Showing posts with label researchmethods. Show all posts
Showing posts with label researchmethods. Show all posts

Monday, January 21, 2013

"Các phương pháp nghiên cứu định tính"

Tìm thấy bài này trên mạng, thấy hữu ích nên chép lại ở đây để lưu. Nguồn: http://my.opera.com/xahoihoc/blog/show.dml/40703852.

------------

Các phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative Research)

Nghiên cứu khoa học là việc thu thập, phân tích và lý giải số liệu để giải quyết một vấn đề hay trả lời một câu hỏi (Varkevisser, 1991). Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng đầu tiên trong các nghiên cứu nhân chủng học. Để có được những thông tin sâu, các nhà nhân chủng học đi đến sống ở các cộng đồng mà họ muốn nghiên cứu, họ thường sử dụng các kỹ thuật như phỏng vấn phi cấu trúc, thu thập lịch sử đời sống, thảo luận nhóm, nghiên cứu trường hợp để quan sát và tìm hiểu những nguyên nhân chi phối hành vi ứng xử của người dân. Ngày nay, các kỹ thuật đó được sử dụng rộng rãi không chỉ trong phạm vi của nhân chủng học mà còn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt là lĩnh vực Y- Xã hội học.


Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu định tính là gì?

Nghiên cứu định tính (NCĐT) là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người và của nhóm người từ quan điểm của nhà nghiên cứu. Nghiên cứu định tính cung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành. Đời sống xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh được cuộc sống thực tế hàng ngày. Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng. Phương pháp này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó. Trong nghiên cứu định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập. Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng.

So sánh nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

Phương pháp nghiên cứu định lượng (NCĐL) sử dụng một bảng hỏi đã chuẩn bị trước theo một cơ cấu nhất định cho mọi đối tượng nghiên cứu. Một ví dụ điển hình của phương pháp này là điều tra KAP (Knowledge Attitude Pratice: Kiến thức – Thái độ - Thực hành). Nghiên cứu KAP cho phép suy luận thống kê từ kết quả thu được ở các mẫu tương đối nhỏ ra quần thể lớn hơn; nó cũng cho phép đo lường và đánh giá mối liên quan giữa những biến số; tiến hành điều tra khá dễ và triển khai khá nhanh chóng và kết quả thu được từ các cuộc điều tra tốt có thể sử dụng để so sánh theo thời gian hoặc giữa các vùng. Tuy nhiên KAP có một số nhược điểm và cần được sử dụng một cách thận trọng. Đáng lưu ý nhất là những sai số không do chọn mẫu, ví dụ người được hỏi trả lời không đúng các câu hỏi vì không nhớ hoặc do hiểu sai hoặc cố tình nói dối. Hai vấn đề nghiêm trọng nhất là:
- Sự phiên dịch lại về mặt văn hóa: xảy ra khi đối tượng phỏng vấn không hiểu câu hỏi đặt ra như ý định của nhà nghiên cứu mà lại hiểu khác đi và trả lời theo cách hiểu của họ.
- Những sai số ngữ cảnh là những yếu tố liên quan đến bản thân cuộc phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu định luợng giả định rằng hành vi và thái độ của con người không thay đổi theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, câu trả lời của đối tượng có thể thay đổi phụ thuộc vào các ngữ cảnh khác nhau.

Nghiên cứu định tính cho phép các nghiên cứu viên hạn chế các sai số ngữ cảnh bằng cách sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn và tạo ra một môi trường phỏng vấn mà trong đó đối tượng cảm thấy thoải mái nhất.

Các phương pháp thu thập thông tin khác nhau đem lại thông tin khác nhau. Vì vậy trước khi quyết định sử dụng phương pháp nào cần phải xác định loại thông tin nào cần thiết nhất cho mục đích nghiên cứu. Các phương pháp NCĐT và NCĐL có thể kết hợp để bổ sung lẫn cho nhau. Ví dụ:

- NCĐT có thể hỗ trợ cho NCĐL bằng cách xác định các chủ đề phù hợp với phương pháp điều tra.

- NCĐL có thể hỗ trợ cho NCĐT bằng cách khái quát hóa các phát hiện ra một mẫu lớn hơn hay nhận biết các nhóm cần nghiên cứu sâu

- NCĐT có thể giúp giải thích các mối quan hệ giữa các biến số được phát hiện trong các NCĐL

Sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp

Sử dụng NCĐT trong trường hợp:
- Chủ đề nghiên cứu mới và chưa được xác định rõ
- Nghiên cứu thăm dò, khi chưa nắm được những khái niệm và các biến số
- Khi cần thăm dò sâu, khi muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa những khía cạnh đặc biệt của hành vi với ngữ cảnh rộng hơn
- Khi cần tìm hiểu về ý nghĩa, nguyên nhân hơn là tần số
- Khi cần có sự linh hoạt trong hướng nghiên cứu để phát hiện những vấn đề mới và khám phá sâu một chủ đề nào đó
- Nghiên cứu sâu và chi tiết những vấn đề được chọn lựa kỹ càng, những trường hợp hoặc các sự kiện

Sử dụng NCĐL trong trường hợp
- Chủ đề nghiên cứu đã được xác định rõ và đã quen thuộc
- Khi những vấn đề cần đo lường khá nhỏ hay đã từng được giải quyết
- Khi không cần thiết phải liên hệ những phát hiện với các bối cảnh xã hội hay văn hóa rộng hơn hay bối cảnh này đã được hiểu biết đầy đủ
- Khi cần sự mô tả chi tiết bằng các con số cho một mẫu đại diện
- Khi khả năng tiến hành lại sự đo lường là quan trọng
- Khi cần khái quát hóa và so sánh kết quả trong quần thể nghiên cứu

(...)


Ai có thể thực hiện nghiên cứu định tính
- Người nắm rõ thực địa.
- Người nắm rõ đối tượng nghiên cứu kể cả lịch sử, kinh tế-văn hóa-xã hội nơi đối tượng sinh sống.
- Người được huấn luyện tốt (có kiến thức và kỹ năng tốt).
- Người có kinh nghiệm trong tiếp xúc với những người thuộc các thành phần xã hội khác nhau .
- Người kiên nhẫn và biết lắng nghe người khác.

Các phương pháp, kỹ thuật thu thập số liệu chủ yếu trong nghiên cứu định tính.

PHƯƠNG PHÁP PHỎNG VẤN SÂU (In-depth Interview)

1. Phỏng vấn không cấu trúc (Unstructure Interview)

Là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu xã hội học. Khi sử dụng phương pháp này nghiên cứu viên (NCV) phải nhớ một số chủ đề cần phỏng vấn và có thể sử dụng một danh mục chủ đề để khỏi bỏ sót trong khi phỏng vấn. Nghiên cứu viên có thể chủ động thay đổi thứ tự của các chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được phỏng vấn. Phỏng vấn không cấu trúc (PVKCT) giống như nói chuyện, làm cho người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đề phỏng vấn. Điều cốt yếu quyết định sự thành bại của phỏng vấn không cấu trúc là khả năng đặt câu hỏi khơi gợi một cách có hiệu quả, tức là khả năng kích thích người trả lời cung cấp thêm thông tin.

Ưu điểm của PVKCT là cho phép nghiên cứu viên linh hoạt thay đổi cấu trúc phỏng vấn tùy theo ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng. PVKCT đặc biệt có ích trong những trường hợp khi mà NCV cần phỏng vấn những người cung cấp thông tin nhiều lần, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Phỏng vấn không cấu trúc cũng hữu ích trong những trường hợp không thể sử dụng được phỏng vấn chính thức (ví dụ khi nghiên cứu về gái mãi dâm đứng đường hoặc trẻ em lang thang ...). PVKCT đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu các chủ đề nhạy cảm như tình dục, mãi dâm, ma túy hoặc HIV/AIDS ... Nhược điểm: Không có mẫu chuẩn bị sẵn nên mỗi cuộc phỏng vấn là một cuộc trò chuyện không lặp lại vì vậy rất khó hệ thống hoá các thông tin và phân tích số liệu.

2. Phỏng vấn bán cấu trúc (Semi-Structure Interview)

Phỏng vấn bán cấu trúc là phỏng vấn dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến. Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng phỏng vấn. Các loại phỏng vấn bán cấu trúc gồm:

Phỏng vấn sâu (In-depth Interview)

Được sử dụng để tìm hiểu thật sâu một chủ đề cụ thể, nhằm thu thập đến mức tối đa thông tin về chủ đề đang nghiên cứu. Phỏng vấn sâu sử dụng bản hướng dẫn bán cấu trúc trên cơ sở những phỏng vấn thăm dò trước đó về chủ đề nghiên cứu để có thể biết được câu hỏi nào là phù hợp.

Nghiên cứu trường hợp (Case study)

Nhằm thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu về các trường hợp đang quan tâm. “Một trường hợp” ở đây có thể là một cá nhân, một sự kiện, một giai đoạn bệnh, một chương trình hay một cộng đồng. Nghiên cứu trường hợp đặc biệt cần thiết khi nghiên cứu viên cần có hiểu biết sâu về một số người, vấn đề và tình huống cụ thể, cũng như khi các trường hợp có nhiều thông tin hay mà có thể đem lại một cách nhìn sâu sắc về hiẹn tượng đang quan tâm.

Lịch sử đời sống(Life – History) .

Thông tin về lịch sử đời sống của cá nhân thường được thu thập qua rất nhiều cuộc phỏng vấn kéo dài (thường là phỏng vấn bán cấu trúc và không cấu trúc)

Ưu điểm của PV bán cấu trúc

- Sử dụng bản hướng dẫn phỏng vấn sẽ tiết kiệm thời gian phỏng vấn

- Danh mục các câu hỏi giúp xác định rõ những vấn đề cần thu thập thông tin nhưng vẫn cho phép độ linh hoạt cần thiết để thảo luận các vấn đề mới nảy sinh.

- Dễ dàng hệ thống hoá và phân tích các thông tin thu được

Nhược điểm: Cần phải có thời gian để thăm dò trước chủ đề quan tâm để xác định chủ đề nghiên cứu và thiết kế câu hỏi phù hợp

3. Phỏng vấn có cấu trúc hoặc hệ thống (Structure/System Interview)

Là phương pháp phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau. Thông tin thu được bằng phương pháp này có thể bao gồm cả các con số và các dữ liệu có thể đo đếm được. Các phương pháp này được coi là một bộ phận trong nghiên cứu định tính vì chúng giúp cho việc mô tả và phân tích các đặc điểm văn hóa và hành vi của đối tượng nghiên cứu.

Các phương pháp này nhằm phát hiện và xác định rõ các phạm trù văn hóa thông qua sự tìm hiểu “những quy luật văn hóa” trong suy nghĩ của cá nhân, tìm hiểu xem họ nghĩ và biết gì về thế giới xung quan họ và cách họ tổ chức các thông tin này như thế nào.

Liệt kê tự do (Free listing)

Tách biệt và xác định các phạm trù cụ thể. NCV yêu cầu đối tượng liệt kê mọi thông tin mà họ có thể nghĩ tới trong một phạm trù cụ thể. Ví dụ, khi tìm hiểu kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục ta có thể yêu cầu đối tượng liệt kê tên của các bệnh đó hoặc liệt kê các con đường lây nhiễm HIV ...

Phân loại nhóm (Group category)

Phương pháp này tìm hiểu kiến thức của đối tượng về các phạm trù khác nhau và mối liên hệ giữa chúng. Ví dụ, NCV có thể yêu cầu đối tượng phân loại các bệnh của đường sinh dục và các bệnh lây qua đường tình dục hoặc phân loại những tiếp xúc không gây lây nhiễm HIV và những tiếp xúc có thể làm lây nhiễm.

Phân hạng sử dụng thang điểm (Scale category)

Là phương pháp rất phổ biến trong khoa học xã hội. Các thang điểm thường được sử dụng để phân hạng các khoản mục trong một phạm trù nào đó. Thang điểm có thể là một dẫy số có thể là đồ thị. Ví dụ:

Khi tìm hiểu kiến thức của cá nhân về các biểu hiện của bệnh AIDS, sau khi đưa ra danh sách của một số triệu chứng NCV có thể sử dụng thang điểm để xác định hiểu biết của đối tượng và yêu cầu đối tượng khoanh vào số mà theo bạn biểu thị mức độ trầm trọng của bệnh AIDS:

0 1 2 3 4 5 6 7 (từ nhẹ cho đên mức độ nặng nhất) Hoặc đánh dấu trên đường thẳng

*________________________*
Nhẹ ------------------- Nặng


THẢO LUẬN NHÓM (Group Discussion)

Một điều cần lưu ý là đơn vị nghiên cứu và phân tích trong thảo luận nhóm sẽ là nhóm chứ không phải là cá nhân.

1. Thảo luận nhóm tập trung (FGD: Focus Group Discussion)

Một nhóm tập trung thường bao gồm từ 6 đến 8 người có chung một số đặc điểm nhất định phù hợp với chủ đề cuộc thảo luận, ví dụ cùng một trình độ học vấn, cùng một độ tuổi, cùng một giới tính ...

Thảo luận nhóm tập trung thường được sử dụng để đánh giá các nhu cầu, các biện pháp can thiệp, thử nghiệm các ý tưởng hoặc chương trình mới, cải thiện chương trình hiện tại và thu thập các thông tin về một chủ đề nào đó phục vụ cho việc xây dựng bộ câu hỏi có cấu trúc ...

Ưu điểm của phương pháp

- Cung cấp một khối lượng thông tin đáng kể một cách nhanh chóng và rẻ hơn so với phỏng vấn cá nhân.
- Rất có giá trị trong việc tìm hiểu quan niệm, thái độ và hành vi của cộng đồng
- Hỗ trợ việc xác định những câu hỏi phù hợp cho phỏng vấn cá nhân

Nhược điểm

- Nghiên cứu viên khó kiểm soát động thái của quá trình thảo luận so với phỏng vấn cá nhân.
- Thảo luận nhóm tập trung không thể đưa ra tần suất phân bố của các quan niệm và hành vi trong cộng đồng.
- Kết quả TLNTT thường khó phân tích hơn so với phỏng vấn cá nhân.
- Số lượng vấn đề đặt ra trong TLNTT có thể ít hơn so với PV cá nhân
- Việc chi chép lại thông tin và chi tiết của cuộc thảo luận nhóm tập trung rất khó, nhất là việc gỡ băng ghi âm.

