Monday, March 4, 2013

Tài nguyên học tập mở (Open Educational Resources, OER): Đôi lời phi lộ

OER, tạm dịch sang tiếng Việt là tài nguyên học tập mở, là một phong trào toàn cầu bắt đầu từ đầu thế kỷ 21 này. Theo wikipedia (tiếng Anh), "tài nguyên học tập mở là những tài liệu dưới dạng sách in hoặc tài liệu đa truyền thông (multimedia) mà mọi người có thể tiếp cận, định dạng và cấp phép sử dụng, nhằm sử dụng để phục vụ việc giảng dạy, học tập, giáo dục, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu". Phong trào OER này bắt đầu vào khoảng chuyển giao thế kỷ (cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21), bắt đầu từ Hoa Kỳ và các nước nói tiếng Anh, rồi nhanh chóng lan rộng đến châu Âu và nhiều nơi khác trên thế giới, đến nay đã được hơn một thập niên, và sản phẩm của nó (chủ yếu bằng tiếng Anh) thì phải nói là nhiều vô số kể. Có thể nói, hiện nay bất cứ ai biết tiếng Anh, có ham muốn và có sự kiên trì thì cũng có thể tự học bất cứ cái gì từ các nguồn tài nguyên học tập mở này.

(Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Open_educational_resources)

Ở VN, tôi nhớ khoảng những năm đầu của thế kỷ 21 nhà nước cũng đã có những động thái nhằm hỗ trợ và cổ động cho phong trào này. Thậm chí, lúc ấy tôi còn nhớ có một đề án tin học hóa rất lớn là đề án 112, nghe rất hoành tráng nhưng vì ... VN là VN nên chỉ được vài năm thì đã phát hiện ra đủ thứ sai phạm và đề án phải ngưng lại, một số nhân vật phải ra hầu tòa, nhưng những gì đã mất đi thì ... nhà nước (và nhân dân, mà đúng hơn là chỉ có nhân dân) phải ráng chịu! Có thể đọc thêm ở đây: http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81_%C3%A1n_112.

Tôi cũng nhớ trong lãnh vực giáo dục thì hình như Bộ Giáo dục cũng có một giai đoạn kêu gọi xây dựng học liệu mở (open courseware), cũng là một phần của phong trào OER nói trên. Tôi cũng đã từng nhìn thấy trên trang web của Bộ Giáo dục một nguồn tài liệu (giáo trình) mở như thế, không nhiều lắm nhưng cũng được sắp xếp theo các môn học và trình độ, nhưng hình như không có mấy tác dụng đến ai cả và cho đến nay mọi việc đã đi đến đâu thì cũng chẳng ai rõ.

Bản thân tôi cũng là một người rất mê phong trào OER cũng như việc ứng dụng ICT (công nghệ thông tin - truyền thông trong giáo dục), và thậm chí đã làm vài ba công trình khoa học nhằm ứng dụng IT trong lãnh vực kiểm tra-đánh giá, thi cử tiếng Anh hồi còn ở trường ĐHKHXH-NV. Từ lâu tôi đã muốn khai thác những nguồn tài liệu bằng tiếng Anh này để giúp người học VN vừa nâng cao trình độ tiếng Anh, vừa học hỏi thêm nhiều điều, mở rộng tầm mắt, có thêm kiến thức, kỹ năng vv để có thể hiểu biết hơn, có nhiều kỹ năng hơn, hiểu biết hơn, sống tốt hơn. Nhưng lực bất tòng tâm, điều kiện không cho phép, nên cũng chỉ biết muốn mà thôi!

Hôm nay, nhân ngồi tìm tài liệu để xây dựng một số môn học, tôi lại tìm đến những nguồn tài liệu này, và thấy thực sự tiếc rẻ nếu như những nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và sẵn có này không được người VN khai thác. Tôi trộm nghĩ, nếu các giảng viên đại học của VN mà có đủ tiếng Anh (tôi chỉ nói những người ở mức trung bình, không dám động đến những vị được đào tạo tới nơi tới chốn từ phương tây, có bằng cấp và học vị cao, và là "đồ thật", không phải hàng giả), thì có lẽ chỉ cần sử dụng những tài liệu miễn phí này để dạy thôi, cũng đã có thể giúp nâng chất lượng của nền giáo dục của VN lên kha khá rồi đấy.

