nó năm 2007, bây giờ có thể đã có thay đổi ở Wisconsin, nhưng các tiêu chuẩn mà tôi năm 2007 vẫn còn nguyên giá trị tham khảo đối với VN, đặc biệt là khi bây giờ VN đang đẩy mạnh việc kiểm định ở tất cả các cấp độ - đại học, cao đẳng, trung cấp, phổ thông.
Các bạn đọc và cho ý kiến nhé.
--------------------
10 tiêu chuẩn giáo viên của bang Wisconsin (bản dịch thoát ý do Vũ Thị Phương Anh cung cấp; đã được sử dụng trong đề tài An Giang, nghiệm thu năm 2007)
(1) Nội dung - Hiểu rõ các khái niệm cơ bản, công cụ tư duy, và cấu trúc của môn học mà mình giảng dạy, và có khả năng tạo ra các kinh nghiệm học tập có ý nghĩa cho học sinh của mình.
(2) Phương pháp luận - Hiểu rõ quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng của các đối tượng học sinh có năng lực khác nhau, và có khả năng giúp các em phát triển cả về mặt trí tuệ, xã hội, và cá nhân.
(3) Tính đa dạng - Hiểu rõ những khác biệt trong phong cách và phương pháp học tập của từng em, cũng như những trở ngại trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng của các em, và có khả năng điều chỉnh phong cách giảng dạy của mình cho phù hợp với những nhu cầu đa dạng của học sinh, kể cả các học sinh khuyết tật hoặc có hoàn cảnh đặc biệt.
(4) Chiến lược giảng dạy - Hiểu rõ và biết cách sử dụng nhiều chiến lược giảng dạy khác nhau, trong đó bao gồm cả việc sử dụng công nghệ để khuyến khích người học phát triển các kỹ năng tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, và năng lực thực hành.
(5) Quản lý lớp học - Sử dụng hiểu biết của mình về động cơ của học sinh để tạo ra được một môi trường học tập khuyến khích tính tương tác xã hội và tham gia tích cực của mọi học sinh.
(6) Kỹ năng giao tiếp - Giao tiếp bằng lời và bằng cử chỉ có hiệu quả; có khả năng sử dụng công nghệ truyền thông trong giảng dạy nhằm khuyến khích học sinh tự tìm tòi khám phá, hợp tác và tưong tác trong lớp học.
(7) Chương trình - Tổ chức và lập kế hoạch giảng dạy một cách có hệ thống dựa trên kiến thức về môn học, người học, cộng đồng, và mục tiêu của chương trình học.
(8) Kiểm tra đánh giá - Hiểu rõ và có khả năng sử dụng các chiến lược kiểm tra chính thức và không chính thức để đánh giá học sinh và đảm bảo sự phát triển thường xuyên trên các mặt trí tuệ, xã hội và thể chất.
(9) Phản tỉnh (reflection) - Luôn tư duy và tự đánh giá tác động các hoạt động giảng dạy của mình đối với học sinh, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp, và những người khác, đồng thời luôn chủ động tìm kiếm các cơ hội phát triển nghề nghiệp của mình.
(10) Chuyên nghiệp - Quan hệ tốt với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, và cộng đồng để hỗ trợ việc học của học sinh, đồng thời luôn hành xử một cách trung thực, công bằng, và có đạo đức.
Bản tiếng Ạnh của 10 tiêu chuẩn này có thể tìm thấy ở đây.
Wednesday, April 6, 2011
Tuesday, April 5, 2011
Nhân đọc lại một mẩu tin cũ
Hôm nay dọn bàn làm việc, tôi tìm thấy một mẩu tin đăng trên trang 5 của tờ báo Khoa học phổ thông, số 16/10 (1391) ra ngày 30/4/2010, số kỷ niệm 35 ngày thống nhất đất nước.
Mẩu tin này là một phần của bài viết có tựa đề là "TP HCM, dấu ấn 35 năm", trong đó điểm qua các thành tựu nổi bật của thành phố trên các lãnh vực khoa học - công nghệ và giáo dục. Bài viết dài, đăng ngay trang đầu của tờ báo, nhưng vì dài nên phải cắt đôi ra và phần tiếp theo của bài viết được đăng trên trang 5. Trong đó có chứa mẩu tin mà tôi đang đề cập đến.