2. Thảo luận nhóm không chính thức (Informal Group Discussion)

Ví dụ Thảo luận với các nhóm tự nhiên như nhóm thành viên gia đình, nhóm đàn ông uống trà trong quán, nhóm phụ nữ đi khám bệnh ... Phương pháp này dùng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc hoặc phỏng vấn tự do. Phương pháp này dễ dàng thực hiện nhưng ít có tính hệ thống do đó khó sử dụng để so sánh giữa các nhóm. Phương pháp này có giá trị đối với các can thiệp đã được lập kế hoạch từ trước.

PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT (Observation)

Phương pháp phỏng vấn cung cấp các thông tin về quan niệm, thái độ, giá trị và hành vi tự thuật của đối tượng. Các phương pháp quan sát cung cấp thông tin về hành vi thực cho phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu.

Người ta có thể quan sát trực tiếp các hành vi thực tế hoặc có thể quan sát các dấu hiệu của hành vi. Đôi khi chỉ có thể quan sát gián tiếp dấu hiệ phản ảnh hành vi. Ví dụ muốn nghiên cứu hành vi sử dụng bao cao su trong số gái mãi dâm, NCV không thể trực tiếp quan sát hành vi thực tế sử dụng bao cao su như thế nào. Cũng không thể chỉ dựa vào câu trả lời của các cô gái mãi dâm về số bao cao su mà họ đã sử dụng. Do đó NCV có thể đếm số bao cao su được vứt trong các thùng rác sau mỗi buổi sáng hay sau một khoảng thời gian nhất định nào đó.

Các hình thức quan sát

Quan sát tham gia/ hoặc không tham gia.

Quan sát công khai/ hay bí mật.

Giải thích rõ mục tiêu của quan sát/ hoặc không nói rõ về mục đích thực của quan sát cho đối tượng bị quan sát biết.

Quan sát một lần/Quan sát lặp lại .

Quan sát một hành vi/Quan sát tổng thể .

Quan sát thu thập số liệu định tính, mở và mô tả/Quan sát thu thập số liệu định lượng dựa trên danh mục các điểm cần quan sát.


PHƯƠNG PHÁP ĐI DẠO (Transect Walk)


Là công cụ mô tả và chỉ ra vị trí và phân bố của các nguồn tài nguyên như đất, ruộng đồng, đồi núi, hồ, thảm thật vật, sông suối, nông trường, chuồng trại gia súc và các hình thái kinh tế-xã hội, văn hóa, tập quán cũng như các hoạt động thường nhật khác của cộng đồng… để xác định, giải thích có hay không sự ảnh hưởng, mối liên quan giữa các yếu tố trên với vấn đề sức khỏe hay những vấn đề khác mà cộng đồng đang đối mặt. Trong phương pháp này, người nghiên cứu cùng với một vài thành viên của cộng đồng (thường là người am hiểu, sống lâu năm tại cộng đồng này) cùng đi bộ dạo quanh khu vực nghiên cứu để ghi chép, thảo luận, mô tả về sự phân bố các yếu tố địa lí, sinh cảnh, hiện tượng tự nhiên, xã hội….Những dữ liệu này rất quan trọng cùng với nguồn số liệu khác góp phần trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.

Thay cho lời kết.

Nghiên cứu định tính là những nghiên cứu thu được các kết quả không sử dụng những công cụ đo lường, tính toán. Nói một cách cụ thể hơn NCĐT là những nghiên cứu tìm biết những đặc điểm, tính chất của đối tượng nghiên cứu cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi của đối tượng nghiên cứu trong những hoàn cảnh cụ thể. Trong khi nghiên cứu định lượng đi tìm trả lời cho câu hỏi bao nhiêu, mức nào, độ lớn của vấn đề (how many, how much) thì NCĐT đi tìm trả lời cho câu hỏi nguyên nhân tại sao (Why), ai (Who), cái gì (What), như thế nào (How), ở đâu (Where)…giúp ta đi sâu tìm hiểu một thực trạng hay một vấn đề sức khỏe nào đó.

Danh mục sách tham khảo về nghiên cứu định tính

1. Strauss A & Corbin J (1998/2007), Basics of Qualitative Research – Techniques and Procedures for Developing Grounded Theory, 2nd ed, Thousand Oaks CA: Sage http://books.google.co.uk/books?id=w...unipPg#PPP1,M1
2. Denzin NK & Lincoln YS, ed (2005), The Sage Handbook of Qualitative Research, 3rd ed, Thousand Oaks CA: Sage.
http://books.google.co.uk/books?id=X...5GXH2A#PPT1,M1
3. May T, ed (2002), Qualitative Research in Action, London: Sage
http://books.google.co.uk/books?id=e...rRB--A#PPP1,M1
4. Marshall CM & Rossman GB (1999), Designing Qualitative Research, 3rded, Thousand Oaks CA: Sage.http://books.google.co.uk/books?id=W...It2Io#PPR10,M1
5. Czarniawska B (2004), Narratives in Social Science Research, London: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=N...Scfx3xrjuDxcac
6. De Laine M (2000), Fieldwork, Participation and Practice – Ethics and Dilemmas in Qualitative Research, London: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=2...AY7TkU#PPA5,M1
7. Dey I (1993), Qualitative Data Analysis – A user-friendly guide for social scientists, London: Routlege. http://books.google.co.uk/books?id=9...QKBFXU#PPR6,M1
8.Heaton J (2004), Reworking Qualitative Data, London: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=0...-OPgA4MMSH3fpQ
9. Woods P (1999), Successful Writing for Qualitative Researchers, London: Routledge. http://books.google.co.uk/books?id=A...e25Vhb6mtBbWEc
10. Silverman D (2006), Interpreting Qualitative Data: Methods for Analyzing Talk, Text and Interaction, 3rd ed, Newbury Park CA: Sage http://books.google.co.uk/books?id=2...d72-nU8NZ-y44c
11. Glaser B & Strauss A (1967), The Discovery of Grounded Theory: Strategies for Qualitative Research, Chicago: Aldine. http://books.google.co.uk/books?id=t...Q_6mqY#PPA2,M1
12. Yin RK (1994), Case Study Research – Design and Methods, Thousand Oaks CA: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=B...JMkGuo#PPP7,M1
13. Shekedi A (2005), Multiple Case Narrative – A Qualitative Approach to Studying Multiple Populations, Amsterdam: John Benjamins. http://books.google.co.uk/books?id=N...Erxv3n2p-4wcno
14. Ragin CC & Becker HS, ed (1992), What Is a Case? Exploring the foundations of social inquiry, New York: Cambridge Uni Press. http://books.google.co.uk/books?id=v...1Moqjs#PPR7,M1
15. Stewart DW & Shamdasani PN (1990), Focus Groups – Theory and Practice, Newbury Park CA: Sage http://books.google.co.uk/books?id=R...fQT9VJBm0XpdCQ
16. Morgan DL (1998), The Focus Group Guidebook – FG Kit 1, Thousand Oaks CA: Sage.
http://books.google.co.uk/books?id=5...isuhSI#PPR1,M1
17. Ramaxanoglu C & Holland J (2002), Feminist Methodology – Challenges and Choices, London: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=P...kcezV8bMqekUHI
18. Davies CA (1999), Reflexive Ethnography – A guide to researching selves and others, London: Routlege. http://books.google.co.uk/books?id=c...dIbuISxvyM8XkE
19. Agar MH (1986), Speaking Ethnography, Newbury Park CA: Sage http://books.google.co.uk/books?id=s...W7GFo84wWP5usA
20. LeBihan J & Green K (1996), Critical Theory and Practice: A coursebook, London: Routlege. http://books.google.co.uk/books?id=1...yVBHrq7rzZK8Sk
21. Shaw I & Gould N (2001), Qualitative Research in Social Work, London: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=v...A5gNWMN8gw_C7E
22. Daymon C & Holloway I (2002), Qualitative Research Methods in Public Relations and Marketing Communications, London: Routledge. http://books.google.co.uk/books?id=B...zwMKkg9cCwdZP4
23. McNiff J (2000), Action Research in Organisations, London: Routlege. http://books.google.co.uk/books?id=B...SoEbnvSZE7o88U
24. Lee TW (1999), Using Qualitative Methods in Organizational Research, Thousand Oaks CA: Sage. http://books.google.co.uk/books?id=i...Av-XP0DHh5Pvj4

(Hình ảnh trong bài là: Thảo luận nhóm tập trung và Phỏng vấn sâu với người dân tộc Mon tại biên giới Thái Lan-Myanmar, tỉnh Kanchanaburi -Thái Lan.)

Sunday, March 13, 2011

Free download, dành cho sinh viên ngành giáo dục (hoặc sư phạm): "Nghiên cứu tác động trong giáo dục"

Tôi đã đưa link về tài liệu này trong một entry trước đây với tựa entry là "Hai tài liệu đáng đọc về nghiên cứu khoa học giáo dục. Chỉ có điều là entry ấy ít người quan tâm, có lẽ vì lời giới thiệu của tôi quá tổng quát.

Tại sao tôi lại biết entry ấy có ít người đọc? Ấy là vì hôm nay tôi vào chức năng thống kê trang blog của mình và nhận thấy rằng entry ấy có không nằm trong danh sách những entry "hot" nhất.

Đọc hay không thì tất nhiên là quyền của độc giả. Nhưng hôm qua sau khi ngồi các hội đồng bảo vệ đề cương và chấm luận văn thì tôi thấy rằng các bạn có vẻ còn rất lơ mơ, nhầm lẫn về "nghiên cứu tác động" trong giáo dục. Vì vậy, tôi mới nhớ ra entry này, và đã vào kiểm tra thấy có ít người đọc như đã giới thiệu ở trên.

Và nhớ đến entry đã viết, nên cảm thấy phải viết lại một entry giới thiệu với cái tựa rõ ràng hơn. Các bạn nào đã vào đến đây hẳn có quan tâm, vậy xin đọc bên dưới nhé!

Entry này đặc biệt dành cho các bạn học viên cao học Đo lường - Đánh giá tại TTKT&ĐGCLĐT đang làm LV, hoặc đang chuẩn bị làm.

----
Trước hết, các bạn hãy vào đây để download tài liệu xuống. Đó là trang web của dự án Việt-Bỉ nhằm nâng cao chất lượng giáo viên tại VN.

Nhưng lấy xuống không đồng nghĩa với việc sẽ đọc, đúng không? Vào cái thời buổi mà ai cũng bận túi bụi như thế này. Đặc biệt là các bạn tuy đi học nhưng vẫn làm việc toàn thời gian ở cơ quan, có khi lại còn làm 2, 3 jobs để tăng thêm thu nhập, rồi còn có gia đình, đưa con đón con, chợ búa cơm nước, về đến nhà thì mệt nhoài, đến lớp thì đôi khi ... như cái xác không hồn. (Tôi nói phóng đại đấy, không phải ai cũng thế, và không phải lúc nào cũng thế, nhưng ... rõ ràng là tình trạng ấy không phải là không có, nhỉ?)

Nên phải viết thêm mấy giòng tóm tắt và bình loạn ở đây để giúp các bạn nhớ được đôi điều về nghiên cứu tác động, để đừng rơi vào tình trạng nhầm lẫn căn bản như có một vài bạn đã bộc lộ ra trong mấy ngày qua.

Trước hết, hãy nói về tác độngnghiên cứu tác động. Phần dưới đây được trích trong chương 1 của tài liệu:

[Tác động là] thực hiện những giải pháp thay thế nhằm cải thiện hiện trạng. [...] Chu trình nghiên cứu tác động bao gồm: Suy nghĩ, Thử nghiệm và Kiểm chứng.

. Suy nghĩ: Quan sát thấy có vấn đề và nghĩ tới giải pháp thay thế.
. Thử nghiệm: Thử nghiệm giải pháp thay thế trong lớp học/ trường học.
. Kiểm chứng: Tìm xem giải pháp thay thế có hiệu quả hay không. (trang 3)

Các bạn chú ý nhé: muốn tìm hiểu tác động thì không chỉ đơn giản là chỉ ra được rằng hiện trạng có vấn đề, sau đó lập luận để nói rằng một giải pháp khác (giải pháp thay thế) là tốt hơn, và tưởng rằng như thế là đã đủ! Mà để nói như thế, thì cần phải có THỰC NGHIỆM, tức là experiment ấy, và sau thực nghiệm thì phải KIỂM CHỨNG!!!

Tất nhiên ai cũng biết là trong lãnh vực xã hội và giáo dục thì việc thực nghiệm không phải lúc nào cũng làm được (thường là không làm được!), nhưng lúc ấy bạn sẽ phải dùng những phương pháp khác, và chỉ được gọi là "ảnh hưởng" hay "mối liên hệ" chứ không gọi là "tác động" (dù rằng bạn thực sự muốn tìm hiểu tác động). Ngoài ra, dù ảnh hưởng hay tác động thì cả hai đều đòi hỏi phải có đủ dữ liệu kèm theo lập luận.

Không thể làm theo kiểu như sau: quan sát một hiện tượng/sự vật trước và sau một biến cố mà không hề có khống chế gì hết, rồi sau đó đo lường trước sau và thấy có khác biệt thì kết luận luôn là biến cố ấy có tác động lên hiện tượng/sự vật. Làm như vậy là sai lầm rất cơ bản, các bạn ạ!!!! Thế nhưng hiện vẫn có nhiều bạn phạm vào lỗi này đấy.

Xin mời đọc tiếp về Khung nghiên cứu tác động:

Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả nghiên cứu tác động trên thực tế, chúng tôi đã chuyển các khái niệm trong nghiên cứu tác động thành một khung thực hiện đơn giản. Khung này gồm 6 bước: (1) Hiện trạng (2) Giải pháp thay thế; (3) Thiết kế; (4) Đ lường; (5) Phân tích; (6) Tổng hợp/báo cáo kết quả.

Chương 2 của tài liệu này là một chương hết sức quan trọng: "Vấn đề, giả thuyết và thiết kế". Chương 3 cũng rất cần thiết, đặc biệt đối với các bạn mới thực hiện nghiên cứu định lượng lần đầu: "Thu thập dữ liệu đáng tin cậy", trong đó có nhắc lại các khái niệm về thang đo và kỹ thuật kiểm định thang đo.

Chương 4 nói về phân tích dữ liệu, lại là một chương quan trọng khác, nhưng theo mức độ giảm dần (chương 2 quan trọng hơn chương 3, chương 3 quan trọng hơn chương 4, vì những sai sót phía sau thì dễ sửa hơn, còn sai từ phần thiết kế thì chỉ có cách bỏ đề tài đi mà làm đề tài khác!) Còn chương 5, chương cuối cùng, là nhằm hướng dẫn các bạn viết báo cáo sao cho đầy đủ thông tin và dễ đọc.

