Gửi các bạn sinh viên cao học ĐL-ĐG trong giáo dục
Do có một số bạn cần sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố để thực hiện đề tài của mình nhưng chưa hiểu nhiều về kỹ thuật này, tôi đã đánh máy lại (một phần) chương 10 của cuốn sách về thống kê đã nêu trên tiêu đề của mục entry này. Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn.
--
Phân tích nhân tố
(Trích trong tài liệu: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, NXB Thống kê 2005, Chương X)
I. Khái niệm và ứng dụng
Phân tích nhân tố (PTNT) là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu. Trong nghiên cứu, chúng ta có thể thu thập được một số lượng biến khá lớn và hầu hết các biến này có liên hệ với nhau. Số lượng của chúng cần được giảm bớt xuống đến một số lượng mà chúng ta có thể sử dụng được. […]
PTNT được sử dụng trong các trường hợp sau:
1. Nhận diện các khía cạnh hay nhân tố giải thích được các liên hệ tương quan trong một tập biến. Ví dụ, ta có thể sử dụng một tập hợp các phát biểu về lối sống để đo lường tiểu sử tâm lý của người tiêu dùng. Sau đó những phát biểu (tức các biến) này được sử dụng trong PTNT để nhận diện các yếu tố tâm lý cơ bản.
2. Nhận diện một tập hợp gồm một số biến lượng mới tương đối ít và không có tương quan với nhau để thay thế tập hợp biến gốc và có tương quan với nhau để thực hiện một phân tích đa biến tiếp theo sau (ví dụ như hồi quy hoặc phân tích biệt số). Chẳng hạn như sau khi nhận diện các nhân tố tâm lý thì ta có thể sử dụng chúng thành những biến độc lập để giải thích sự khác biệt giữa người trung thành và người không trung thành với nhãn hiệu sử dụng.
PTNT có vô số ứng dụng trong các nghiên cứu kinh tế và xã hội. Trong nghiên cứu xã hội, các khái niệm thường khá trừu tượng và phức tạp, phân tích nhân tố thường được dùng trong quá trình xây dựng thang đo lường các khía cạnh khác nhau của khái niệm nghiên cứu, kiểm tra tính đơn khía cạnh của thang đo lường. Trong kinh doanh, PTNT có thể được ứng dụng trong nhiều trường hợp:
1. PTNT có thể được sử dụng trong phân tích thị trường để nhận ra các biến quan trọng dùng để phân nhóm người tiêu dùng. Người mua xe có thể được nhóm theo sự chú trọng tương đối về tính kinh tế, tiện nghi, tính năng và sự sang trọng. [...]
2. Trong phân tích sản phẩm, ta có thể sử dụng PTNT để xác định các thuộc tính nhãn hiệu có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng. Ví dụ các nhãn hiệu kem đánh răng có thể được đánh giá theo khả năng bảo vệ chống sâu răng, trắng răng, mùi vị, hơi thở thơm tho, và giá cả.
(trang 259-260)
[…]
IV. Tiến hành phân tích nhân tố
1. Xác định vấn đề
Xác định vấn đề nghiên cứu gồm có nhiều bước.Đầu tiên phải nhận diện các mục tiêu của PTNT cụ thể là gì. Các biến tham gia vào PTNT phải được xác định dựa vào các nghiên cứu trong quá khứ, phân tích lý thuyết, và đánh giá của các nhà nghiên cứu. Một điều quan trọng là các biến này phải được đo lường một cách thích hợp bằng các thang đo định lượng (khoảng cách hay tỷ lệ), và cỡ mẫu phải đủ lớn. Thông thường thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần số biến trong PTNT. Trong nhiều tình huống nghiên cứu, kích thước mẫu khá nhỏ và tỷ số này đôi khi cũng khá nhỏ. Trong trường hợp này thì việc giải thích các kết quả cần phải thận trọng.
Để minh họa, chúng ta hãy xem ví dụ sau. Một nhà nghiên cứu muốn xác định các lợi ích căn bản người tiêu dùng cần có khi mua một ống kem đánh răng. Mẫu gồm 35 người tiêu dùng được phỏng vấn. Những người được phỏng vấn cho biết mức độ quan trọng của 6 lợi ích sau trên thang đo 7 điểm (1 = không quan trọng, 7 = rất quan trọng). Danh sách 6 lợi ích đó như sau:
V1 (V = value): ngừa sâu răng
V2: làm trắng răng
V3: làm chắc nướu
V4: làm hơi thở thơm tho
V5: làm sạch răng
V6: làm bóng răng
2. Xây dựng ma trận tương quan
Quá trình phân tích dựa trên ma trận tương quan của các biến này. Để có thể áp dụng được PTNT thì các biến phải có liên hệ với nhau. Trong thực tế ta luôn có điều này. Nếu hệ số tương quan giữa các biến nhỏ thì PTNT có thể không thích hợp. […]
Ta có thể sử dụng Bartlett’s test of sphericity để kiểm tra giả thuyết H0 là các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể. […] Đại lượng này càng lớn thì ta càng có nhiều khả năng bác bỏ giả thuyết này. Nếu không thể bác bỏ giả thuyết thì PTNT có thể không thích hợp.