Mẩu tin gì mà đáng quan tâm thế? Ừ, thật ra thì cũng chẳng có gì quá quan trọng. Đây là thành tựu được nêu cuối cùng trong bài báo, với tựa nhỏ là "Giáo dục đại học: đủ sức hội nhập khu vực".
Cái tựa nghe ấn tượng quá, phải không? Thực ra, có lẽ nói như thế có lẽ cũng ... hơi cường điệu một chút, vì chỉ mới có 3 trong số hàng ngàn (?) chương trình được đánh giá thôi, mà đã khẳng định như cái tựa đó thì thực ra hơi vội. Nhưng quả thật, đây là lần đầu tiên các chương trình đại học của VN tham gia một kỳ đánh giá đồng nghiệp khách quan như vậy. Ở ĐHQG-HCM nơi tôi làm việc, 3 chương trình đó được chọn đăng ký lần đầu tiên, không phải là không có một chút nghi ngại, nhưng cuối cùng cả 3 đều đạt mức trung bình chung của khu vực trở lên.
Chất lượng chương trình đào tạo tất nhiên là do nỗ lực của trường, của thầy cô, và của sinh viên. Và tất nhiên cũng do định hướng của lãnh đạo, sự chỉ đạo, giám sát, quan tâm, tạo điều kiện triển khai, gì gì đấy ... của đảng, của nhà nước. Có thực chất rồi, thì ai đánh giá cũng được, kết quả cũng đều tốt.
Vấn đề là xưa nay ta đóng cửa, không hội nhập, không đối sánh ra bên ngoài, nên khó mà biết được mình ở đâu so với thế giới. Nên những lời khẳng định kiểu "đạt tầm khu vực, hướng đến chất lượng quốc tế" của các trường hay các vị lãnh đạo ngành, lãnh đạo nhà nước vẫn có thể bị xem là ... empty, ungrounded. Vì: chứng cứ ở đâu mà nói vậy?
May quá, với việc đánh giá 3 chương trình tại ĐHQG-HCM thì ta đã đưa ra được chứng cứ rồi đấy. Đó là lý do tại sao kết quả đánh giá 3 chương trình này lại được đưa vào bài viết điểm qua các thành tựu 35 năm.
Đọc lại mẩu tin, tôi cũng thấy vui vui và chút tự hào: trung tâm nơi tôi làm việc (một trung tâm rất nhỏ) đã đóng góp một phần không thể thiếu vào cuộc đánh giá ấy.
Xin lưu lại mẩu tin ấy ở đây, và mong đợi nhiều tin tốt lành như vậy về giáo dục đại học của VN trong tương lai.
----------------
Giáo dục đại học: đủ sức hội nhập khu vực
Việt Nam đã khẳng đinh chất lượng giáo dục của mình ngang tầm khu vực, thông qua việc tham gia đánh giá chất lượng của mạng lưới đại học Đông Nam Á (AUN). Trong đó, chương trình đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) của Trường đại học khoa học tự nhiên đạt điểm số đánh giá cao nhất (4.92), chương trình CNTT của Trường đại học quốc tế đạt 4.61, chương trình điện tử - viễn thông đạt 4.1. Điểm cao nhất cho đến nay của các trường khác trong khu vực ASEAN là 5.2 (trên thang điểm 7). Đáng mừng là cả 4 chương trình của VN [chương trình thứ 4 là ở ĐHQG Hà Nội - chú thích của tôi] đều đạt trên điểm 4, ngang với mức trung bình chung của khu vực, chứng tỏ giáo dục VN nói chung và TP HCM nói riêng đủ sức hội nhập.
Mạng lưới đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - AUN) được thiết lập từ tháng 11/1995. Đến nay AUN bao gồm 21 trường [thực ra, cho đến tháng 3/2011 thì đã là 26 trường rồi - chú thích của tôi] đại học hàng đầu của các quốc gia Đông Nam Á. Việt Nam có ĐHQG Hà Nội và ĐHQG HTM là thành viên của tổ chức này. Mục đích đánh giá của AUN là tiến tới đào tạo liên thông giữa các trường đạt tiêu chuẩn trong khu vực.
Mẩu tin này là một phần của bài viết có tựa đề là "TP HCM, dấu ấn 35 năm", trong đó điểm qua các thành tựu nổi bật của thành phố trên các lãnh vực khoa học - công nghệ và giáo dục. Bài viết dài, đăng ngay trang đầu của tờ báo, nhưng vì dài nên phải cắt đôi ra và phần tiếp theo của bài viết được đăng trên trang 5. Trong đó có chứa mẩu tin mà tôi đang đề cập đến.