Các bạn có nhận ra rằng 5 chương này cũng tương tự như các chương cần có trong một luận văn hay không nhỉ?

Các bạn đọc đi nhé, một tài liệu rất hay đấy: đơn giản, thân thiện, và hay nhất là mọi thí dụ đều lấy trong lãnh vực giáo dục, nên sẽ rất gần gũi với các bạn.

Vậy nhé, chúc các bạn thành công!

Tuesday, January 12, 2010

Tài liệu NCKH: Trường phái nghiên cứu định tính trong khoa học giáo dục

Chú ý:
Một sinh viên trong lớp cao học đã gửi tôi link dẫn đến
tài liệu này
(về NC định tính). Xin đưa lên đây để mọi người chú ý và lấy về tham khảo. Link: http://www2.hcmuaf.edu.vn/data/quoctuan/Phuong%20phap%20nghien%20cuu%20dinh%20tinh.pdf

--
Trong nghiên cứu giáo dục và các nghiên cứu xã hội khác, phương pháp định tính rất hay được sử dụng. Và để sử dụng phương pháp định tính theo đúng nghĩa khoa học thì không phải là chuyện đơn giản.

Tuy nhiên, như tác giả Marie C. Hoepfl đã nêu trong phần mở đầu của bài viết dưới đây, rất nhiều người đang làm việc trong lãnh vực giáo dục cần sử dụng phương pháp định tính mà không được hướng dẫn cẩn thận. Và hiểu biết của họ về phương pháp định lượng cũng rất hời hợt. Vì vậy, bài viết dưới đây là nhằm đáp ứng nhu cầu giải thích về phương pháp định tính và so sánh một chút với phương pháp định lượng để giúp mọi người có hiểu biết tốt hơn.

Tôi chép toàn văn bài viết dưới đây vào đây để lưu và dịch khi có thời gian. http://scholar.lib.vt.edu/ejournals/JTE/v9n1/hoepfl.html. Các bạn muốn đọc ở website gốc thì click vào đây.

Bài viết này sẽ được dịch dần, bắt đầu trong vài ngày tới.

--
Choosing Qualitative Research: A Primer for Technology Education Researchers
Marie C. Hoepfl
A number of writers have commented on the dearth of substantive research within the field of technology education, and point to the expansion of its research agenda as a means of strengthening the discipline. Waetjen, in his call for good research in technology education, states that "the plea is to use experimental type research as much as possible" (1992, p. 30). Interestingly, the three areas of research need outlined in his essay would all lend themselves to alternative methodologies, including qualitative methodologies.

More recently, others have called for an expansion in the types of research methods used. Of the 220 reports included in Zuga's review of technology education-related research (1994), only 16 are identified as having used qualitative methods, and Zuga notes that many of those studies were conducted outside the United States. Johnson (1995) suggests that technology educators "engage in research that probes for deeper understanding rather than examining surface features." He notes that qualitative methodologies are powerful tools for enhancing our understanding of teaching and learning, and that they have "gained increasing acceptance in recent years" (p. 4).

There are compelling reasons for the selection of qualitative methodologies within the educational research arena, yet many people remain unfamiliar with these methods. Researchers trained in the use of quantitative designs face real challenges when called upon to use or teach qualitative research (Stallings, 1995). There is, however, a growing body of literature devoted to qualitative research in education, some of which is synthesized here. The goals of this article are to elaborate on the reasons for choosing qualitative methodologies, and to provide a basic introduction to the features of this type of research.

Qualitative Versus Quantitative Research Paradigms

Researchers have long debated the relative value of qualitative and quantitative inquiry (Patton, 1990). Phenomenological inquiry, or qualitative research, uses a naturalistic approach that seeks to understand phenomena in context-specific settings. Logical positivism, or quantitative research, uses experimental methods and quantitative measures to test hypothetical generalizations. Each represents a fundamentally different inquiry paradigm, and researcher actions are based on the underlying assumptions of each paradigm.

Qualitative research, broadly defined, means "any kind of research that produces findings not arrived at by means of statistical procedures or other means of quantification" (Strauss and Corbin, 1990, p. 17). Where quantitative researchers seek causal determination, prediction, and generalization of findings, qualitative researchers seek instead illumination, understanding, and extrapolation to similar situations. Qualitative analysis results in a different type of knowledge than does quantitative inquiry.

Eisner points out that all knowledge, including that gained through quantitative research, is referenced in qualities, and that there are many ways to represent our understanding of the world:

There is a kind of continuum that moves from the fictional that is "true"-the novel for example-to th e highly controlled and quantitatively described scientific experiment. Work at either end of this continuum has the capacity to inform significantly. Qualitative research and evaluation are located toward the fictive end of the continuum without being fictional in the narrow sense of the term Eisner, 1991, pp. 30-31).

This sentiment echoes that of an earlier writer. Cronbach (1975) states that "the special task of the social scientist in each generation is to pin down the contemporary facts. Beyond that, he shares with the humanistic scholar and the artist in the effort to gain insight into contemporary relationships" (p. 126).

Cronbach claims that statistical research is not able to take full account of the many interaction effects that take place in social settings. He gives examples of several empirical "laws" that do not hold true in actual settings to illustrate this point. Cronbach states that "the time has come to exorcise the null hypothesis," because it ignores effects that may be important, but that are not statistically significant (1975, p. 124). Qualitative inquiry accepts the complex and dynamic quality of the social world.

However, it is not necessary to pit these two paradigms against one another in a competing stance. Patton (1990) advocates a "paradigm of choices" that seeks "methodological appropriateness as the primary criterion for judging methodological quality." This will allow for a "situational responsiveness" that strict adherence to one paradigm or another will not (p. 39). Furthermore, some researchers believe that qualitative and quantitative research can be effectively combined in the same research project (Strauss and Corbin, 1990; Patton, 1990). For example, Russek and Weinberg (1993) claim that by using both quantitative and qualitative data, their study of technology-based materials for the elementary classroom gave insights that neither type of analysis could provide alone.

Basis for the Use of a Qualitative Methodology

There are several considerations when deciding to adopt a qualitative research methodology. Strauss and Corbin (1990) claim that qualitative methods can be used to better understand any phenomenon about which little is yet known. They can also be used to gain new perspectives on things about which much is already known, or to gain more in-depth information that may be difficult to convey quantitatively. Thus, qualitative methods are appropriate in situations where one needs to first identify the variables that might later be tested quantitatively, or where the researcher has determined that quantitative measures cannot adequately describe or interpret a situation. Research problems tend to be framed as open-ended questions that will support discovery of new information. Greene's 1994 study of women in the trades, for example, asked " What personal characteristics do tradeswomen have in common? In what way, if any, did role models contribute to women's choices to work in the trades?"

(p. 524a).

The ability of qualitative data to more fully describe a phenomenon is an important consideration not only from the researcher's perspective, but from the reader's perspective as well. "If you want people to understand better than they otherwise might, provide them information in the form in which they usually experience it" (Lincoln and Guba, 1985, p. 120). Qualitative research reports, typically rich with detail and insights into participants' experiences of the world, "may be epistemologically in harmony with the reader's experience" (Stake, 1978, p. 5) and thus more meaningful.

Features of Qualitative Research

Several writers have identified what they consider to be the prominent characteristics of qualitative, or naturalistic, research (see, for example: Bogdan and Biklen, 1982; Lincoln and Guba, 1985; Patton, 1990; Eisner, 1991). The list that follows represents a synthesis of these authors' descriptions of qualitative research:

1. Qualitative research uses the natural setting as the source of data. The researcher attempts to observe, describe and interpret settings as they are, maintaining what Patton calls an "empathic neutrality" (1990, p. 55).

2. The researcher acts as the "human instrument" of data collection.

3. Qualitative researchers predominantly use inductive data analysis.

4. Qualitative research reports are descriptive, incorporating expressive language and the "presence of voice in the text" (Eisner, 1991, p. 36).

5. Qualitative research has an interpretive character, aimed at discovering the meaning events have for the individuals who experience them, and the interpretations of those meanings by the researcher.

6. Qualitative researchers pay attention to the idiosyncratic as well as the pervasive, seeking the uniqueness of each case.

7. Qualitative research has an emergent (as opposed to predetermined) design, and researchers focus on this emerging process as well as the outcomes or product of the research.

8. Qualitative research is judged using special criteria for trustworthiness (these will be discussed in some detail in a later section).

Patton (1990) points out that these are not "absolute characteristics of qualitative inquiry, but rather strategic ideals that provide a direction and a framework for developing specific designs and concrete data collection tactics" (p. 59). These characteristics are considered to be "interconnected" (Patton, 1990, p. 40) and "mutually reinforcing" (Lincoln and Guba, 1985, p. 39).

It is important to emphasize the emergent nature of qualitative research design. Because the researcher seeks to observe and interpret meanings in context, it is neither possible nor appropriate to finalize research strategies before data collection has begun (Patton, 1990). Qualitative research proposals should, however, specify primary questions to be explored and plans for data collection strategies.

The particular design of a qualitative study depends on the purpose of the inquiry, what information will be most useful, and what information will have the most credibility. There are no strict criteria for sample size (Patton, 1990). "Qualitative studies typically employ multiple forms of evidence....[and] there is no statistical test of significance to determine if results 'count'" (Eisner, 1991, p. 39). Judgments about usefulness and credibility are left to the researcher and the reader.

The Role of the Researcher in Qualitative Inquiry

Before conducting a qualtitative study, a researcher must do three things. First, (s)he must adopt the stance suggested by the characteristics of the naturalist paradigm. Second, the researcher must develop the level of skill appropriate for a human instrument, or the vehicle through which data will be collected and interpreted. Finally, the researcher must prepare a research design that utilizes accepted strategies for naturalistic inquiry (Lincoln and Guba, 1985).

Glaser and Strauss (1967) and Strauss and Corbin (1990) refer to what they call the "theoretical sensitivity" of the researcher. This is a useful concept with which to evaluate a researcher's skill and readiness to attempt a qualitative inquiry.

Theoretical sensitivity refers to a personal quality of the researcher. It indicates an awareness of the subtleties of meaning of data. ...[It] refers to the attribute of having insight, the ability to give meaning to data, the capacity to understand, and capability to separate the pertinent from that which isn't (Strauss and Corbin, 1990, p. 42).

Strauss and Corbin believe that theoretical sensitivity comes from a number of sources, including professional literature, professional experiences, and personal experiences. The credibility of a qualitative research report relies heavily on the confidence readers have in the researcher's ability to be sensitive to the data and to make appropriate decisions in the field (Eisner, 1991; Patton, 1990).

Lincoln and Guba (1985) identify the characteristics that make humans the "instrument of choice" for naturalistic inquiry. Humans are responsive to environmental cues, and able to interact with the situation; they have the ability to collect information at multiple levels simultaneously; they are able to perceive situations holistically; they are able to process data as soon as they become available; they can provide immediate feedback and request verification of data; and they can explore atypical or unexpected responses.

Research Design and Data Collection Strategies

Eisner (1991) claims there is a "paucity of methodological prescriptions" for qualitative research, because such inquiry places a premium on the strengths of the researcher rather than on standardization (p. 169). Lincoln and Guba (1985) provide a fairly detailed outline for the design of naturalistic inquiry, which includes these general steps:

1. Determine a focus for the inquiry. This should establish a boundary for the study, and provide inclusion/exclusion criteria for new information. Boundaries, however, can be altered, and typically are.

2. Determine the fit of the research paradigm to the research focus. The researcher must compare the characteristics of the qualitative paradigm with the goals of the research.

3. Determine where and from whom data will be collected.

4. Determine what the successive phases of the inquiry will be. Phase one, for example, might feature open-ended data collection, while successive phases will be more focused.

5. Determine what additional instrumentation may be used, beyond the researcher as the human instrument.

6. Plan data collection and recording modes. This must include how detailed and specific research questions will be, and how faithfully data will be reproduced.

7. Plan which data analysis procedures will be used.

8. Plan the logistics of data collection, including scheduling and budgeting.

9. Plan the techniques that will be used to determine trustworthiness.

Steps one and two have been addressed in previous sections; the remaining steps will be addressed below.

Sampling Strategies for Qualitative Researchers

In quantitative inquiry, the dominant sampling strategy is probability sampling, which depends on the selection of a random and representative sample from the larger population. The purpose of probability sampling is subsequent generalization of the research findings to the population. By contrast, purposeful sampling is the dominant strategy in qualitative research. Purposeful sampling seeks information-rich cases which can be studied in depth (Patton, 1990).

Patton identifies and describes 16 types of purposeful sampling. These include: extreme or deviant case sampling; typical case sampling; maximum variation sampling; snowball or chain sampling; confirming or disconfirming case sampling; politically important case sampling; convenience sampling; and others (1990, pp. 169-183). According to Lincoln and Guba (1985), the most useful strategy for the naturalistic approach is maximum variation sampling. This strategy

aims at capturing and describing the central themes or principal outcomes that cut across a great deal of participant or program variation. For small samples a great deal of heterogeneity can be a problem because individual cases are so different from each other. The maximum variation sampling strategy turns that apparent weakness into a strength by applying the following logic: Any common patterns that emerge from great variation are of particular interest and value in capturing the core experiences and central, shared aspects or impacts of a program (Patton, 1990, p. 172).

Maximum variation sampling can yield detailed descriptions of each case, in addition to identifying shared patterns that cut across cases. See Hoepfl (1994) for an illustration of this strategy applied to technology education research. Several examples of studies employing case sampling can also be found in the technology education literature (see Brown, 1995; Hansen, 1995; and Lewis, 1995 and 1997)

In spite of the apparent flexibility in purposeful sampling, researchers must be aware of three types of sampling error that can arise in qualitative research. The first relates to distortions caused by insufficient breadth in sampling; the second from distortions introduced by changes over time; and the third from distortions caused by lack of depth in data collection at each site (Patton, 1990).


Data Collection Techniques

The two prevailing forms of data collection associated with qualitative inquiry are interviews and observation.


Interviews

Qualitative interviews may be used either as the primary strategy for data collection, or in conjunction with observation, document analysis, or other techniques (Bogdan and Biklen, 1982). Qualitative interviewing utilizes open-ended questions that allow for individual variations. Patton (1990) writes about three types of qualitative interviewing: 1) informal, conversational interviews; 2) semi-structured interviews; and 3) standardized, open-ended interviews.

