Tuesday, November 8, 2016

Tư liệu: Khung trình độ quốc gia Việt Nam (phê duyệt T10/2016)



THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 1982/QĐ-TTg
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2016

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Luật giáo dục đại học ngày 18 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Luật giáo dục nghề nghiệp ngày 27 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tên gọi:
a) Tên tiếng ViệtKhung trình độ quốc gia Việt Nam, viết tắt là KTĐQG;
b) Tên tiếng Anh: Vietnamese Qualifications Framework, viết tắt là VQF.
2. Mục tiêu:
a) Phân loại, chuẩn hóa năng lực, khối lượng học tập tối thiểu và văn bằng, chứng chỉ phù hợp với các trình độ thuộc giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học của Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực;
b) Thiết lập cơ chế kết nối hiệu quả giữa yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của bên sử dụng lao động với hệ thống các trình độ đào tạo thông qua các hoạt động đào tạo, đo lường, kiểm tra, đánh giá và kiểm định chất lượng;
c) Làm căn cứ để xây dựng quy hoạch cơ sở giáo dục, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cho các ngành, nghề ở các bậc trình độ và xây dựng chính sách bảo đảm chất lượng, nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực;
d) Thiết lập mối quan hệ với khung trình độ quốc gia của các nước khác thông qua các khung tham chiếu trình độ khu vực và quốc tế làm cơ sở thực hiện công nhận lẫn nhau về trình độ, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của ngun nhân lực;
đ) Tạo cơ chế liên thông giữa các trình độ đào tạo, xây dựng xã hội học tập và học tập sut đời.
3. Phạm vi điều chỉnh:
Khung trình độ quốc gia Việt Nam được áp dụng đối với các trình độ được quy định tại Luật giáo dụnghề nghiệp và Luật giáo dục đại học.
4. Cấu trúc:
Cấu trúc Khung trình độ quốc gia Việt Nam như sau:
a) Bậc trình độ:
Bao gồm 8 bậc: Bậc 1 - Sơ cấp I; Bậc 2 Sơ cấp II, Bậc 3 - Sơ cấp III, Bậc 4 - Trung cấp; Bậc 5 - Cao đẳng; Bậc 6 - Đại học; Bậc 7 - Thạc sĩ; Bậc 8 - Tiến sĩ.
b) Chuẩn đầu ra bao gồm:
- Kiến thức thực tế và kiến thức lý thuyết;
- Kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng giao tiếp, ứng xử;
- Mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân trong việc áp dụng kiến thức, kỹ năng để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.
c) Khối lượng học tập tối thiểu, được tính bằng số tín chỉ người học phải tích lũy cho mỗi trình độ;
d) Văn bằng, chứng chỉ là văn bản công nhận kết quả học tập của một cơ sở giáo dục đối với một cá nhân sau khi kết thúc một khóa học, đáp ứng chuẩn đầu ra do cơ sở giáo dục quy định.
5. Mô tả nội dung các bậc trình độ:
a) Bậc 1: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức phổ thông, cơ bản; kỹ năng thao tác cơ bản để thực hiện một hoặc một vài công việc đơn giản có tính lặp lại của một nghề xác định trong môi trường làm việc không thay đổi, với sự giám sát của người hướng dẫn.
Bậc yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 5 tín ch.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 1 được cấp chứng chỉ sơ cấp I.
b) Bậc 2: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết về hoạt động trong phạm vi hẹp của một nghề, kiến thức phổ thông, cơ bản về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật; kỹ năng thực hành nghề nghiệp dựa trên các kỹ thuật tiêu chuẩn để thực hiện một số công việc có tính lặp lại trong môi trường rất ít thay đổi dưới sự giám sát của người hướng dẫn, có thể tự chủ trong một vài hoạt động cụ th.
Bậc 2 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 15 tín chỉ.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đu ra Bậc 2 được cấp chứng chỉ sơ cấp II.
c) Bậc 3: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết về một số nội dung trong phạm vi của một nghề đào tạo; kiến thức phổ thông về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật; kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin; kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để có thể làm việc độc lập trong các điều kiện ổn định và môi trường quen thuộc.
Bậc 3 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 25 tín chỉ.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đu ra Bậc 3 được cấp chứng chỉ sơ cấp III.
d) Bậc 4: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết cần thiết trong phạm vi của một ngành, nghề đào tạo; kiến thức cơ bản về chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật và công nghệ thông tin; kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để thực hiện các công việc có tính thường xuyên hoặc phức tạp, làm việc độc lập hay theo nhóm trong điều kiện biết trước và có thể thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân, và trách nhiệm đối với nhóm, có năng lực hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện công việc đã được định sẵn.
Bậc 4 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 35 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, 50 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 4 được cấp bằng trung cấp.
đ) Bậc 5: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế, kiến thức lý thuyết rộng về một ngành, nghề đào tạo; kiến thức cơ bản về chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật và công nghệ thông tin; có kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để giải quyết những công việc hoặc vấn đề phức tạp, làm việc độc lập hoặc theo nhóm trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm hướng dẫn tối thiểu, giám sát, đánh giá đối với nhóm thực hiện những nhiệm vụ xác định.
Bậc 5 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 60 tín chỉ.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 5 đượcấp bằng cao đẳng.
e) Bậc 6: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế vững chắc, kiến thức lý thuyết toàn diện, chuyên sâu về một ngành đào tạo, kiến thức cơ bản về khoa học xã hội, chính trị và pháp luật; có kỹ năng nhận thức liên quan đến phản biện, phân tích, tổng hợp; kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp; làm việc độc lập hoặc theo nhóm trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm với nhóm trong việc hướng dẫn, truyền bá, phổ biến kiến thức, thuộc ngành đào tạo, giám sát người khác thực hiện nhiệm vụ.
Bậc 6 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 120 tín chỉ.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 6 được cấp bằng đại học.
