Showing posts with label detaiAG. Show all posts
Showing posts with label detaiAG. Show all posts

Wednesday, April 6, 2011

10 tiêu chuẩn giáo viên của bang Wisconsin

Đây là một phần khác của đề tài An Giang mà hôm trước tôi đã có một entry.

Sau khi đưa entry đó lên blog, tôi nhận được một vài ý kiến của các bạn đọc, đề nghị tôi đưa tiếp những phần còn lại lên. Những ý kiến đó làm tôi cảm thấy thật ấm lòng, vì những gì mình làm ra dẫu sao cũng có chút ích lợi cho ai đó, đặc biệt là những người làm trong ngành giáo dục.

Tuy nhiên, những yêu cầu ấy tôi không đáp ứng ngay được, không phải vì không quan tâm mà do làm nhiều việc cùng một lúc (tôi vừa làm người quản lý, vừa là chuyên gia ngay trong công việc chính của mình, mà đó lại là công việc mới và có nhiều thay đổi cần phải cập nhật liên tục. Không những thế, tại cơ quan tôi phải đóng vai team leader, coach, trainer, và superivsor cùng một lúc! Rồi lại phải đi dạy, vì nếu không sẽ mất luôn nghề dạy của mình. Chưa kể tôi phải nhận làm thêm bên ngoài để kiếm sống, lại còn viết lách - riêng khoản viết lách này là vì yêu thích nên tôi không "oán trách" gì ai, tuy nhiên nó cũng làm tôi tốn thì giờ kha khá). Ngoài ra, như tôi đã "cảnh báo", tôi làm việc có hơi tùy hứng một chút (may mà cũng hơi nhiều hứng nên mới có thể làm được một số việc, chứ nếu không thì ... chết!) nên chưa hứng thì chưa làm.

Nhưng sáng nay thì hứng đã đến (!) nên tôi tiếp tục tìm và đưa lên tiếp những phần khác của đề tài ấy. Hôm nay là bản dịch 10 tiêu chuẩn giáo viên của bang Wisconsin. Tôi đã dịch nó năm 2007, bây giờ có thể đã có thay đổi ở Wisconsin, nhưng các tiêu chuẩn mà tôi năm 2007 vẫn còn nguyên giá trị tham khảo đối với VN, đặc biệt là khi bây giờ VN đang đẩy mạnh việc kiểm định ở tất cả các cấp độ - đại học, cao đẳng, trung cấp, phổ thông.

Các bạn đọc và cho ý kiến nhé.

--------------------

10 tiêu chuẩn giáo viên của bang Wisconsin (bản dịch thoát ý do Vũ Thị Phương Anh cung cấp; đã được sử dụng trong đề tài An Giang, nghiệm thu năm 2007)

(1) Nội dung - Hiểu rõ các khái niệm cơ bản, công cụ tư duy, và cấu trúc của môn học mà mình giảng dạy, và có khả năng tạo ra các kinh nghiệm học tập có ý nghĩa cho học sinh của mình.

(2) Phương pháp luận - Hiểu rõ quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng của các đối tượng học sinh có năng lực khác nhau, và có khả năng giúp các em phát triển cả về mặt trí tuệ, xã hội, và cá nhân.

(3) Tính đa dạng - Hiểu rõ những khác biệt trong phong cách và phương pháp học tập của từng em, cũng như những trở ngại trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng của các em, và có khả năng điều chỉnh phong cách giảng dạy của mình cho phù hợp với những nhu cầu đa dạng của học sinh, kể cả các học sinh khuyết tật hoặc có hoàn cảnh đặc biệt.

(4) Chiến lược giảng dạy - Hiểu rõ và biết cách sử dụng nhiều chiến lược giảng dạy khác nhau, trong đó bao gồm cả việc sử dụng công nghệ để khuyến khích người học phát triển các kỹ năng tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, và năng lực thực hành.

(5) Quản lý lớp học - Sử dụng hiểu biết của mình về động cơ của học sinh để tạo ra được một môi trường học tập khuyến khích tính tương tác xã hội và tham gia tích cực của mọi học sinh.

(6) Kỹ năng giao tiếp - Giao tiếp bằng lời và bằng cử chỉ có hiệu quả; có khả năng sử dụng công nghệ truyền thông trong giảng dạy nhằm khuyến khích học sinh tự tìm tòi khám phá, hợp tác và tưong tác trong lớp học.