An interview guide or "schedule" is a list of questions or general topics that the interviewer wants to explore during each interview. Although it is prepared to insure that basically the same information is obtained from each person, there are no predetermined responses, and in semi-structured interviews the interviewer is free to probe and explore within these predetermined inquiry areas. Interview guides ensure good use of limited interview time; they make interviewing multiple subjects more systematic and comprehensive; and they help to keep interactions focused. In keeping with the flexible nature of qualitative research designs, interview guides can be modified over time to focus attention on areas of particular importance, or to exclude questions the researcher has found to be unproductive for the goals of the research (Lofland and Lofland, 1984).

Recording Data. A basic decision going into the interview process is how to record interview data. Whether one relies on written notes or a tape recorder appears to be largely a matter of personal preference. For instance, Patton says that a tape recorder is "indispensable" (1990, p. 348), while Lincoln and Guba "do not recommend recording except for unusual reasons" (1985, p. 241). Lincoln and Guba base their recommendation on the intrusiveness of recording devices and the possibility of technical failure. Recordings have the advantage of capturing data more faithfully than hurriedly written notes might, and can make it easier for the researcher to focus on the interview.

Observations

The classic form of data collection in naturalistic or field research is observation of participants in the context of a natural scene. Observational data are used for the purpose of description-of settings, activities, people, and the meanings of what is observed from the perspective of the participants. Observation can lead to deeper understandings than interviews alone, because it provides a knowledge of the context in which events occur, and may enable the researcher to see things that participants themselves are not aware of, or that they are unwilling to discuss (Patton, 1990). A skilled observer is one who is trained in the process of monitoring both verbal and nonverbal cues, and in the use of concrete, unambiguous, descriptive language. Sours' (1997) study of teaching and learning styles provides a good example of descriptive language applied to the technology classroom.

There are several observation strategies available. In some cases it may be possible and desirable for the researcher to watch from outside, without being observed. Another option is to maintain a passive presence, being as unobtrusive as possible and not interacting with participants. A third strategy is to engage in limited interaction, intervening only when further clarification of actions is needed. Or the researcher may exercise more active control over the observation, as in the case of a formal interview, to elicit specific types of information. Finally, the researcher may act as a full participant in the situation, with either a hidden or known identity. Each of these strategies has specific advantages, disadvantages and concerns which must be carefully examined by the researcher (Schatzman and Strauss, 1973).

The presence of an observer is likely to introduce a distortion of the natural scene which the researcher must be aware of, and work to minimize. Critical decisions, including the degree to which researcher identity and purposes will be revealed to participants, the length of time spent in the field, and specific observation techniques used, are wholly dependent on the unique set of questions and resources brought to each study. In any case, the researcher must consider the legal and ethical responsibilities associated with naturalistic observation.

Recording Data. Field researchers rely most heavily on the use of field notes, which are running descriptions of settings, people, activities, and sounds. Field notes may include drawings or maps. Acknowledging the difficulty of writing extensive field notes during an observation, Lofland and Lofland (1984) recommend jotting down notes that will serve as a memory aid when full field notes are constructed. This should happen as soon after observation as possible, preferably the same day. In addition to field notes, researchers may use photographs, videotapes, and audio tapes as means of accurately capturing a setting.

Gaining Access and Researcher Obligations

Based on their experience with naturalistic research, Lofland and Lofland (1984) believe that researchers are more likely to gain successful access to situations if they make use of contacts that can help remove barriers to entrance; if they avoid wasting respondents' time by doing advance research for information that is already part of the public record; and if they treat respondents with courtesy. Because naturalistic researchers are asking participants to "grant access to their lives, their minds, [and] their emotions," it is also important to provide respondents with a straightforward description of the goals of the research (p. 25).


Other Sources of Data

Another source of information that can be invaluable to qualitative researchers is analysis of documents. Such documents might include official records, letters, newspaper accounts, diaries, and reports, as well as the published data used in a review of literature. In his study of technology teachers in training, Hansen (1995) analyzed journal entries and memos written by participants, in addition to interviews. Hoepfl (1994), in her study of closure of technology teacher education programs, used newspaper reports, university policy documents, and department self-evaluation data, where available, to supplement data gained through interviews.

There are some specialized forms of qualitative research which rely solely on analysis of documents. For example, Gagel (1997) used a process known as hermeneutic inquiry to investigate the literature on both literacy and technology. Patton (1990) provides a good overview of the various theoretical orientations that inform the "rich menu of alternative possibilities within qualitative research" (p. 65).

Deciding When to Stop Sampling

Qualitative researchers have few strict guidelines for when to stop the data collection process. Criteria include: 1) exhaustion of resources; 2) emergence of regularities; and 3) overextension, or going too far beyond the boundaries of the research (Guba, 1978). The decision to stop sampling must take into account the research goals, the need to achieve depth through triangulation of data sources, and the possibility of greater breadth through examination of a variety of sampling sites.


Analysis of Data

Bogdan and Biklen define qualitative data analysis as "working with data, organizing it, breaking it into manageable units, synthesizing it, searching for patterns, discovering what is important and what is to be learned, and deciding what you will tell others" (1982, p. 145). Qualitative researchers tend to use inductive analysis of data, meaning that the critical themes emerge out of the data (Patton, 1990). Qualitative analysis requires some creativity, for the challenge is to place the raw data into logical, meaningful categories; to examine them in a holistic fashion; and to find a way to communicate this interpretation to others.

Sitting down to organize a pile of raw data can be a daunting task. It can involve literally hundreds of pages of interview transcripts, field notes and documents. The mechanics of handling large quantities of qualitative data can range from physically sorting and storing slips of paper to using one of the several computer software programs that have been designed to aid in this task (see Brown, 1996, for a description of one of these programs).

Analysis begins with identification of the themes emerging from the raw data, a process sometimes referred to as "open coding" (Strauss and Corbin, 1990). During open coding, the researcher must identify and tentatively name the conceptual categories into which the phenomena observed will be grouped. The goal is to create descriptive, multi-dimensional categories which form a preliminary framework for analysis. Words, phrases or events that appear to be similar can be grouped into the same category. These categories may be gradually modified or replaced during the subsequent stages of analysis that follow.

As the raw data are broken down into manageable chunks, the researcher must also devise an "audit trail"-that is, a scheme for identifying these data chunks according to their speaker and the context. The particular identifiers developed may or may not be used in the research report, but speakers are typically referred to in a manner that provides a sense of context (see, for example, Brown, 1996; Duffee and Aikenhead, 1992; and Sours, 1997). Qualititative research reports are characterized by the use of "voice" in the text; that is, participant quotes that illustrate the themes being described.

The next stage of analysis involves re-examination of the categories identified to determine how they are linked, a complex process sometimes called "axial coding" (Strauss and Corbin, 1990). The discrete categories identified in open coding are compared and combined in new ways as the researcher begins to assemble the "big picture." The purpose of coding is to not only describe but, more importantly, to acquire new understanding of a phenomenon of interest. Therefore, causal events contributing to the phenomenon; descriptive details of the phenomenon itself; and the ramifications of the phenomenon under study must all be identified and explored. During axial coding the researcher is responsible for building a conceptual model and for determining whether sufficient data exists to support that interpretation.

Finally, the researcher must translate the conceptual model into the story line that will be read by others. Ideally, the research report will be a rich, tightly woven account that "closely approximates the reality it represents" (Strauss and Corbin, 1990, p. 57). Many of the concerns surrounding the presentation of qualitative research reports are discussed in the section "Judging Qualitative Research" which follows.

Although the stages of analysis are described here in a linear fashion, in practice they may occur simultaneously and repeatedly. During axial coding the researcher may determine that the initial categories identified must be revised, leading to re-examination of the raw data. Additional data collection may occur at any point if the researcher uncovers gaps in the data. In fact, informal analysis begins with data collection, and can and should guide subsequent data collection. For a more detailed yet very understandable description of the analysis process, see Simpson and Tuson (1995).

The Product of Qualitative Data Analysis

In their classic text Discovery of Grounded Theory, Glaser and Strauss (1967,/a>) describe what they believe to be the primary goal of qualitative research: the generation of theory, rather than theory testing or mere description. According to this view, theory is not a "perfected product" but an "ever-developing entity" or process (p. 32). Glaser and Strauss claim that one of the requisite properties of grounded theory is that it be "sufficiently general to be applicable to a multitude of diverse situations within the substantive area" (p. 237).

The grounded theory approach described by Glaser and Strauss represents a somewhat extreme form of naturalistic inquiry. It is not necessary to insist that the product of qualitative inquiry be a theory that will apply to a "multitude of diverse situations." Examples of a more flexible approach to qualitative inquiry can be gained from a number of sources. For example, both Patton (1990) and Guba (1978) state, in the same words, that "naturalistic inquiry is always a matter of degree" of the extent to which the researcher influences responses and imposes categories on the data. The more "pure" the naturalistic inquiry, the less reduction of data into categories.

Figure 1 illustrates one interpretation of the relationship between description, verification, and generation of theory-or, in this case, the development of what Cronbach (1975) calls "working hypotheses, " which suggests a more tractable form of analysis than the word "theory." According to this interpretation, a researcher may move between points on the description/ verification continuum during analysis, but the final product will fall on one particular point, depending on the degree to which it is naturalistic.

Monday, January 11, 2010

"Phân tích nhân tố" - trích trong sách thống kê của Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc

Gửi các bạn sinh viên cao học ĐL-ĐG trong giáo dục

Do có một số bạn cần sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố để thực hiện đề tài của mình nhưng chưa hiểu nhiều về kỹ thuật này, tôi đã đánh máy lại (một phần) chương 10 của cuốn sách về thống kê đã nêu trên tiêu đề của mục entry này. Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn.
--
Phân tích nhân tố

(Trích trong tài liệu: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, NXB Thống kê 2005, Chương X)

I. Khái niệm và ứng dụng
Phân tích nhân tố (PTNT) là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu. Trong nghiên cứu, chúng ta có thể thu thập được một số lượng biến khá lớn và hầu hết các biến này có liên hệ với nhau. Số lượng của chúng cần được giảm bớt xuống đến một số lượng mà chúng ta có thể sử dụng được. […]

PTNT được sử dụng trong các trường hợp sau:
1. Nhận diện các khía cạnh hay nhân tố giải thích được các liên hệ tương quan trong một tập biến. Ví dụ, ta có thể sử dụng một tập hợp các phát biểu về lối sống để đo lường tiểu sử tâm lý của người tiêu dùng. Sau đó những phát biểu (tức các biến) này được sử dụng trong PTNT để nhận diện các yếu tố tâm lý cơ bản.
2. Nhận diện một tập hợp gồm một số biến lượng mới tương đối ít và không có tương quan với nhau để thay thế tập hợp biến gốc và có tương quan với nhau để thực hiện một phân tích đa biến tiếp theo sau (ví dụ như hồi quy hoặc phân tích biệt số). Chẳng hạn như sau khi nhận diện các nhân tố tâm lý thì ta có thể sử dụng chúng thành những biến độc lập để giải thích sự khác biệt giữa người trung thành và người không trung thành với nhãn hiệu sử dụng.

PTNT có vô số ứng dụng trong các nghiên cứu kinh tế và xã hội. Trong nghiên cứu xã hội, các khái niệm thường khá trừu tượng và phức tạp, phân tích nhân tố thường được dùng trong quá trình xây dựng thang đo lường các khía cạnh khác nhau của khái niệm nghiên cứu, kiểm tra tính đơn khía cạnh của thang đo lường. Trong kinh doanh, PTNT có thể được ứng dụng trong nhiều trường hợp:

1. PTNT có thể được sử dụng trong phân tích thị trường để nhận ra các biến quan trọng dùng để phân nhóm người tiêu dùng. Người mua xe có thể được nhóm theo sự chú trọng tương đối về tính kinh tế, tiện nghi, tính năng và sự sang trọng. [...]
2. Trong phân tích sản phẩm, ta có thể sử dụng PTNT để xác định các thuộc tính nhãn hiệu có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng. Ví dụ các nhãn hiệu kem đánh răng có thể được đánh giá theo khả năng bảo vệ chống sâu răng, trắng răng, mùi vị, hơi thở thơm tho, và giá cả.
(trang 259-260)
[…]

IV. Tiến hành phân tích nhân tố
1. Xác định vấn đề

Xác định vấn đề nghiên cứu gồm có nhiều bước.Đầu tiên phải nhận diện các mục tiêu của PTNT cụ thể là gì. Các biến tham gia vào PTNT phải được xác định dựa vào các nghiên cứu trong quá khứ, phân tích lý thuyết, và đánh giá của các nhà nghiên cứu. Một điều quan trọng là các biến này phải được đo lường một cách thích hợp bằng các thang đo định lượng (khoảng cách hay tỷ lệ), và cỡ mẫu phải đủ lớn. Thông thường thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần số biến trong PTNT. Trong nhiều tình huống nghiên cứu, kích thước mẫu khá nhỏ và tỷ số này đôi khi cũng khá nhỏ. Trong trường hợp này thì việc giải thích các kết quả cần phải thận trọng.

Để minh họa, chúng ta hãy xem ví dụ sau. Một nhà nghiên cứu muốn xác định các lợi ích căn bản người tiêu dùng cần có khi mua một ống kem đánh răng. Mẫu gồm 35 người tiêu dùng được phỏng vấn. Những người được phỏng vấn cho biết mức độ quan trọng của 6 lợi ích sau trên thang đo 7 điểm (1 = không quan trọng, 7 = rất quan trọng). Danh sách 6 lợi ích đó như sau:
V1 (V = value): ngừa sâu răng
V2: làm trắng răng
V3: làm chắc nướu
V4: làm hơi thở thơm tho
V5: làm sạch răng
V6: làm bóng răng

2. Xây dựng ma trận tương quan
Quá trình phân tích dựa trên ma trận tương quan của các biến này. Để có thể áp dụng được PTNT thì các biến phải có liên hệ với nhau. Trong thực tế ta luôn có điều này. Nếu hệ số tương quan giữa các biến nhỏ thì PTNT có thể không thích hợp. […]

Ta có thể sử dụng Bartlett’s test of sphericity để kiểm tra giả thuyết H0 là các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể. […] Đại lượng này càng lớn thì ta càng có nhiều khả năng bác bỏ giả thuyết này. Nếu không thể bác bỏ giả thuyết thì PTNT có thể không thích hợp.