Vì nghĩ như vậy, nên tôi mở chuỗi (thread) bài về OER nhằm giới thiệu dần các nguồn tài liệu hữu ích đến cho mọi người sử dụng. Riêng hôm nay, vì là bài mở đầu nên tôi chưa giới thiệu bất cứ nguồn tài liệu nào, mà chỉ mới giới thiệu phong trào đến với các bạn mà thôi. Tuy nhiên, nếu các bạn sốt ruột thì có thể vào trang wikipidia mà tôi đã dẫn ở trên, nhìn phần cuối (links) sẽ có nhiều đường dẫn đến những nguồn tài liệu ấy. Và xin giới thiệu một nguồn mà tôi rất hay sử dụng, đó là Bookboon. Bạn cứ gõ Bookboon và google search, sẽ ra ngay thôi!

Hẹn các bạn ở những bài sau nhé.

Công bằng cho trường ngoài công lập: Vai trò nhà nước quyết định sự thành bại (Thanh Niên)

Đó là tựa bài đăng trên báo TN hôm nay, còn nội dung bài viết, trừ những phần trích dẫn người khác, là ... của tôi! :-)

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130303/cong-bang-cho-truong-ngoai-cong-lap-ky-6-vai-tro-nha-nuoc-quyet-dinh-thanh-bai.aspx

Xin chép lại nội dung ở đây để lưu và chia sẻ với các bạn.

Và cũng cám ơn báo Thanh Niên đã ủng hộ và đăng ý kiến của tôi trên báo hôm nay.
 --------

Công bằng cho trường ngoài công lập - Kỳ 6: Vai trò nhà nước quyết định thành bại

Loạt bài Công bằng cho trường ngoài công lập nhận được nhiều ý kiến góp ý thẳng thắn, chân tình và quyết liệt của các chuyên gia giáo dục, với mong muốn nhà nước sẽ có những quyết sách phù hợp giúp hệ thống trường tư phát triển đúng vai trò của nó.   