(7) Chương trình - Tổ chức và lập kế hoạch giảng dạy một cách có hệ thống dựa trên kiến thức về môn học, người học, cộng đồng, và mục tiêu của chương trình học.

(8) Kiểm tra đánh giá - Hiểu rõ và có khả năng sử dụng các chiến lược kiểm tra chính thức và không chính thức để đánh giá học sinh và đảm bảo sự phát triển thường xuyên trên các mặt trí tuệ, xã hội và thể chất.

(9) Phản tỉnh (reflection) - Luôn tư duy và tự đánh giá tác động các hoạt động giảng dạy của mình đối với học sinh, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp, và những người khác, đồng thời luôn chủ động tìm kiếm các cơ hội phát triển nghề nghiệp của mình.

(10) Chuyên nghiệp - Quan hệ tốt với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, và cộng đồng để hỗ trợ việc học của học sinh, đồng thời luôn hành xử một cách trung thực, công bằng, và có đạo đức.

Bản tiếng Ạnh của 10 tiêu chuẩn này có thể tìm thấy ở đây.

Thursday, March 31, 2011

Giáo viên với chất lượng học tập của học sinh

Entry này được trích từ phần cơ sở lý thuyết của một đề tài nghiên cứu mà tôi đã thực hiện từ giữa năm 2004 và nghiệm thu vào năm 2007, do Sở Khoa học và Công nghệ An Giang đặt hàng. Mục tiêu của đề tài ấy là tìm ra những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục ở An Giang, vào thời điểm mà đến mấy năm liền tỉnh An Giang có kết quả thi đại học nằm ở mức chót hoặc áp chót của tất cả các tỉnh thành lúc ấy.

Một đề tài mà tôi làm rất tâm huyết, say sưa không quản ngại, bỏ thời gian đến 3 năm ròng rã, đi lên đi xuống từ Sài Gòn - An Giang hàng vài chục lần để điều tra, khảo sát, tập huấn, với cách làm dã chiến: sáng rời nhà từ 3 giờ (đi xe "chất lượng cao" Kim Hương) để có thể đến nơi khoảng 10 giờ sáng, làm việc đến khoảng 3 giờ chiều và lại vội vã quay về ngay để có thể về đến nhà khoảng 10 giờ tối, kịp cho ngày hôm sau đi làm lại như bình thường - trên Thủ Đức, cách nhà tôi đến hơn 20 cây số, và mất gần một tiếng đi đường, hàng ngày!

Bỏ công sức ra như vậy đó, nhưng đến lúc nghiệm thu thì tôi thực sự thất vọng. Có lẽ sự thất vọng của tôi cũng ... tương đương với sự thất vọng của hội đồng đối với những giải pháp mà đề tài của tôi đưa ra. Vì mặc dù nghiệm thu cũng được hội đồng cho qua (!), nhưng những lời góp ý của các vị trong hội đồng - đều là các nhà giáo, nhà quản lý có tên có tuổi, có chức vị - làm cho tôi thấy rõ, dường như không ai hiểu được rằng muốn có được những thay đổi trong giáo dục thì phải rất kiên trì, nhẫn nại, phải nhìn vào sự thật và thành tâm muốn cải thiện, và kết quả thì không dễ dàng. Mà mọi người chỉ muốn có ai đó đưa ra những giải pháp thật dễ dàng nhanh chóng để giáo dục có thể "cất cánh bay lên" ngay lập tức. Chứ như những gì tôi đưa ra thì ... làm đề tài để làm gì, có một vị trong hội đồng đã phát biểu như thế.

Thực sự trong đời tôi chưa bao giờ thất vọng như lần ấy. Và sau đó tôi đã tự nhủ sẽ không bao giờ làm đề tài trong lãnh vực giáo dục nữa. (Mặc dù sau đó vì công việc tôi vẫn phải làm một vài đề tài khác, hoàn toàn ứng dụng để phục vụ cho công việc của mình.) Nhưng cái đề tài mà mình đã bỏ bao nhiêu tâm huyết ra để làm thì tôi ... không thèm nhìn đến nữa. Tôi cảm thấy buồn và giận, như người bị phản bội!