3. Số lượng nhân tố
Chúng ta có thể tính ra một số nhân tố nhiều bằng số biến, nhưng như thế không có tác dụng gì cả! Để tóm tắt thông tin thì số nhân tố phải ít hơn số biến. Nhưng bao nhiêu nhân tố? Có 5 phương pháp xác định số nhân tố: xác định từ trước, dựa vào eigenvalue, biểu đồ dốc (scree plot), phần trăm biến thiên giải thích được (percentage of variance), chia đôi mẫu và kiểm nghiệm mức ý nghĩa.
[…]
4. Xoay các nhân tố




Còn tiếp các phần sau:
5. Đặt tên và giải thích nhân tố
6. Nhân số (Điểm số nhân tố)

Sunday, January 10, 2010

Tài liệu dịch: "Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp"

Mixed Methods Design
Tác giả: Olivia Hunt
Nguồn: http://www.articlealley.com/article_185975_22.html

Đây là bản dịch của tài liệu đã đưa lên blog này hôm qua. PA dịch, có cắt bớt đoạn cuối cùng nói về tác giả vì không liên quan đến nội dung bài viết. Ngoài ra, bản dịch được viết lại một vài chỗ, chủ yếu để cho dễ đọc đối với độc giả VN, nhưng không thay đổi ý của tác giả.

Bản dịch nhằm giúp các học viên lớp cao học đo lường - đánh giá khóa 1 đang làm luận văn cao học có thêm tài liệu bằng tiếng Việt để tham khảo. Sử dụng, trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn (tác giả và dịch giả).

--

Có 3 trường phái chính trong nghiên cứu giáo dục, đó là: nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính và nghiên cứu hỗn hợp. Bài này viết về thiết kế nghiên cứu hỗn hợp, trong đó vấn đề được quan tâm đặc biệt là hai cách tiếp cận định lượng và định tính trong thiết kế với tư cách những thành phần thiết yếu của trường phái nghiên cứu hỗn hợp.

Nghiên cứu hỗn hợp là loại hình nghiên cứu sử dụng các dữ liệu, kỹ thuật, và phương pháp thuộc cả hai trường phái định tính và định lượng. Tất cả những đặc điểm thuộc 2 trường phái đối lập với nhau được pha trộn trong một nghiên cứu điển hình (nghiên cứu trường hợp). Thiết kế này phù hợp với các nghiên cứu sử dụng dữ liệu hỗn hợp (dữ liệu sốdữ liệu văn bản) cũng như các phương pháp xử lý có liên quan (xử lý thống kêphân tích văn bản). Cách tiếp cận hỗn hợp sử dụng cả hai phương pháp suy luận là diễn dịch và quy nạp, sử dụng nhiều hình thức thu thập dữ liệu và đưa ra các báo cáo kết quả mang tính chiết trung và thực dụng.

Các nghiên cứu theo trường phái hỗn hợp được chia ra làm 2 loại chính: hỗn hợp phương pháp (mixed method) và hỗn hợp mô hình (mixed model). Nghiên cứu hỗn hợp phương pháp là một nghiên cứu trong đó bạn sử dụng dữ liệu định lượng cho một giai đoạn nghiên cứu này, và sử dụng dữ liệu định tính cho một giai đoạn khác của cùng nghiên cứu đó. Nghiên cứu hỗn hợp mô hình là nghiên cứu trong đó bạn sử dụng cả hai loại dữ liệu định tính và định lượng trong một hoặc cả hai giai đoạn của quá trình nghiên cứu. Sự pha trộn của các cách tiếp cận định tính và định lượng xảy ra trong mỗi giai đoạn nghiên cứu.

Khi nghiên cứu điều quan trọng là sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tiến hành nghiên cứu chi tiết. Những lợi thế của nghiên cứu hỗn hợp là:
1) Tăng sức mạnh của nghiên cứu;
2) Sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu sẽ giúp nghiên cứu một quá trình hoặc một vấn đề từ nhiều phía;
3) Sử dụng các cách tiếp cận khác nhau sẽ giúp tập trung vào một quá trình duy nhất và khẳng định tính chính xác của dữ liệu. Nghiên cứu hỗn hợp bổ sung kết quả từ các loại hình nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu theo phương pháp sẽ này không làm ta bỏ lỡ bất kỳ dữ liệu nào có sẵn.

Phần định lượng trong một nghiên cứu hỗn hợp đòi hỏi sử dụng cách suy luận diễn dịch, trong khi phần định tính đòi hỏi sử dụng cách suy luận quy nạp. Ngoài ra, cách tiếp cận định lượng thực hiện thu thập dữ liệu định lượng dựa trên các số đo chính xác, thu thập thông tin có cấu trúc và được thẩm tra chặt chẽ. Ví dụ, các thang đo (rating scale), hoặc câu hỏi và hồi đáp cho sẵn (closed-ended items and responses). Phương pháp này cho ta các báo cáo thống kê và các mối liên hệ tương quan.

Phần định tính trong nghiên cứu hỗn hợp sử dụng các thông tin định tính. Ví dụ, phỏng vấn, ghi chép tại hiện trường (field notes), câu hỏi mở vv. Trong cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu được xem là công cụ thu thập thông tin chủ yếu. Khi kết thúc một nghiên cứu theo cách này ta sẽ nhận được một báo cáo tường thuật với bản mô tả bối cảnh cùng những trích dẫn bằng ngôn từ rút ra từ tài liệu nghiên cứu.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh là có rất nhiều cách thực hiện nghiên cứu. Các phương pháp định lượng và định tính đều có những thuận lợi và bất lợi của chúng họ trong một nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, bạn có thể kết hợp những lợi thế của cả hai phương pháp và đưa ra thông tin chính xác về quá trình triển khai, các phát hiện và kết luận trong nghiên cứu của bạn. Hai phương pháp định tính và định lượng có những điểm mạnh, điểm yếu và yêu cầu khác nhau, những điều này đều có ảnh hưởng đến độ chính xác của dự án nghiên cứu. Mục đích của một thiết kế hỗn hợp là kết hợp được những khía cạnh tích cực của cả hai cách tiếp cận và tạo ra những số liệu có độ chính xác cao.

Kết luận
Khi bạn sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu, thì bạn có thể sử dụng sức mạnh của từng loại thông tin và giảm thiểu các điểm yếu của từng cách tiếp cận. Cách tiếp cận hỗn hợp trong việc thu thập và đánh giá thông tin có thể tăng tính hợp lệ và độ chính xác của thông tin. Bài viết này đã phân tích ngắn gọn một thiết kế nghiên cứu theo phương pháp hỗn hợp, và bao gồm các thành phần chính: cách tiếp cận định lượng và định tính trong việc thiết kế nghiên cứu. Bài viết nhằm chứng minh hiệu quả của thiết kế nghiên cứu hỗn hợp.

Saturday, January 9, 2010

Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp hỗn hợp (Mixed Methods) - free content from the web for my Masters' students

Gửi các bạn học viên cao học đo lường - đánh giá trong giáo dục
--
Quan trọng cần chú ý:
Các bạn có thể đọc tài liệu này, về Phương pháp nghiên cứu khoa học, do BS Hồ Hải gửi cho tôi để chia sẻ đến những ai cần dùng. Tôi có hỏi, và được biết đây là tài liệu dịch, bản gốc tiếng Anh (?) do tổ chức SIDA - Swedish International Development Cooperation Agency - cung cấp để đào tạo cho VN, và phía VN đã dịch ra để sử dụng. BS Hồ Hải có được 1 copy vì theo học lớp đó, hình như thế? Tôi đã cất lên trên google docs, và để ở chế độ share với mọi người. Ai cần thì vào link tôi gửi ở trên để lấy xuống.

--
Hôm nay tôi có dịp trao đổi với một vài bạn về đề cương luận văn mà các bạn sắp phải nộp, và thấy rõ các bạn còn rất lúng túng về mặt phương pháp. Cái này cũng dễ hiểu thôi, vì trong suốt thời gian đi học cho đến nay thì các bạn được chuẩn bị hết sức sơ sài, nếu có (mà đa số thì không).

Cũng không biết làm sao giúp các bạn, nếu các bạn không tự bổ sung kiến thức và kinh nghiệm! Và tự học, chủ yếu là qua tiếp xúc trực tiếp với những người có kiến thức và kinh nghiệm hơn mình (tôi đang cố làm cho các bạn, nhưng khó, phải không), hoặc nếu không, thì qua việc tự tìm và đọc.

Và để hỗ trợ cho các bạn trong cách làm thứ hai, tôi cũng cố tìm để đưa lên đây. Và thấy cái này, mừng quá, mặc dù bằng tiếng Anh, nhưng cứ đưa lên đã. Sẽ dịch, hoặc viết tóm tắt, hoặc viết bài mới bằng cách tổng hợp nhiều nguồn, để gửi lên cho các bạn sau.

Hy vọng nó có ích cho các bạn!

--
A Mixed Method Design

Author: Olivia Hunt

This article is devoted to a mixed method research design. In the article special attention is paid to quantitative and qualitative approach for the design of a research as essential components of a mixed research paradigm. There are main research paradigms in education and science. They are: quantitative research, qualitative research and mixed research.

A mixed research design is a general type of research that includes quantitative and qualitative research data, techniques and methods. All these paradigm characteristics are mixed in one case study. This method design involves research that uses mixed data (numbers and text) and additional means (statistics and text analysis). A mixed method uses both deductive and inductive scientific method, has multiple forms of data collecting and produces eclectic and pragmatic reports.

Two main types of a mixed method are: mixed method and mixed model research. A mixed research method is a research in which you use quantitative data for one stage of a research study and qualitative data for a second stage of a research. A mixed model design is a research in which you use both quantitative and qualitative data in one or two stages of the research process. The mixing of quantitative and qualitative approaches happens in every stage of a research.

In a research it is important to use a mixed research method for the conducting of a detailed research. The advantages of a mixed research are:
1) The strength of the research;
2) Use of multiple methods in a research helps to research a process or a problem from all sides;
3) Usage of different approaches helps to focus on a single process and confirms the data accuracy. A mixed research complements a result from one type of research with another one. This research does not miss any available data.
A quantitative component of a mixed research assumes the usage of deductive scientific method while qualitative component assumes inductive scientific method. Moreover, a quantitative approach collects quantitative data based on exact measurement applying structured as well as validated information collection. For instance, rating scales, closed-ended items and responses. This approach produces statistical report with correlations.

A qualitative component uses qualitative information. For instance, interview, field notes, open-ended questions etc. This approach considers a researcher to be the major means of information collection. At the end of a research this approach supposes a narrative report with context description, quotations taken from research material.

It is important to stress that there are many ways of research performing. Quantitative and qualitative methods have their advantages and disadvantages in a research. However, you may summarize the advantages of both methods and have accurate information on implementation, findings and conclusions of your research project. Qualitative and quantitative research methods have different strengths, weaknesses and requirements that affect researcher’s project accuracy. The aim of a mixed method design is to summarize positive aspects of two approaches and produce a highly accurate data.

When you use several methods in your research process, then you can use the strength of every type of information collection and minimize the weak points of every of both approaches. A mixed method approach of gathering and evaluation can increase the validity and accuracy of the information. The article briefly analyzes a mixed method research design including the major components: quantitative and qualitative approach for the design of a research. The article proves the effectiveness of a mixed method design.

The article was produced by the writer of Essay-Paper.net. Olivia Hunt is a 4-years experienced freelance writer of Essay Writing Service. Contact her to get information about essay writing service and online writing at our website.

Article Source: http://www.articlealley.com/article_185975_22.html

About the Author:

http://www.essay-paper.net/

--

Sunday, December 6, 2009

Bài đáng đọc: "Có thật 'trung thực' xếp hạng chót?"

Tiếp theo bài của GS Nguyễn Văn Tuấn, nay có thêm bài này. Chép về đây cho sv học.

Nhưng phải "bình loạn" 1 cái: nếu chọn yêu nước xã hội chủ nghĩa là tiêu chí đầu tiên, thì tiêu chí trung thực đứng chót có lẽ cũng hợp lý. Vì yêu nước xhcn là một khái niệm rất trừu tượng, nhưng các em vẫn cứ phải chọn đó là tiêu chí 1 dù mình chưa hiểu (nếu đi thi mà nói khác thì rớt liền), nên theo các em này, trung thực có lẽ không quan trọng lắm (đối với những người thực hiện khảo sát trên các em).

Chẳng phải chúng ta vẫn nghe: "thật thà thường thua thiệt" đó sao?

--

SV chấm điểm 22 chuẩn mực đạo đức:
Có thật 'trung thực' xếp hạng chót?
Cập nhật lúc 07:14, Chủ Nhật, 06/12/2009 (GMT+7)
,
Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt nam vừa công bố kết quả khảo sát 1.200 HS - SV về “những chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay”. Theo đó, "trung thực trong kinh doanh" và "yêu lao động" xếp bét bảng.

Tuy nhiên, có thể thấy khái niệm về 22 tiêu chí, chuẩn mực trong cuộc khảo sát có nhiều sự chồng chéo, khiến cho tính chính xác của kết quả là điều cần phải bàn.

Ai dám nhận mình là “đức độ”?


Ảnh: An Bang
"Lòng yêu nước" là cụm từ không cần bất kỳ một định ngữ bổ trợ nào. Chúng ta thường nói yêu nước nồng nàn, yêu nước thiết tha… để thay cho cách nói “rất yêu nước”, “vô cùng yêu nước”; chứ không thể có khái niệm “có tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa”.

Phân biệt yêu nước xã hội chủ nghĩa khác với yêu nước phong kiến, yêu nước tư bản chủ nghĩa ở điểm nào?

Cũng tương tự, tại sao lại có khái niệm “trung thực trong kinh doanh”, trong khi chỉ cần hai chữ “trung thực” là đủ? Vì dù là kinh doanh hay thi cử hay là gì đi nữa thì khái niệm “trung thực” cũng chỉ có một nghĩa duy nhất mà thôi.

“Sống phải tuân theo pháp luật” (tiêu chí 18) và “sống phải biết giữ nghiêm kỷ cương phép nước”(tiêu chí 19) thực ra chỉ là một: Ý thức thượng tôn luật pháp.

Ai cũng biết đã ham học hỏi (tiêu chí 20) là có chí tiến thủ (tiêu chí 21) và ngược lại, nhưng 2 tiêu chí này lại được tách rời trong bảng khảo sát.

Chính vì sự rắc rối đó nên ít HS - SV nào dám nhận là mình đã “giữ nghiêm kỷ cương phép nước” và tiêu chí này được chấm thứ 3, trong khi “tuân theo pháp luật” đứng thứ 2.

Tương tự, “Ham học hỏi” xếp thứ 3 và “Có chí tiến thủ” xếp thứ 7. Lý do là người được hỏi sẽ hiểu tiêu chí 21 như là câu hỏi trắc nghiệm về tham vọng, còn “ham học hỏi” là một trong những nguyên tắc đạo đức quan trọng nhất.