3. Số lượng nhân tố
Chúng ta có thể tính ra một số nhân tố nhiều bằng số biến, nhưng như thế không có tác dụng gì cả! Để tóm tắt thông tin thì số nhân tố phải ít hơn số biến. Nhưng bao nhiêu nhân tố? Có 5 phương pháp xác định số nhân tố: xác định từ trước, dựa vào eigenvalue, biểu đồ dốc (scree plot), phần trăm biến thiên giải thích được (percentage of variance), chia đôi mẫu và kiểm nghiệm mức ý nghĩa.
[…]
4. Xoay các nhân tố
Còn tiếp các phần sau:
5. Đặt tên và giải thích nhân tố
6. Nhân số (Điểm số nhân tố)
Monday, January 11, 2010
Sunday, January 10, 2010
Tài liệu dịch: "Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp"
Mixed Methods Design
Tác giả: Olivia Hunt
Nguồn: http://www.articlealley.com/article_185975_22.html
Đây là bản dịch của tài liệu đã đưa lên blog này hôm qua. PA dịch, có cắt bớt đoạn cuối cùng nói về tác giả vì không liên quan đến nội dung bài viết. Ngoài ra, bản dịch được viết lại một vài chỗ, chủ yếu để cho dễ đọc đối với độc giả VN, nhưng không thay đổi ý của tác giả.
Bản dịch nhằm giúp các học viên lớp cao học đo lường - đánh giá khóa 1 đang làm luận văn cao học có thêm tài liệu bằng tiếng Việt để tham khảo. Sử dụng, trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn (tác giả và dịch giả).
--
Có 3 trường phái chính trong nghiên cứu giáo dục, đó là: nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính và nghiên cứu hỗn hợp. Bài này viết về thiết kế nghiên cứu hỗn hợp, trong đó vấn đề được quan tâm đặc biệt là hai cách tiếp cận định lượng và định tính trong thiết kế với tư cách những thành phần thiết yếu của trường phái nghiên cứu hỗn hợp.
Nghiên cứu hỗn hợp là loại hình nghiên cứu sử dụng các dữ liệu, kỹ thuật, và phương pháp thuộc cả hai trường phái định tính và định lượng. Tất cả những đặc điểm thuộc 2 trường phái đối lập với nhau được pha trộn trong một nghiên cứu điển hình (nghiên cứu trường hợp). Thiết kế này phù hợp với các nghiên cứu sử dụng dữ liệu hỗn hợp (dữ liệu số và dữ liệu văn bản) cũng như các phương pháp xử lý có liên quan (xử lý thống kê và phân tích văn bản). Cách tiếp cận hỗn hợp sử dụng cả hai phương pháp suy luận là diễn dịch và quy nạp, sử dụng nhiều hình thức thu thập dữ liệu và đưa ra các báo cáo kết quả mang tính chiết trung và thực dụng.
Các nghiên cứu theo trường phái hỗn hợp được chia ra làm 2 loại chính: hỗn hợp phương pháp (mixed method) và hỗn hợp mô hình (mixed model). Nghiên cứu hỗn hợp phương pháp là một nghiên cứu trong đó bạn sử dụng dữ liệu định lượng cho một giai đoạn nghiên cứu này, và sử dụng dữ liệu định tính cho một giai đoạn khác của cùng nghiên cứu đó. Nghiên cứu hỗn hợp mô hình là nghiên cứu trong đó bạn sử dụng cả hai loại dữ liệu định tính và định lượng trong một hoặc cả hai giai đoạn của quá trình nghiên cứu. Sự pha trộn của các cách tiếp cận định tính và định lượng xảy ra trong mỗi giai đoạn nghiên cứu.