Mẩu tin gì mà đáng quan tâm thế? Ừ, thật ra thì cũng chẳng có gì quá quan trọng. Đây là thành tựu được nêu cuối cùng trong bài báo, với tựa nhỏ là "Giáo dục đại học: đủ sức hội nhập khu vực".
Cái tựa nghe ấn tượng quá, phải không? Thực ra, có lẽ nói như thế có lẽ cũng ... hơi cường điệu một chút, vì chỉ mới có 3 trong số hàng ngàn (?) chương trình được đánh giá thôi, mà đã khẳng định như cái tựa đó thì thực ra hơi vội. Nhưng quả thật, đây là lần đầu tiên các chương trình đại học của VN tham gia một kỳ đánh giá đồng nghiệp khách quan như vậy. Ở ĐHQG-HCM nơi tôi làm việc, 3 chương trình đó được chọn đăng ký lần đầu tiên, không phải là không có một chút nghi ngại, nhưng cuối cùng cả 3 đều đạt mức trung bình chung của khu vực trở lên.
Chất lượng chương trình đào tạo tất nhiên là do nỗ lực của trường, của thầy cô, và của sinh viên. Và tất nhiên cũng do định hướng của lãnh đạo, sự chỉ đạo, giám sát, quan tâm, tạo điều kiện triển khai, gì gì đấy ... của đảng, của nhà nước. Có thực chất rồi, thì ai đánh giá cũng được, kết quả cũng đều tốt.
Vấn đề là xưa nay ta đóng cửa, không hội nhập, không đối sánh ra bên ngoài, nên khó mà biết được mình ở đâu so với thế giới. Nên những lời khẳng định kiểu "đạt tầm khu vực, hướng đến chất lượng quốc tế" của các trường hay các vị lãnh đạo ngành, lãnh đạo nhà nước vẫn có thể bị xem là ... empty, ungrounded. Vì: chứng cứ ở đâu mà nói vậy?
May quá, với việc đánh giá 3 chương trình tại ĐHQG-HCM thì ta đã đưa ra được chứng cứ rồi đấy. Đó là lý do tại sao kết quả đánh giá 3 chương trình này lại được đưa vào bài viết điểm qua các thành tựu 35 năm.
Đọc lại mẩu tin, tôi cũng thấy vui vui và chút tự hào: trung tâm nơi tôi làm việc (một trung tâm rất nhỏ) đã đóng góp một phần không thể thiếu vào cuộc đánh giá ấy.
Xin lưu lại mẩu tin ấy ở đây, và mong đợi nhiều tin tốt lành như vậy về giáo dục đại học của VN trong tương lai.
----------------
Giáo dục đại học: đủ sức hội nhập khu vực
Việt Nam đã khẳng đinh chất lượng giáo dục của mình ngang tầm khu vực, thông qua việc tham gia đánh giá chất lượng của mạng lưới đại học Đông Nam Á (AUN). Trong đó, chương trình đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) của Trường đại học khoa học tự nhiên đạt điểm số đánh giá cao nhất (4.92), chương trình CNTT của Trường đại học quốc tế đạt 4.61, chương trình điện tử - viễn thông đạt 4.1. Điểm cao nhất cho đến nay của các trường khác trong khu vực ASEAN là 5.2 (trên thang điểm 7). Đáng mừng là cả 4 chương trình của VN [chương trình thứ 4 là ở ĐHQG Hà Nội - chú thích của tôi] đều đạt trên điểm 4, ngang với mức trung bình chung của khu vực, chứng tỏ giáo dục VN nói chung và TP HCM nói riêng đủ sức hội nhập.
Mạng lưới đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - AUN) được thiết lập từ tháng 11/1995. Đến nay AUN bao gồm 21 trường [thực ra, cho đến tháng 3/2011 thì đã là 26 trường rồi - chú thích của tôi] đại học hàng đầu của các quốc gia Đông Nam Á. Việt Nam có ĐHQG Hà Nội và ĐHQG HTM là thành viên của tổ chức này. Mục đích đánh giá của AUN là tiến tới đào tạo liên thông giữa các trường đạt tiêu chuẩn trong khu vực.
Subscribe to:
Posts (Atom)