Sai lệch còn lớn hơn nữa khi tiêu chí 15 “vị tha, đức độ”, đứng thứ 14.

Thử hỏi, các thầy cô giáo, các bậc danh nhân, có ai dám nhận mình là đức độ hay không?

Đức độ là một cái gì đó phi thường và do sự đánh giá từ bên ngoài sau một quá trình kiểm định lâu dài chứ không thể là một tiêu chí được xếp ngang hàng với “vị tha”. Hiểu theo nghĩa rộng và đủ thì “đức độ” phải là tập hợp của “vị tha”, “nhân ái”, “đúng mực”, “văn hoá”, “ý thức cộng đồng”…

Trong tiêu chí thứ 5: “Ý thức cộng đồng, cố kết dòng họ” được xếp chung vào một bị cũng là một sai lầm. Thực tiễn lịch sử chỉ ra rằng một khi cố kết dòng họ mạnh mẽ thì ý thức cộng đồng giảm. Hơn nữa, cố kết dòng họ là phạm trù có ít nhiều tính bảo thủ, vị kỷ, trong khi ý thức cộng đồng là một không gian mở, nhiều giá trị cao đẹp.

Kết quả khảo sát đáng suy nghĩ

Mặc dù có những sai lệch trên trong bộ tiêu chí, từ cách trả lời của 1.200 HS-SV, chúng ta vẫn có thể rút ra được một số nhận xét sau đây:

Trung thực (tiêu chí 14) và yêu lao động (tiêu chí 12) được HS - SV chấm đồng hạng thứ 19 là điều đáng báo động. Nó cho thấy, sự gian dối trong xã hội đã trở nên phổ biến, chai lỳ. Trong đó, có hiện tượng “phấn đấu” để có bằng cấp thật, kiến thức giả, chạy đua bằng mọi giá vào cơ quan nhà nước.

Kết quả cũng cho thấy sự mâu thuẫn của HS - SV ngày nay. Tại sao “yêu nước” được xếp thứ nhất trong khi “xả thân vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” lại được “chấm” ở vị trí thứ 10? Về nguyên tắc thì hai điều đó phải là một. Phải chăng, chính cái sai trong cách đề ra tiêu chí đã khiến SV bối rối khi lựa chọn?

Bên cạnh đó, phẩm chất “Thông minh, năng động sáng tạo”, “sẵn sàng vượt qua khó khăn”, “thuỷ chung” chỉ chiếm vị trí 12, 11 và 18. Điều này đã phản ánh rất rõ rằng những phẩm chất quan trọng nhất của thanh niên như tinh thần đi đầu, xung kích, tin rằng thách thức là cơ hội, sự chung thuỷ, trước sau…, đã bị coi nhẹ đến mức đáng buồn.

Đây là điều khiến các nhà hoạch định giáo dục phải suy nghĩ nghiêm túc, kỹ càng.

Đặc biệt, rất nhiều giá trị đạo đức quan trọng không được đề cập đến trong bộ câu hỏi là điều khó chấp nhận. Chẳng hạn tính độc lập, dám chịu trách nhiệm, biết lắng nghe phản biện, …, là những chuẩn mực đạo đức không thể thiếu.

Mặt khác, nếu cứ lượng hoá, chính trị hoá đạo đức bằng cách hỏi về “tinh thần quốc tế vô sản” (tiêu chí 22) thì quả là chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi tư duy bao cấp, giáo điều.

Cách giáo dục đạo đức chung chung, trừu tượng không thể tạo nên chất lượng sống tốt đẹp.

Hà Văn Thịnh (ĐH Khoa học Huế)

Saturday, December 5, 2009

Bài đáng đọc: "Yêu nước xã hội chủ nghĩa"

Mấy ngày nay cộng đồng mạng tiếng Việt đang bàn bạc về kết quả một nghiên cứu gần đây về "chuẩn mực đạo đức của con người VN hiện nay", trong đó có bài của GS Tuấn. Nhận thấy bài viết này có thể giúp làm rõ những sai lầm của những người nghiên cứu tại VN khi thực hiện khảo sát, phù hợp với chương trình đào tạo của ngành đo lường đánh giá hiện nay, nên xin mạn phép GS Tuấn cho chép về đây để lưu cho sv học.
--

Friday, December 4, 2009
Bài của GS Tuấn có thể đọc bên dưới, hoặc có thể tìm thấy tại đây

Yêu nước xã hội chủ nghĩa

Trong một entry trước, Gs Nguyễn Đăng Hưng có nhắc đến vấn đề nhập nhằng giữa giáo dục học đường và tuyên truyền chính trị, và chứng từ cho nhận định này có lẽ hiển nhiên nhất qua “khảo sát” được mô tả trên Vietnamnet.

Từ điển tiếng Việt định nghĩa “đạo đức” là “Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”, hay “phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có”. Trích dẫn định nghĩa như thế để thấy nghiên cứu về đạo đức không dễ chút nào, do thiếu một chuẩn mực có thể định lượng. Và, trong điều kiện như thế, thì nghiên cứu định tính (qualitative research) có lẽ là một cách tốt nhất để tiếp cận vấn đề.

Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam đã làm một nghiên cứu như thế trên 1200 học sinh và sinh viên (HS-SV). Họ hỏi HS-SV rằng “Xin anh (chị) cho biết những nội dung nào sau đây được xem là những chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay và cho biết mức độ quan trọng của các phẩm chất này?” Kết quả được trình bày trong bài báo trên Vietnamnet. Tôi thử cắt bảng số liệu, dán vào Excel, làm một động tác “sort” thì cho ra danh sách về “chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay” (nhấn mạnh: hiện nay) như sau:

1. Có tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa
2. Sống phải tuân theo pháp luật
3. Sống phải biết giữ nghiêm kỉ cương phép nước
4. Ham học hỏi
5. Tự hào là người dân Việt Nam
6. Tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc
7. Lối sống có văn hóa
8. Sống có kỉ luật
9. Có chí tiến thủ, cầu tiến bộ
10. Kết hợp tinh thần dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản
11. Cần kiệm liêm chính
12. Sẫn sàng xả thân vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
13. Sẵn sàng vượt qua khó khăn
14. Thông minh, năng động, sáng tạo
15. Nhân ái, sẵn sàng cưu mang giúp đỡ con người
16. Vị tha, đức độ
17. Đúng mực trong đối nhân xử thế
18. Ý thức cộng đồng cố kết dòng họ - gia đình - xóm làng - Tổ quốc
19. Chịu đựng gian khổ
20. Thủy chung
21. Yêu lao động, coi trọng chất lượng và hiệu quả
22. Trung thực trong kinh doanh

Như vậy theo nhận xét của HS-SV thì chuẩn mực đạo đức số 1 của người Việt Nam hiện nay là “Có tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa”. Lại còn có chuẩn mực thứ 10 là “Kết hợp tinh thần dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản”. Cả hai đều liên quan đến tiêu chuẩn chính trị, chứ không phải là đạo đức. Thật thú vị. Như vậy, nếu nhìn tiêu chuẩn đạo đức là phân định giữa cái sai và cái đúng, thì những ai yêu nước mà không yêu xã hội chủ nghĩa, hay những ai không có tinh thần quốc tế vô sản nhưng đoàn kết dân tộc, thì lệch chuẩn mực đạo đức, hay nói trắng ra là “thiếu đạo đức”?

Nói như thế để thấy những vấn đề cơ bản và cũng là những sai lầm cơ bản nhất của “nghiên cứu” này. Sai lầm thứ nhất là cách đặt câu hỏi và câu trả lời. Giới nghiên cứu xã hội học có câu đại khái rằng: anh có thể tìm được câu trả lời mình thích nếu biết cách hỏi. Chẳng hạn như nếu tôi muốn “chứng minh” rằng các em HSSV yêu nước xã hội chủ nghĩa, tôi chỉ cần cho các em câu trả lời “Có tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa”, và các em không có lựa chọn nào khác, nên đành phải “tick” vào cái câu trả lời đó! Nhưng nếu tôi cho 2 câu trả lời như “Có tinh thần yêu nước và yêu dân tộc” và “có tinh thần yêu xã hội chủ nghĩa” thì các em sẽ có lựa chọn và chắc chắn tần suất câu trả lời sẽ rất khác. Nói cách khác, cái sai lầm thứ nhất của nghiên cứu này là thiếu tính khách quan.

(Cái này gọi là lỗi GIGO = garbage in, garbage out, hoặc câu hỏi mớm cung!)

Cái sai lầm thứ 2 là nhập nhằng giữa những câu trả lời. Chẳng hạn như làm sao các em HSSV có thể phân biệt được “Sống phải tuân theo pháp luật” và “Sống phải biết giữ nghiêm kỉ cương phép nước”, vì cả hai đều phản ảnh một khía cạnh: tôn trọng pháp luật. Ấy thế mà họ tách thành 2 câu trả lời, và cũng không ngạc nhiên khi thấy các em chọn hai câu này liền nhau.

(Cái này gọi là ngôn ngữ không rõ ràng, gây khó trả lời, và làm giảm/mất giá trị của kết quả)

Cái sai lầm thứ 3 là tính mập mờ. Chẳng hạn như câu trả lời “Thủy chung” là thủy chung với ai, với Nhà nước, với người yêu, hay với xã hội chủ nghĩa? Và, thế nào là thủy chung? Không ngạc nhiên khi thấy các em cho câu trả lời này vào hàng chót.

(Cái này cũng cùng một lỗi với phần trên, tức là ngôn ngữ không rõ ràng, làm giảm giá trị của kết quả)

Cái sai lầm thứ 4 là kết luận. Họ (các nhà nghiên cứu) kết luận rằng “Có thể nói, kế thừa, phát triển, hiện đại, dân tộc, quốc tế, quy phạm là những tính chất điển hình trong chuẩn mực đạo đức ở con người Việt Nam,” nhưng kết quả trình bày trên và dữ liệu thực tế chẳng thấy nói gì hay có liên quan gì đến kế thừa, hiện đại cả. Thật ra, nếu kết luận cho phù hợp với dữ liệu thì có lẽ các kết quả này cho chúng ta thấy chuẩn mực đạo đức của người Việt hiện nay là yêu nước xã hội chủ nghĩa, có tinh thần thượng tôn pháp luật, lười biếng (vì ít yêu lao động) và thiếu thành thật trong kinh doanh.

(Cái này là lỗi rất thường gặp ở VN: số liệu một đàng, kết luận một nẻo. Gọi là lỗi kết án trước khi xử!)

Thật ra, có thể còn liệt kê vài sai lầm nữa, nhưng thiết nghĩ bao nhiêu đó cũng đủ để thấy rằng giá trị khoa học của nghiên cứu này quá thấp, nếu không muốn nói là 0. Vấn ề phương pháp lớn nhất có lẽ là những câu trả lời này thiếu tính mà giới xã hội học gọi là "internal validity", tức là hợp lí nội tại, tức là các câu trả lời không phản ảnh khái niệm gì cụ thể cả. Còn cho rằng nghiên cứu đã được lặp lại 2 lần trong 2 năm thì điều này không nói lên giá trị khoa học mà chỉ nói lên độ reliability của câu hỏi mà thôi. Ai làm về qualative research cũng đều biết điều căn bản này.

Thật ra, theo tôi thì chẳng có thể kết luận gì từ nghiên cứu này. Thật vậy, tôi cũng từng tham gia thiết kế và thực hiện những nghiên cứu loại mà chúng tôi gọi là “soft” hay qualitative như thế này, nhưng tôi thật không hiểu nổi những kết quả được mô tả trong bài báo có ý nghĩa gì. Nó không có ý nghĩa, chẳng những vì công trình nghiên cứu thiếu tính khoa học, mà còn vì sự nhập nhằng giữa hai khía cạnh tuyên truyền chính trị và đạo đức xã hội.

(Và đây là lỗi lớn nhất: nghiên cứu không rõ mục tiêu! Mục tiêu là tuyên truyền, tức mục tiêu chính trị, hay mục tiêu là hiểu rõ các giá trị, chuẩn mực hiện nay, để có cơ sở đưa ra những chính sách và luật lệ phù hợp nhằm điều chỉnh hành vi xã hội, tức mục tiêu khoa học?)

NVT
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 1:40 PM
--

Còn dưới đây là những trao đổi của tôi với các bạn bè trên mạng cũng về phương pháp thực hiện nghiên cứu này. Cũng xin đưa lên đây để lưu và khi có cơ hội sẽ trao đổi với sinh viên.


Tôi không xem được toàn văn nghiên cứu này mà cũng chỉ đọc trên báo như các bác thôi. Nhưng tôi đồ rằng phương pháp thực hiện cũng chẳng khác gì hàng trăm, hàng ngàn (?) nghiên cứu khác đã thực hiện trong lãnh vực tâm lý - giáo dục hiện nay. Cách làm như sau:

1. Soạn ra một cái phiếu hỏi (questionnaire) theo cảm tính chủ quan của người nghiên cứu (có lẽ có góp ý của một nhóm người, chủ yếu là bạn bè, đồng nghiệp của nhau, quen nhau, và gọi là phương pháp "chuyên gia"). Các câu hỏi thường là câu hỏi đóng, dùng thang 4 hoặc 5 (cho nó tiện!), và kèm thêm một số câu hỏi mở nào đó, nhưng ít khi thấy phân tích.

2. Phát cho một số lượng đủ lớn (lớn về số tuyệt đối, ví dụ trên 1000) đối tượng nào đó, mà chủ yếu là những đối tượng mà nhà nghiên cứu có thể tiếp cận được một cách dễ dàng và ít tốn kém (tất nhiên rồi, điều này không có gì sai), bất chấp đối tượng đó có thực sự phù hợp không, có theo một khung mẫu nào không. Tôi rất dốt về thống kê, không dám hó hé gì đâu, nhưng hình như cái cách mà họ hiểu là "chọn mẫu ngẫu nhiên" (random sampling) thì thật ra nó là "chọn mẫu thuận tiện" hay "chọn mẫu cơ hội" (convenience sampling) mà thôi.

3. Cách xử lý thống kê phổ biến nhất được áp dụng cho các nghiên cứu kiểu này là tỷ lệ số người chọn từng câu trả lời, hoặc khá hơn một chút (!) là lấy điểm trung bình, sau đó xếp thứ tự cao thấp (như nghiên cứu đang bàn ở đây), rồi cuối cùng thì ... bình loạn cả lên!

4. Các nghiên cứu như thế, đầy định tính, được xem là nghiên cứu định lượng các bác ạ, vì nó ... lấy thịt đè người mà, tới cả nghìn phiếu chứ có ít đâu!