>> Công bằng cho trường ngoài công lập - Kỳ 5: Đi ngược lại chủ trương
Cùng điểm xuất phát, nước phát triển, nước thụt lùi
Lịch sử phát triển ĐH tư của Malaysia và Việt Nam ban đầu khá giống nhau: Cả hai đều bắt đầu vào thập niên 1990; khi mới ra đời đều bị xã hội xem như trường "hạng hai" so với các trường ĐH công lập truyền thống lâu đời và là lựa chọn cho những người không thể vào được trường công lập.
Thế nhưng đoạn đường phát triển của ĐH tư ở 2 quốc gia hoàn toàn khác nhau. Trong hơn 2 thập niên qua, giáo dục ĐH  tư nhân của Malaysia phát triển khá thuận lợi cả về số lượng lẫn chất lượng. Hiện nay, tỷ lệ người học ở khối trường ĐH tư của nước này đến gần 50%. Từ chỗ  ĐH chỉ được đào tạo ở trình độ thấp như các chứng chỉ nghề ngắn hạn, khóa học trung cấp, CĐ hoặc phải liên kết với các trường nước ngoài để có thể đào tạo trình độ ĐH, đến nay đã có nhiều trường tư đào tạo từ cử nhân đến tiến sĩ. Không những thế, các trường ĐH tư của Malaysia còn thu hút được khá nhiều sinh viên quốc tế đến học, thậm chí một số trường trở thành tên tuổi lớn, là niềm tự hào của nền giáo dục quốc gia.
Công bằng cho trường ngoài công lập - Kỳ 6: Vai trò nhà nước quyết định thành bại
Sinh viên Trường ĐHDL Thăng Long, một trong những trường ĐH tư đầu tiên của Việt Nam - Ảnh: Ngọc Thắng
Trong khi đó, tại Việt Nam con đường phát triển của ĐH tư lại gập ghềnh với nhiều khúc quanh. Cho đến nay ĐH tư chỉ mới thu hút được 15% tổng số sinh viên theo học, và khả năng đạt 40% vào năm 2020 vẫn còn là một câu hỏi lớn, đặc biệt khi xét đến những khó khăn mà các trường tư của Việt Nam đã và đang gặp phải những năm gần đây trong việc thu hút sinh viên.
Cần chính sách minh bạch và ổn định
Khi so sánh các chính sách đối với trường tư của Malaysia và Việt Nam, có thể thấy vai trò chính của nhà nước có tác động lớn nhất đến sự thành bại của ĐH tư.
Tại Việt Nam, tất cả các trường ĐH tư đều được quản lý chặt chẽ bởi cùng những quy định vốn được xây dựng để quản lý các trường ĐH công. Chẳng hạn cho đến nay, chúng ta vẫn tổ chức thi tuyển sinh “3 chung” cho tất cả thí sinh vào các trường ĐH dù công hay tư.
Sự hỗ trợ của nhà nước là hợp lý và công bằng vì giáo dục là một loại hàng hóa đặc biệt. Nhưng hiện nay nhà nước không hề có chính sách nào hỗ trợ trường ngoài công lập mà để mặc các trường tự bươn chải, thậm chí dường như còn có tâm lý các trường không tuyển sinh được đều do kém cỏi.
 Là một người học, nếu 2 trường có chất lượng tương đương nhưng một trường phải đóng tiền gấp 3 -  4 lần trường kia thì có ai dại gì lại chọn trường đắt tiền? Chưa kể, trường tư ra đời sau nên cần thời gian "nuôi dưỡng" để phát triển và trưởng thành thì mới có thể tương đương những trường công kỳ cựu được. Sao lại lấy những sai sót, yếu kém của một loại hình trường sinh sau đẻ muộn  để so sánh với những trường kỳ cựu, được nhà nước đầu tư từ cơ sở vật chất, đất đai, nhân lực, lại có sẵn thương hiệu… Thực ra, những trường ĐH công ở địa phương hay hệ tại chức, văn bằng 2 của trường công cũng rất kém, vậy ai chịu trách nhiệm? Trong khi tiền để hỗ trợ cho các trường công (yếu kém) này hoạt động chính là tiền thuế của dân.
 Ngoài ra, mọi người dân đều đóng thuế, tại sao khi đi học chỉ có những người vào được trường công mới được nhà nước hỗ trợ? Điều này  không công bằng với người học. Nhà nước không hỗ trợ cho trường mà phải hỗ trợ cho chính người học, tức là nếu sinh viên trường công được bao cấp 3 triệu đồng/năm thì thì sinh viên trường tư (cùng một đối tượng) cũng phải được như vậy. Học phí trường công chỉ 6 triệu vì đã được nhà nước cấp 3 triệu, thì khi học phí trường tư 20 triệu sinh viên sẽ chỉ phải đóng 17 triệu, còn nhà nước sẽ cấp cho trường tư thêm 3 triệu cho mỗi đầu sinh viên theo học. Đó là chính sách đã được thực hiện ở Mỹ qua các chương trình hỗ trợ người học, không phân biệt học trường công hay trường tư.