Khi nghiên cứu điều quan trọng là sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tiến hành nghiên cứu chi tiết. Những lợi thế của nghiên cứu hỗn hợp là:
1) Tăng sức mạnh của nghiên cứu;
2) Sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu sẽ giúp nghiên cứu một quá trình hoặc một vấn đề từ nhiều phía;
3) Sử dụng các cách tiếp cận khác nhau sẽ giúp tập trung vào một quá trình duy nhất và khẳng định tính chính xác của dữ liệu. Nghiên cứu hỗn hợp bổ sung kết quả từ các loại hình nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu theo phương pháp sẽ này không làm ta bỏ lỡ bất kỳ dữ liệu nào có sẵn.
Phần định lượng trong một nghiên cứu hỗn hợp đòi hỏi sử dụng cách suy luận diễn dịch, trong khi phần định tính đòi hỏi sử dụng cách suy luận quy nạp. Ngoài ra, cách tiếp cận định lượng thực hiện thu thập dữ liệu định lượng dựa trên các số đo chính xác, thu thập thông tin có cấu trúc và được thẩm tra chặt chẽ. Ví dụ, các thang đo (rating scale), hoặc câu hỏi và hồi đáp cho sẵn (closed-ended items and responses). Phương pháp này cho ta các báo cáo thống kê và các mối liên hệ tương quan.
Phần định tính trong nghiên cứu hỗn hợp sử dụng các thông tin định tính. Ví dụ, phỏng vấn, ghi chép tại hiện trường (field notes), câu hỏi mở vv. Trong cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu được xem là công cụ thu thập thông tin chủ yếu. Khi kết thúc một nghiên cứu theo cách này ta sẽ nhận được một báo cáo tường thuật với bản mô tả bối cảnh cùng những trích dẫn bằng ngôn từ rút ra từ tài liệu nghiên cứu.
Điều quan trọng cần nhấn mạnh là có rất nhiều cách thực hiện nghiên cứu. Các phương pháp định lượng và định tính đều có những thuận lợi và bất lợi của chúng họ trong một nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, bạn có thể kết hợp những lợi thế của cả hai phương pháp và đưa ra thông tin chính xác về quá trình triển khai, các phát hiện và kết luận trong nghiên cứu của bạn. Hai phương pháp định tính và định lượng có những điểm mạnh, điểm yếu và yêu cầu khác nhau, những điều này đều có ảnh hưởng đến độ chính xác của dự án nghiên cứu. Mục đích của một thiết kế hỗn hợp là kết hợp được những khía cạnh tích cực của cả hai cách tiếp cận và tạo ra những số liệu có độ chính xác cao.
Kết luận
Khi bạn sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu, thì bạn có thể sử dụng sức mạnh của từng loại thông tin và giảm thiểu các điểm yếu của từng cách tiếp cận. Cách tiếp cận hỗn hợp trong việc thu thập và đánh giá thông tin có thể tăng tính hợp lệ và độ chính xác của thông tin. Bài viết này đã phân tích ngắn gọn một thiết kế nghiên cứu theo phương pháp hỗn hợp, và bao gồm các thành phần chính: cách tiếp cận định lượng và định tính trong việc thiết kế nghiên cứu. Bài viết nhằm chứng minh hiệu quả của thiết kế nghiên cứu hỗn hợp.
Tác giả: Olivia Hunt
Nguồn: http://www.articlealley.com/article_185975_22.html
Đây là bản dịch của tài liệu đã đưa lên blog này hôm qua. PA dịch, có cắt bớt đoạn cuối cùng nói về tác giả vì không liên quan đến nội dung bài viết. Ngoài ra, bản dịch được viết lại một vài chỗ, chủ yếu để cho dễ đọc đối với độc giả VN, nhưng không thay đổi ý của tác giả.
Bản dịch nhằm giúp các học viên lớp cao học đo lường - đánh giá khóa 1 đang làm luận văn cao học có thêm tài liệu bằng tiếng Việt để tham khảo. Sử dụng, trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn (tác giả và dịch giả).
--
Có 3 trường phái chính trong nghiên cứu giáo dục, đó là: nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính và nghiên cứu hỗn hợp. Bài này viết về thiết kế nghiên cứu hỗn hợp, trong đó vấn đề được quan tâm đặc biệt là hai cách tiếp cận định lượng và định tính trong thiết kế với tư cách những thành phần thiết yếu của trường phái nghiên cứu hỗn hợp.