Vậy đấy. Tôi không dám bình luận gì thêm nữa đâu. Chỉ đặt ra một giả thuyết: phải chăng có mối liên hệ thuận giữa số lượng các nghiên cứu kiểu này với số lượng các vấn nạn trong giáo dục hiện nay, kiểu như tạt axit vào thầy, hoặc thầy giáo bắt học trò thụt dầu đến nỗi vào bệnh viện, vv?

Friday, November 6, 2009

Reflections on Fran's first class (6/11)

Just a quick entry lest I forget what is important to note:

1. In terms of content: not just 'how-to', but more importantly, 'why'!
2. In terms of methodology (didactic approach): interaction and student participation
3. In terms of assessment method: not (just) tests and examinations, but rather, porfolio!
4. In terms of assessment purpose: not (just) for grades, but for feedback!
5. In terms of student-teacher relationship: teachers not only teach, but also learn; teachers ask ss to give feedback on their performance; we never do that!!!!!

Bài đáng đọc: "Phản biện cần thông tin khoa học"

Phản biện cần thông tin khoa học


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=235958&ChannelID=3


Thứ Năm, 27/12/2007, 08:04 (GMT+7)

Bộ Y tế: quyết định dừng sử dụng mắm tôm là cần thiết

TT (Hà Nội) - Quyết định dừng sử dụng mắm tôm trên phạm vi toàn quốc vào thời điểm cao trào của dịch tả là phù hợp với tình hình thực tế, là biện pháp cần thiết trong trường hợp khẩn cấp có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm đe dọa sức khỏe và tính mạng người dân.

Hôm qua 26-12, Bộ Y tế đã có thông báo chính thức, khẳng định như trên, trả lời băn khoăn của dư luận xung quanh quyết định dừng sử dụng mắm tôm.

Trong thông báo này, Bộ Y tế dẫn kết quả cuộc điều tra 61 người bệnh đầu tiên trong vụ dịch, trong đó mắm tôm bị nghi là thực phẩm mang mầm bệnh và có nhiều khả năng gây bệnh. Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng.

L.ANH


Tưởng rằng không có gì để nói thêm nữa trong vụ mắm tôm, nhưng khi đọc được bản tin trên đây, cúng tôi không thể không có thêm vài hàng bình luận.

Bộ Y tế vẫn viện dẫn kết quả 61 người bệnh đầu tiên có tiền sử ăn mắm tôm để kết luận rằng mắm tôm là thủ phạm của vụ bệnh tả và tiêu chảy cấp tính. Một người đọc bình thường phải hỏi ngay: tại sao mắm tôm? Thế còn các “thói quen” khác như ăn uống khác như ăn cơm, ăn rau sống, uống nước, uống bia, tắm sông, v.v… thì sao?

Thật là ngạc nhiên khi động từ “nghi” được sử dụng để “kết tội” một yếu tố dịch tễ học. Trong khoa học, phải có giả thuyết khoa học và kiểm định giả thuyết khoa học (chứ không thể nói “nghi” được). Dựa vào lí do sinh học gì để nói mắm tôm là thủ phạm bộc phát bệnh, khi hàng chục nghiên cứu trong y văn chỉ ra rằng với nồng độ muối lên đến >15% thì vi khuẩn tả không thể tồn tại.

Ngoài ra, vi khuẩn tả không thể tồn tại trong môi trường pH<3.>

Câu văn “Bộ Y tế cũng cho rằng cùng với các hoạt động chống dịch khác, quyết định dừng sử dụng mắm tôm đã góp phần vào kết quả dập tắt dịch tả trong vòng hơn một tháng” hàm nói đến một mối liên hệ nhân-quả (cause-effect relation). Lí giải của Bộ Y tế có thể diễn giải một cách gọn như sau: sau khi mắm tôm bị cấm, số bệnh nhân giảm xuống; suy ra, mắm tôm là nguyên nhân.

Nếu dùng cách lí giải và logic trên, chúng ta cũng có thể tiên đoán: ngưng cấm mắm tôm, bệnh tả sẽ bộc phát. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Do đó, lí giải trên cũng có vấn đề về logic và thực tế. Thật ra, chúng tôi thấy cách lí giải như thế của Bộ Y tế quá dễ dãi, và càng không phù hợp chút nào đối với một ngành hoạt động được xem là khoa học: ngành y tế.

Dịch tiêu chảy và bệnh tả vừa qua không phải là lần đầu ở nước ta. Trong quá khứ, đã có hàng chục vụ như thế. Thật ra, năm nào các bệnh viện cũng đều có điều trị nhiều ca bệnh tiêu chảy và bệnh tả. Nhưng trong thời gian đó mắm tôm vẫn được sản xuất, vẫn được phân phối, và vẫn được tiêu thụ. Như vậy có thể cho rằng mắm tôm là thủ phạm không? Câu trả lời quá hiển nhiên!

Nếu mắm tôm là nguyên nhân gây bệnh thì tại sao 134 mẫu mắm tôm được lấy đi xét nghiệm và tất cả đều âm tính với vi khuẩn tả? Xác suất của một kết quả 134/134 âm tính như thế là bao nhiêu? Thấp lắm. Nếu không tin, Bộ Y tế thử hỏi các chuyên gia trong Bộ tính toán thử xem. Nếu cần, chúng tôi có thể hướng dẫn (miễn phí) cách tính.

Nói tóm lại, những phát biểu mới nhất của Bộ Y tế liên quan đến mắm tôm vẫn chưa mang tính thuyết phục. Chưa thuyết phục vì các phát biểu này thiếu khoa học tính, và không phù hợp với thực tế.

Có lẽ Bộ Y tế nên công bố cho quần chúng biết cách thu thập thông tin về 61 bệnh nhân đó ra sao (cụ thể câu hỏi nào được đặt ra và ai thu thập các thông tin đó), và xử lí các thông tin đó như thế nào, mà Bộ đi đến kết luận lúc ban đầu. Các thông tin này sẽ giúp cho sự phản biện khách quan hơn và không phải mang tính một chiều như hiện nay.

Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 4:57 PM

Bài đáng đọc: "Cơ sở khoa học của Bộ Y tế (bổ sung)"

Cơ sở khoa học của Bộ Y tế (bổ sung)
Theo dõi những câu hỏi và trả lời trực tuyến do báo Tuổi trẻ tổ chức hôm thứ Bảy về vụ qui định lái xe gắn máy, tôi thấy nhiều người dân đặt câu hỏi hay, hết sức thiết thực, nhưng ngược lại những câu trả lời của các quan chức y tế và chuyên gia thì quá thất vọng. Thất vọng vì họ không trả lời câu hỏi của người dân, hay trả lời mà cứ như là hô khẩu hiệu tuyên truyền, hoàn toàn không có một bằng chứng khoa học nào cả. Xin trích dẫn vài câu hỏi, trả lời, và bình luận của tôi như sau:


Hỏi: Xin chào quý cơ quan, cho tôi được phép hỏi tại sao lại ra luật như vậy mà chưa xem xét ý kiến củq người dân. Tôi biết "Nhà nước này là của dân và do dân" mà đúng không? Ông Bộ Y tế thực tế đã xem xét kỹ các yếu tố trên về tai nạn giao thông chưa mà dám ra quy định như vậy? Tôi đã chạy xe máy gần 20 năm nay rồi mà chưa có lần nào gây tai nạn giao thông... mặc dù tôi không đủ tiêu chuẩn như quy định của Bộ Y tế mới đề ra như hiện nay. Tôi mong các cơ quan chức năng nên xem xét lại vấn đề này. (Cô minh, 39 tuổi, minhnghi2009@yahoo.com).


Trả lời: Đúng như vậy, Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mọi quy định của pháp luật đều vì lợi ích của người dân. Mọi hoạt động của Bộ Y tế cũng vì mục đích cao đẹp đó. Cũng vì xuất phát từ vấn đề bảo đảm an toàn và hạnh phúc của dân khi tham gia giao thông mà chúng tôi có quy định tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe.


Xin chúc mừng chị đã đảm bảo an toàn giao thông trong 20 năm qua, chúc chị luôn luôn có "phong độ" như vậy trong thời gian tới. Chị chưa nói rõ về sự thiếu hụt về sức khỏe của chị nên chúng tôi chưa có bình luận gì. Quan điểm của Bộ Y tế khi xây dựng quy định này là phù hợp với chuyên môn, tạo điều kiện tối đa cho người dân nhưng phải bảo đảm an toàn giao thông. Khi quy định này đi vào thực tiễn, nếu có điểm nào chưa phù hợp, chúng tôi sẵn sàng sửa đổi, bổ sung.


Bình luận: Có ai dám tin rằng qui định này “vì lợi ích của người dân” không, khi mà có đến 5-6 triệu phụ nữ Việt Nam có nguy cơ không được phép lái xe gắn máy trên 50 cc hay lái xe ôtô. Đảm bảo an toàn giao thông? Bằng chứng nào cho thấy giao thông sẽ an toàn hơn nếu áp dụng mấy qui định mới này? Tôi nghĩ vị quan chức này chưa trả lời câu hỏi của người hỏi.


Hỏi: Từ xưa đến nay có ai gây ra tai nạn giao thông duới 1m45 hay dưới 40kg không? Cho dù có cao hay nặng đi chăng nữa thì nếu không có ý thức trong việc tham gia điều khiển phương tiện giao thông thì cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Những người "lùn" và "ốm" có thể là do trời sinh người ta vậy chứ bản thân họ có muốn không? Nếu cấm họ thi lấy bằng và điều khiển phương tiện giao thông cơ giới vậy có phải là phân biệt đối xử không? (nguyen minh phuong, 30 tuổi, elvisphuong84@yahoo.com).


Trả lời: Mọi người đều thừa nhận rằng sức khỏe là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Nội dung này đã luật pháp khẳng định. Tôi hoàn toàn đồng tình với bạn về vấn đề ý thức của người tham gia giao thông, bạn có thấy rằng rất nhiều tai nạn giao thông xảy ra trong thời gian qua là do ý thức của người tham gia giao thông quá kém. Chúng tôi ban hành quy định này cũng là nhằm bảo đảm an toàn giao thông cho mọi người. Với những người không đủ điều kiện về sức khỏe lái xe máy trên 50cm3, vì sự an toàn giao thông của cá nhân và cộng đồng, có thể lựa chọn phương tiện giao thông phù hợp như xe gắn máy dung tích xi lanh dưới 50cm3.


Bình luận: Vị quan chức này vẫn chưa trả lời một câu hỏi rất hay và rất thực tế. Câu hỏi là có ai gây ra tai nạn giao thông dưới 145 cm hay dưới 40 kg không, mà ông quan chức này nói “mọi người đều …”! Mọi người là ai? Nếu muốn nói là “theo quan điểm của tôi” thì nói phức cho rồi, sao lại nói “mọi người”? Chắc chắc rất nhiều người trong thời gian qua không đồng tình và bất đồng ý với Bộ Y tế. Xin đừng ngụy biện theo kiểu mượn danh quần chúng (“mọi người”) để biện minh cho quan điểm phi khoa học của Bộ.


Hỏi: Tôi từng du học ở Mỹ và được cấp bằng lái xe ở đó. Tôi còn nhớ quá trình tiến hành các thủ tục cấp phép họ không có một yêu cầu nào về các chứng nhận sức khỏe. Vậy mà tổ chức giao thông ở họ vẫn tốt, tai nạn ít hơn Việt Nam rất nhiều. Vậy xin hỏi các cơ sở khoa học của quy định Tiêu chuẩn sức khỏe của Bộ Y tế là như thế nào? Tiêu chuẩn cần thiết cho ai? Cho xã hội? Cho các cá nhân điều khiển phương tiện? Cho các cơ sở, các cá nhân trực tiếp khám và ban hành giấy chứng nhận sức khỏe? Hay bộ chỉ muốn chứng tỏ mình quan trọng? (Tran Minh, 34 tuổi, thcongdan1@gmail.com).


Trả lời: Chào bạn Tran Minh, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, về mặt này Bộ Y tế đúng là một cơ quan quan trọng, chắc bạn và mọi người cũng đồng ý với tôi như vậy. Cơ sở khoa học của tiêu chuẩn sức khỏe chủ yếu dựa trên kết quả điều tra quốc gia năm 2001-2002. Trong những ngày vừa qua, có nhiều ý kiến không đồng tình với một số tiêu chuẩn về thể lực: chiều cao, cân nặng, vòng ngực ... Có thể có những tiêu chuẩn cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế về thể lực của người Việt Nam hiện tại nhưng việc đưa ra tiêu chuẩn vẫn cần thiết đối với đảm bảo an toàn giao thông cho chính người điều khiển phương tiện và cho những người khác. Người điều khiển phương tiện có quyền lựa chọn phương tiện phù hợp với điều kiện thể lực, sức khỏe phù hợp với chính mình.


Bình luận: Lại một câu hỏi về cơ sở khoa học của những qui định của Bộ Y tế, nhưng cách hỏi chứng tỏ người hỏi nắm vững vấn đề và có trình độ khoa học. Tuy nhiên, câu trả lời thì giống như không trả lời, vì không hàm chứa một information content (nội dung). Nói rằng cơ sở khoa học là một cuộc điều tra 2001-2002 hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Kết quả của cuộc điều tra đó là gì? Có phải cuộc điều tra đó có mục tiêu phân tích mối liên hệ giữa thể trạng và tai nạn giao thông không? Tôi không tin như vậy, bởi vì ngay cả Bộ trưởng GTVT còn nói chẳng có nghiên cứu nào như thế trong quá khứ cả. Như vậy, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi của bạn đọc.


Hỏi: Dạ thưa thầy, dưới cái nhìn của nhà nhân trắc học, thầy có nhận định thế nào về những số đo ước lượng (chiều cao, cân nặng, vòng ngực) trong quy định của Bộ Y tế ban hành, những con số đó có hợp lý hay không? Ngoài ra, việc không chấp nhận cho những người không đủ 1 trong 83 hạng mục sức khỏe (nhiều hạng mục khá mơ hồ) sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới người dân, điều đó có quan tâm tới ý nghĩa nhân văn đúng mực chưa ạ? Em xin cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khỏe! (Mai Trần, 25 tuổi, pixie_spring@yahoo.com.au)


Trả lời: Chào bạn, về các số đo và tiêu chuẩn thể lực, quy định của Bộ Y tế là có cơ sở khoa học. Tuy vậy, theo "qui tắc 1 - 2 - 3 s (sigma)" cũng có một số cần điều chỉnh, vì người Việt nói chung "nhỏ thó".