Nhưng rồi, chẳng hiểu sao gần đây có một người không quen gửi thư cho tôi để xin tham khảo đề tài này. Và chính vì lý do đó nên tôi mới tìm lại bản mềm của báo cáo nghiệm thu đã viết. Không tìm thấy toàn bộ (vì bản cứng, bản mềm gì cũng đã nộp lại cho nơi quản lý rồi), nhưng tôi cũng tìm được một số - đủ để chứng minh rằng mình cũng có làm thật (!). Và thấy, có lẽ những gì mình đã viết ra cũng có thể chia sẻ được cho người này người khác, ít nhất là sinh viên, hoặc những đồng nghiệp trẻ trong ngành giáo dục của tôi. Nên đưa dần lên đây cho mọi người đọc.

Các bạn đọc và góp ý nhé. Và hy vọng nó có chút gì có ích cho các bạn.

------------------
Vai trò quyết định của giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục là không thể phủ nhận, như đã được nhiều lần khẳng định cả trên lý thuyết lẫn bằng thực tiễn giáo dục trên khắp thế giới. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa giáo viên là yếu tố duy nhất có ảnh hưởng đến (và vì thế dường như phải chịu toàn bộ trách nhiệm về) chất lượng giáo dục. Anderson (2004) cho rằng “giáo viên và việc giảng dạy của giáo viên chỉ là hai yếu tố trong phức hợp các yếu tố có ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh” (tr. 25). Cũng theo tác giả này, toàn bộ quá trình giảng dạy và học tập là một phức hợp bao gồm tổng cộng 6 yếu tố như sau:

- Đặc điểm của giáo viên
- Đặc điểm của học sinh
- Chương trình đào tạo
- Các hoạt động giảng dạy
- Môi trường học tập (lớp học)
- Các hoạt động học tập và kết quả của chúng

Tất nhiên, mặc dù chỉ chiếm có 2 trong 6 yếu tố tác động, nhưng với vai trò là người ra quyết định trong lớp học, giáo viên có thể có những tác động trực tiếp nhằm tạo ra sự thay đổi đối với các yếu tố có liên quan đến học sinh, đó là yếu tố 2 (đặc điểm của học sinh) và yếu tố 6 (các hoạt động học tập và kết quả của chúng). Đây chính là lý do mà việc nâng cao chất lượng giáo viên - lựa chọn và bồi dưỡng những con người có các tố chất (đặc điểm) và năng lực (có khả năng tổ chức các hoạt động giảng dạy có hiệu quả đối với học sinh) luôn được chú trọng trong mọi cuộc cải cách giáo dục trên thế giới.

Nhưng bên cạnh giáo viên với tầm quan trọng quyết định đối với chất lượng học tập của học sinh, các yếu tố còn lại trong phức hợp giảng dạy và học tập - đặc điểm của học sinh, chương trình đào tạo, và môi trường học tập - cũng cần được xem xét, vì chúng có thể hạn chế hoặc thúc đẩy khả năng tạo ra những thay đổi của giáo viên đối với học sinh. Một giáo viên dù có giỏi và tâm huyết đến đâu cũng phải bó tay trước nhiệm vụ phải làm cho những học sinh yếu kém, “ngồi nhầm lớp” có thể hoàn tất một chương trình học nặng nề, quá tải, trong một điều kiện học tập hết sức khó khăn, thiếu thốn. Ngược lại, cũng chính giáo viên ấy trong một điều kiện tốt hơn (học sinh có đầu vào tốt, chương trình học nhẹ nhàng, cho phép học sinh có thời gian ứng dụng những điều mình đã học trong thực tế, điều kiện học tập tốt, đầy đủ phương tiện nghe nhìn, vv) có thể sẽ đem lại kết quả xuất sắc.

Như vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục, ngoài nỗ lực nâng cao chất lượng giáo viên còn cần phải song song tiến hành việc cải thiện môi trường làm việc, và điều kiện giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh, thực hiện tốt việc phân loại học sinh, đảm bảo một chương trình đào tạo hợp lý, và cho phép giáo viên có những quyết định phù hợp với đối tượng học sinh và bối cảnh hoạt động của chính mình. Nếu không có các chính sách đồng bộ, thì những nỗ lực về phía giáo viên chỉ mang lại những tác động rất hạn chế.
------

Báo cáo nghiệm thu đề tài vẫn còn dài dài, nhưng tôi sẽ đăng dần từng phần để dễ đọc, vả lại đăng hay không và đăng tới đâu cũng còn tùy vào hứng của tôi nữa các bạn ạ! ;-).