Nghiên cứu hỗn hợp là loại hình nghiên cứu sử dụng các dữ liệu, kỹ thuật, và phương pháp thuộc cả hai trường phái định tính và định lượng. Tất cả những đặc điểm thuộc 2 trường phái đối lập với nhau được pha trộn trong một nghiên cứu điển hình (nghiên cứu trường hợp). Thiết kế này phù hợp với các nghiên cứu sử dụng dữ liệu hỗn hợp (dữ liệu số và dữ liệu văn bản) cũng như các phương pháp xử lý có liên quan (xử lý thống kê và phân tích văn bản). Cách tiếp cận hỗn hợp sử dụng cả hai phương pháp suy luận là diễn dịch và quy nạp, sử dụng nhiều hình thức thu thập dữ liệu và đưa ra các báo cáo kết quả mang tính chiết trung và thực dụng.
Các nghiên cứu theo trường phái hỗn hợp được chia ra làm 2 loại chính: hỗn hợp phương pháp (mixed method) và hỗn hợp mô hình (mixed model). Nghiên cứu hỗn hợp phương pháp là một nghiên cứu trong đó bạn sử dụng dữ liệu định lượng cho một giai đoạn nghiên cứu này, và sử dụng dữ liệu định tính cho một giai đoạn khác của cùng nghiên cứu đó. Nghiên cứu hỗn hợp mô hình là nghiên cứu trong đó bạn sử dụng cả hai loại dữ liệu định tính và định lượng trong một hoặc cả hai giai đoạn của quá trình nghiên cứu. Sự pha trộn của các cách tiếp cận định tính và định lượng xảy ra trong mỗi giai đoạn nghiên cứu.
Khi nghiên cứu điều quan trọng là sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tiến hành nghiên cứu chi tiết. Những lợi thế của nghiên cứu hỗn hợp là:
1) Tăng sức mạnh của nghiên cứu;
2) Sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu sẽ giúp nghiên cứu một quá trình hoặc một vấn đề từ nhiều phía;
3) Sử dụng các cách tiếp cận khác nhau sẽ giúp tập trung vào một quá trình duy nhất và khẳng định tính chính xác của dữ liệu. Nghiên cứu hỗn hợp bổ sung kết quả từ các loại hình nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu theo phương pháp sẽ này không làm ta bỏ lỡ bất kỳ dữ liệu nào có sẵn.
Phần định lượng trong một nghiên cứu hỗn hợp đòi hỏi sử dụng cách suy luận diễn dịch, trong khi phần định tính đòi hỏi sử dụng cách suy luận quy nạp. Ngoài ra, cách tiếp cận định lượng thực hiện thu thập dữ liệu định lượng dựa trên các số đo chính xác, thu thập thông tin có cấu trúc và được thẩm tra chặt chẽ. Ví dụ, các thang đo (rating scale), hoặc câu hỏi và hồi đáp cho sẵn (closed-ended items and responses). Phương pháp này cho ta các báo cáo thống kê và các mối liên hệ tương quan.
Phần định tính trong nghiên cứu hỗn hợp sử dụng các thông tin định tính. Ví dụ, phỏng vấn, ghi chép tại hiện trường (field notes), câu hỏi mở vv. Trong cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu được xem là công cụ thu thập thông tin chủ yếu. Khi kết thúc một nghiên cứu theo cách này ta sẽ nhận được một báo cáo tường thuật với bản mô tả bối cảnh cùng những trích dẫn bằng ngôn từ rút ra từ tài liệu nghiên cứu.
Điều quan trọng cần nhấn mạnh là có rất nhiều cách thực hiện nghiên cứu. Các phương pháp định lượng và định tính đều có những thuận lợi và bất lợi của chúng họ trong một nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, bạn có thể kết hợp những lợi thế của cả hai phương pháp và đưa ra thông tin chính xác về quá trình triển khai, các phát hiện và kết luận trong nghiên cứu của bạn. Hai phương pháp định tính và định lượng có những điểm mạnh, điểm yếu và yêu cầu khác nhau, những điều này đều có ảnh hưởng đến độ chính xác của dự án nghiên cứu. Mục đích của một thiết kế hỗn hợp là kết hợp được những khía cạnh tích cực của cả hai cách tiếp cận và tạo ra những số liệu có độ chính xác cao.
Kết luận
Khi bạn sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu, thì bạn có thể sử dụng sức mạnh của từng loại thông tin và giảm thiểu các điểm yếu của từng cách tiếp cận. Cách tiếp cận hỗn hợp trong việc thu thập và đánh giá thông tin có thể tăng tính hợp lệ và độ chính xác của thông tin. Bài viết này đã phân tích ngắn gọn một thiết kế nghiên cứu theo phương pháp hỗn hợp, và bao gồm các thành phần chính: cách tiếp cận định lượng và định tính trong việc thiết kế nghiên cứu. Bài viết nhằm chứng minh hiệu quả của thiết kế nghiên cứu hỗn hợp.
Subscribe to:
Posts (Atom)