Để phát triển hệ thống các trường ngoài công lập ở VN, cần phải thực hiện những điều sau:
Có một quy hoạch rõ ràng ngay từ đầu về vai trò, vị trí của từng loại hình trường, sao cho có sự khác biệt về thị phần để 2 loại trường này không cạnh tranh mà bổ sung cho nhau.
Có tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch và ổn định về các yêu cầu chất lượng để quản lý trường (cả công lẫn tư) và có hệ thống giám sát  tốt, nghiêm ngay từ đầu.
Muốn đẳng cấp, cần phi lợi nhuận
Theo nhiều chuyên gia, muốn có các trường tư thục nổi tiếng về chất lượng, nên đi theo hướng phi lợi nhuận hoàn toàn. Nhưng với nhiều lý do, rất khó để xuất hiện một trường ĐH dạng này ở Việt Nam trong vài năm tới.
Theo Giáo sư Phạm Phụ, các trường nổi tiếng ở nước ngoài phần lớn là trường phi lợi nhuận. Ở Mỹ, các trường ngoài công lập vì lợi nhuận chủ yếu chỉ để bồi dưỡng, thực hiện chính sách xã hội học tập. Ở Việt Nam, nhiều trường còn phải gọi là “siêu lợi nhuận”. Tuy nhiên, ở nước ta chưa có thói quen tài trợ, hiến tặng tài sản cho trường ĐH nên trông đợi một trường ĐH như vậy thì không biết đến bao giờ. Hiện tại tốt nhất vẫn là chọn hướng đi như một số nước: cổ đông góp vốn nhưng bị khống chế về lợi nhuận. Cụ thể là phần lợi nhuận thu được chia cho cổ đông chỉ nên bằng hoặc hơn một ít so với lãi suất ngân hàng, phần còn lại sẽ tái đầu tư lại cho trường.
Phó giáo sư - TS Dương Anh Đức, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ thông tin (ĐH Quốc gia TP.HCM), khẳng định: “Hy vọng trường tư vọt lên tầng trên thì phải có trường hoạt động phi lợi nhuận như nước ngoài. Tiền đầu tư vào để phát triển giáo dục chứ không phải đầu tư như một công ty cổ phần để nhận lại lợi nhuận”.
Theo tiến sĩ Phạm Thị Ly - Viện Đào tạo quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM), trường không vì lợi nhuận sẽ không thể phát triển được nếu không có một hành lang pháp lý phù hợp. Đó là chính sách ưu đãi về đất đai và thuế. Nếu mọi khoản hiến tặng cho trường dân lập không vì lợi nhuận đều được miễn thuế, sẽ có nhiều doanh nhân vui lòng hiến tặng cho nhà trường. Hầu hết các trường ĐH tư ở Mỹ  và châu Âu vẫn là trường phi lợi nhuận.
Thế nhưng theo luật Giáo dục ĐH, các trường phát triển theo hướng phi lợi nhuận vẫn chưa được tự chủ hoàn toàn. Ông Dương Anh Đức cho rằng ở nước ngoài hầu như nhà nước không can thiệp chính sách của trường phi lợi nhuận.
Đăng Nguyên - Hà Ánh
(tổng hợp)
Ý kiến
Khuyến khích thị trường hóa giáo dục chứ không phải thương mại hóa
Ở Việt Nam, tư tưởng coi trường ĐH như một doanh nghiệp đang quá phổ biến. Cần khuyến khích thị trường hóa giáo dục, chứ không nên khuyến khích thương mại hóa giáo dục. Thị trường hóa là tạo cơ chế để các trường cạnh tranh công bằng nhưng mục tiêu tối thượng vẫn là giáo dục chứ không phải lợi nhuận. Còn thương mại hóa là xem giáo dục như ngành kinh doanh để kiếm tiền, coi ĐH như doanh nghiệp.
Ông Giản Tư Trung
(Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục - IRED)
Bỏ việc ấn định điểm sàn trong tuyển sinh ĐH
Việc ấn định ra mức điểm sàn chung cho tất cả các trường ĐH trên toàn quốc là không hợp lý và không cần thiết. Bộ GD-ĐT có trách nhiệm xác định chỉ tiêu tuyển sinh được cấp ngân sách cho các trường ĐH công lập nên có thể ấn định mức điểm sàn cho hệ thống trường này để bảo đảm chất lượng đầu vào cũng như hạn chế việc chạy theo số lượng. Các trường ĐH ngoài công lập  nhằm đáp ứng nhu cầu học tập bậc ĐH ngày càng gia tăng của người dân mà không tốn ngân sách giáo dục của nhà nước, nên việc ấn định mức điểm sàn dựa vào kết quả một kỳ thi đại học gồm 3 môn để tước bỏ quyền học tiếp lên bậc ĐH của một số lượng rất lớn học sinh đã tốt nghiệp THPT là không hợp lý.
PGS-TS Nguyễn Thiện Tống
(Nguyên giảng viên Trường ĐH Bách khoa TP.HCM)