Thí dụ, vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp. Tôi tham gia tiểu ban hình thể các kỳ thi hoa hậu Việt Nam từ năm 1998 đến nay, thấy có nhiều bạn nữ vòng ngực chỉ có 72-73cm nhưng khỏe mạnh và vẫn tham gia thi, vào đến vòng biểu diễn!


Quy định về thể lực và tình trạng sinh lý-bệnh tật là điều cần thiết cho người điều khiển phương tiện giao thông. Ở nước ta từ năm 2001, Bộ Y tế đã có quy định về việc này, nhưng không được phổ biến rộng rãi, chứ đây không phải là lần đầu tiên có quy định. Chính vì vậy, nhiều người cảm thấy có điều gì đó thiếu tính nhân văn.


Bình luận: Lại một câu hỏi rất hay: căn cứ vào bằng chứng nào mà Bộ Y tế đi đến những tiêu chuẩn cụ thể đó. Thế nhưng, một lần nữa, câu trả lời thì rất khó hiểu. Không biết các bạn thì sao, chứ tôi chẳng hiểu cái “qui tắc 1-2-3s (sigma)” là qui tắc gì cả. (Nếu bạn nào hiểu, làm ơn giải thích cho tôi biết). Ngoài ra, tôi không hiểu cái logic của phát biểu “vòng ngực trung bình của nam và nữ thanh niên Việt Nam hiện nay là 75-80cm. Quy định chung cho cả hai giới là vòng ngực phải trên 72cm là chưa phù hợp”. Tại sao chưa hợp lí? Dựa vào tiêu chuẩn gì để nói là hợp lí hay không hợp lí? Số liệu của tôi (chỉ ở nữ) cho thấy vòng ngực trung bình là 80 cm với độ lệch chuẩn là 5.11 cm. Nói cách khác, có khoảng 95% nữ (trên 16 tuổi) có vòng ngực dao động từ 70 cm đến 90 cm. Nhưng mấy con số này chẳng liên quan gì đến câu hỏi của bạn đọc: tại sao có tiêu chuẩn 72 cm? Theo tôi, vị quan chức này vẫn chưa trả lời câu hỏi.


Nói chung, qua vài câu trả lời của các quan chức mà tôi trích dẫn trên đây, tôi thấy rõ ràng rằng những qui định về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, v.v… mà Bộ Y tế đưa ra trong việc xét duyệt cấp bằng lái xe gắn máy hoàn toàn không có một cơ sở khoa học đáng tin cậy nào cả. Xin lặp lại để nhấn mạnh: hoàn toàn không có cơ sở khoa học nào cả.


Đọc qua những trả lời của các nhà khoa học và quan chức này, tôi thấy họ sử dụng cụm từ “khoa học” và “cơ sở khoa học” rất tùy tiện. Điều đáng ngạc nhiên (hay không ngạc nhiên) là mấy quan chức và chuyên gia này đều có bằng tiến sĩ, thậm chí mang hàm giáo sư! Tôi không biết họ hiểu thế nào là khoa học. Nhưng tôi hiểu khoa học bằng cách phân biệt giữa khoa học thật và ngụy khoa học dỏm hay ngụy khoa học (pseudoscience) như sau:


Khoa học
Ngụy khoa học

Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu truyền trong các tập san chuyên ngành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua kiểm tra về sự chính xác và phương pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học mà cộng đồng khoa học chấp nhận.

Tài liệu của khoa học dỏm chủ yếu nhắm vào công chúng. Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác.

Tất cả kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận (repeatability). Nói một cách khác, nếu có một nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự.

Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Mọi “nghiên cứu,” nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào.


Đối với các nhà khoa học, tất cả những sai lầm, thất bại đều được khai thác triệt để, xem xét kĩ lưỡng để học hỏi. Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên, không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai lầm.

Đối với giới làm khoa học dỏm, những sai lầm, thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ. Họ chỉ tuyên truyền những gì hợp với ý định và chủ kiến của họ.


Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận, bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra ngoài dữ kiện.

Thuyết phục bằng niềm tin và sự trung thành. Khoa học dỏm có một yếu tố tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục. Nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.


Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ. Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ, bằng chứng cũ sẽ bị thay thế. Không tiến bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi.

Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao.



Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị.

Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo, dầu ăn, thuốc trị bách bệnh, v.v…) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng.



Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.


Dựa vào những tiêu chuẩn trên, tôi phải nói rằng những qui định của Bộ Y tế rất phi khoa học. Phi khoa học vì chưa có một nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa thể trạng và an toàn giao thông để đi đến làm luật hay ra qui định như thế. Thật ra, nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy qui định của Bộ Y tế đi ngược lại bằng chứng khoa học. Và, như tôi chỉ ra trong bài trước, họ còn sai về giả định đơn giản như chiều dài của chân và chiều cao. Một giả định đơn giản như thế mà Bộ còn sai thì câu hỏi đặt ra là họ còn sai chỗ nào nữa.


Hôm qua, tôi về xem lại qui định về lái xe bên Úc, tôi chẳng thấy một qui định nào về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, hay bệnh tật để được hay không được lái xe cả. Trong giấy xin bằng lái xe, họ yêu cầu người đứng đơn khai báo những bệnh tật chưa không cấm lái xe.


Để chắc ăn, tôi xem trên trang web giao thông vận tải của Chính phủ Úc thì thấy họ liệt kê một số bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe như hay bị chóng mặt, rối loạn về ngủ, cận thị, tiểu đường, bệnh tâm thần, bệnh tim, và một số bệnh liên quan đến tuổi tác. Nhưng họ còn nói thêm rằng mắc những bệnh này không có nghĩa là bạn không được lái xe, mà có nghĩa là bạn nên đến khám bác sĩ để tự mình biết đánh giá an toàn và cẩn thận trong khi lái xe.


Tôi nghĩ cách hay nhất là rút lại qui định này để bớt một gánh nặng cho người dân.


NVT

===
TB. Viết xong bài này tôi thấy trên Diễn đàn có giới thiệu 1 bài rất hay với tựa đề là "Có bệnh không nên làm quản lý" của Nguyên Lâm sau đây:

http://www.viet-studies.info/kinhte/NguyenLam_LamQuanLy.htm


Công luận vẫn chưa hết choáng váng vì những quy định của Bộ Y tế đưa ra về “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”. Trong đó có những chi tiết khiến tất cả những người bình thường đều phải có phản ứng như: những người thấp bé, nhẹ cân (chưa cao đủ 1,45m, nặng chưa tới 40 kg) hoặc ngực lép (vòng ngực trung bình dưới 72cm) không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50-175cm3; người có bệnh viêm loét thực quản, hẹp thực quản, loét dạ dày, sa trực tràng, trĩ, viêm gan mãn tính, to gan, teo gan, người bị vỡ xương hàm...không được phép lái xe…Nhìn vào những tiêu chí này, người ta nhận ra một vài triệu chứng của những căn bệnh hình như đã thành mãn tính đối với một số nhà quản lý công quyền.





Thứ nhất, đó là bệnh về não trạng duy ý chí, bề trên. Duy ý chí vì đáng lẽ ra pháp luật xuất phát từ thực tế, trên những đòi hỏi của thực tế, pháp luật ở nước ta nhiều khi do các cơ quan quản lý ban hành trước theo suy đoán, ý thích của mình, mà không hỏi người dân, sau đó người dân mới tham gia thụ động. Bề trên vì họ chỉ đứng trên kia nhìn xuống, mà không chịu xuống nhìn, cho rằng mình lúc nào cũng đúng, dân chỉ việc làm theo mà thôi.





Nói đến não trạng cũng vì nhà quản lý công quyền đã đưa ra những quy định “vô cùng… ngớ ngẩn”, “lạ lùng”, không giống ai như vậy. Nó khiến cho mỗi người bình thường đều phải tự hỏi, không hiểu “mấy ổng” có vấn đề hay không, nghi hoặc về não trạng của họ.





Thứ hai, đó là bệnh về mắt, cụ thể là thiển cận. Chẳng lẽ cơ quan quản lý không nhận ra những điều đơn giản như đâu phải cứ thấp bé nhẹ cân là nguyên nhân gây ra tai nạn và to béo nặng cân thì không gây tai nạn? Họ cũng không nhìn thấy được gì hơn ngoài 1,45m hay sao?





Thứ ba, đó là bệnh về tai. Họ đã không biết lắng nghe. Lắng nghe ở đây không phải là một hoạt động bản năng nghe thông thường mà là một hoạt động có ý thức, là quá trình thu nhận thông tin; nó bao gồm cả quá trình tiếp nhận, phân loại, xử lý, lưu giữ và sử dụng thông tin. Về mặt tâm lí và tình cảm thì lắng nghe còn là sự chấp nhận và đồng cảm với những ai sẽ chịu ảnh hưởng của quy định quản lý. Cơ quan quản lý trong trường hợp này không hiểu đã nghe ai, nghe từ đâu, nhưng rõ ràng là họ không hề bỏ công ra lắng nghe từ chính những người có liên quan trực tiếp nhất.





Thứ tư, đó là bệnh về chân tay. Nhà quản lý trong trường hợp này lười đến nỗi chẳng buồn động chân động tay để làm những thao tác tối thiểu như thảo luận đến nơi đến chốn trước khi cho ra những quy định như vậy. Đấy là chưa nói đến những động tác nhọc nhằn, tốn công sức, thời gian như điều tra xã hội học, nghiên cứu đa ngành, đánh giá tác động…





Thứ năm, đó là bệnh về tim. Cơ quan quản lý đã không hề động lòng, tỏ ra vô cảm trước mưu sinh của hàng triệu con người. Họ coi con người như một vật thí nghiệm khi vụng chèo, vụng cả chống rằng, trong khi thực thi, Bộ Y tế sẽ sửa đổi, bổ sung sớm nếu thấy quy định không phù hợp thực tế. Và như một tác giả viết, họ đã làm trái với nguyên tắc y đức số một của ngành y là “không làm hại người”, khi làm tổn hại về vật chất và cả tinh thần của hàng triệu người.






Thực ra, đã có những cơ chế phòng bệnh. Trước hết, đó là tự phòng bệnh lấy với nhau. Trong mỗi bộ, Bộ Y tế cũng vậy, đều có Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định văn bản của Bộ mình, rồi lấy ý kiến trong Bộ trước khi đưa ra ngoài. Tiếp đó, văn bản được gửi đi lấy ý kiến các bộ ngành khác, gửi sang Bộ Tư pháp thẩm định. Thế nhưng, những cơ chế này hiện nay có vẻ như chưa đủ sức đề kháng trước những căn bệnh nói trên. Cơ chế khiếu kiện hành chính nước ta cũng hơi trái khoáy khi chỉ cho phép kiện văn bản ảnh hưởng đến cá thể, mà không được kiện những văn bản có phạm vi ảnh hưởng rộng như Quyết định của Bộ Y tế. Còn tòa án hiến pháp lại chưa có ở nước ta, trong khi Quyết định này rõ ràng tác động xấu đến quyền đi lại- một quyền cơ bản của hàng triệu công dân, và phân biệt đối xử, kỳ thị với những người bị thiệt thòi.


Trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi năm 2008 đã có quy định cơ quan ban hành văn bản phải tiến hành đánh giá tác động của văn bản, nếu không sẽ không được chấp nhận. Theo đó, cần đánh giá chi phí, hệ quả, những tác động có thể xảy ra đối với các nhóm trong xã hội, các khu vực, hoặc toàn bộ xã hội và nền kinh tế từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong qua trình làm luật, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật hoặc ban hành chính sách mới. Điều quan trọng, cơ bản nhất là nó đưa ra nhiều phương án khác nhau, và nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh tác động của các giải pháp đó, lựa chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để họ có thể lựa chọn được giải pháp tốt nhất. Phương pháp này thiết lập các tiêu chí để đánh giá và so sánh các tác động đó. Đây là sự tiếp nhận một thông lệ tốt của nhiều nước. Tuy nhiên, theo Luật, Quyết định của Bộ lại không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Luật này đến tháng 1/2009 mới có hiệu lực. Như vậy, hiện tại chỉ còn trông chờ vào Cục kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp có tiếng nói phản biện, và Bộ Y tế “bỗng dưng” khỏi bệnh chăng?





Còn đối với các dạng văn bản quy phạm pháp luật khác, trong quá trình lấy ý kiến góp ý Nghị định thực thi Luật này, nhiều chuyên gia đã khuyến nghị phải đánh giá tác động đối với tất cả những văn bản nào ảnh hưởng đến nhiều người, nhóm dân cư trong xã hội. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu được chấp thuận, đây sẽ là một bộ lọc gạn lọc những văn bản không cần thiết, một cơ chế phát hiện, phòng ngừa việc ra đời những văn bản “lạ lùng” như vậy.





Cuối cùng, như một giáo sư có nói, “cần ban hành gấp quy định: người thiếu chất xám thì không được làm quản lý”. Người dân cũng tự hỏi: “mấy ổng” mắc nhiều bệnh vậy thì có đủ tiêu chuẩn để ngồi ở cái ghế quản lý công quyền, quyết những chuyện của hàng triệu con người như chúng ta?


Nguyên Lâm

Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 3:45 PM
Links to this post
bàn lại tiêu chuẩn sức khỏe để cấp giấy phép lái xe
nlđ - 1 giờ 56 phút trước (nlđ) - theo bộ trưởng bộ tư pháp hà hùng cường, hôm nay, 29-10, bộ y tế sẽ chủ trì cuộc họp liên bộ tư pháp, công an, gtvt, lđ-tb-xh nhằm bàn lại một số nội dung liên quan đến tiêu chuẩn sức khỏe để được cấp ...
Posted by atOctober 28, 2008 10:41 AM
"tiêu chuẩn đi xe máy không thực tế, gây tốn kém"
vnexpress - 2 giờ 20 phút trước "quy định chiều cao, cân nặng đi xe máy của bộ y tế có nhiều điểm khiến người dân băn khoăn bởi tính không thực tế và đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn gây tốn kém", bộ trưởng tư pháp hà hùng cường trao đổi với ...
Posted by atOctober 28, 2008 4:15 AM
bộ y tế nhận lỗi, hạ 83 xuống còn 40 tiêu chuẩn!
vnn - 2 giờ 30 phút trước. bộ y tế đã phải hạ chuẩn đối với người muốn sử dụng phương tiện giao thông. thay vì 83 tiêu chuẩn, nay bộ này dự kiến rút xuống còn... 40. cơ sở khoa học của bộ y tế - blog tuấn nguyễn ...
Posted by atOctober 27, 2008 3:38 PM