g) Bậc 7: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế, kiến thức lý thuyết sâu, rộng ở mức độ làm chủ kiến thức trong phạm vi của ngành đào tạo; có kỹ năng phản biện, phân tích, tổng hợp và đánh giá dữ liệu, thông tin một cách khoa học và tiên tiến; kỹ năng nghiên cứu phát triển, đổi mới và sử dụng các công nghệ phù hợp trong lĩnh vực học thuật và nghề nghiệp; kỹ năng truyền bá, phổ biến tri thức trong các lĩnh vực chuyên môn, có khả năng tự định hướng, thích nghi với môi trường nghề nghiệp thay đổi; có khả năng hướng dẫn người khác thực hiện nhiệm vụ và khả năng quản lý, đánh giá, cải tiến để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp.
Bậc 7 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 60 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp đại học.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 7 được cấp bằng thạc sĩ.
Người có bằng tốt nghiệp đại học chương trình đào tạo có khối lượng học tập tối thiểu 150 tín chỉ, đáp ứng chuẩn đầu ra tương đương Bậc 7 được công nhận có trình độ tương đương Bậc 7.
h) Bậc 8: Xác nhận trình độ đào tạo của người học có kiến thức thực tế và lý thuyết tiên tiến, chuyên sâu ở vị trí hàng đầu của chuyên ngành đào tạo; có kỹ năng tổng hợp, phân tích thông tin, phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo; có kỹ năng tư duy, nghiên cứu độc lập, độc đáo, sáng tạo tri thức mới; có kỹ năng truyền bá, phổ biến tri thức, thiết lập mạng lưới hợp tác quốc gia và quốc tế trong quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn; thể hiện năng lực sáng tạo, có khả năng tự định hướng và dẫn dắt chuyên môn, khả năng đưa ra các kết luận, khuyến cáo khoa học mang tính chuyên gia.
Bậc 8 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 90 tín chỉ đối với người có bằng thạc sĩ, tối thiểu 120 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp đại học.
Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra Bậc 8 được cấp bằng tiến sĩ.
Người có trình độ tương đương Bậc 7, hoàn thành chương trình đào tạo chuyên khoa có khi lượng học tập tối thiểu 90 tín chỉ và đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra tương đương Bậc 8 được công nhận có trình độ tương đương Bậc 8.
6. Bảng mô tả Khung trình độ quốc gia Việt Nam được trình bày tại Phụ lục kèm theo Quyết định này.
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo:
a) Chủ trì quản lý, thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ thuộc giáo dục đại học; xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện và các điều kin cần thiết để triển khai Khung trình độ quốc gia Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện tham chiếu các trình độ giáo dục đại học của Khung trình độ quốc gia Việt Nam với Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF) và các khung trình độ quốc gia khác;
c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các hiệp hội nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục, các viện nghiên cứu liên quan để triển khai xây dựng, phê duyệt chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm cho từng trình độ, từng lĩnh vực và ngành đào tạo thuộc giáo dục đại học;
d) Chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học rà soát chương trình đào tạo, chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với quy định về chuẩn đầu ra; kim định cht lượng chương trình đào tạo dựa trên các minh chứng được xác định theo chuẩn đầu ra và các điều kiện bảo đảm chất lượng;
đ) Phối hợp với Bộ Tài chính xâdựng định mức, dự toán kinh phí cho việc triển khai thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục đại học cho từng giai đoạn.
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:
a) Chủ trì quản lý, thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ thuộc giáo dục nghề nghiệp; xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện và các điều kiện cần thiết để triển khai Khung trình độ quốc gia Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện tham chiếu các trình độ giáo dục nghề nghiệp của Khung trình độ quốc gia Việt Nam với Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF) và các khung trình độ quốc gia khác;
c) Chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan xây dựng quan hệ giữa tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp, tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp quốc gia với các trình độ đào tạo quốc gia;
d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các hiệp hội nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục, các viện nghiên cứu liên quan để triển khai xây dựng, phê duyệt chuẩn đu ra và các minh chứng kèm cho từng trình độ, từng lĩnh vực và ngành đào tạo thuộc giáo dục nghề nghiệp;
đ) Chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp rà soát chương trình đào tạo, chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với quy định về chuẩn đầu ra; kiểm định chất lượng chương trình đào tạo dựa trên các minh chứng được xác định theo chuẩn đầu ra và các điều kiện bảo đảm chất lượng;
e) Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng định mức, dự toán kinh phí cho việc triển khai thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp cho từng giai đoạn.
3. Bộ Tài chính
Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phân b, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc chi kinh phí triển khai thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam theo các quy định hiện hành của pháp luật.
4. Các bộ, ngành liên quan
a) Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện xây dựng chuẩn đầu ra của các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành;
b) Chỉ đạo các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục trực thuộc thực hiện rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm theo;
c) Cung cấp thông tin về ngành, nghề, yêu cầu về trình độ tương ứng vị trí việc làm; xây dựng và ban hành tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp làm cơ sở xây dựng và phát triển chuẩn đầu ra của các trình độ.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Chỉ đạo ngành giáo dục và đào tạo, các cơ quan chức năng ở địa phương tổ chức thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam trên địa bàn; kim tra, giám sát, đánh giá, tổng hợp kết quả áp dụng Khung trình độ quốc gia Việt Nam tại các cơ sở giáo dục trực thuộc.
6. Trách nhiệm của các hiệp hội nghề nghiệp và đại diện các ngành sản xuất, dịch vụ
a) Nghiên cứu, đề xuất hồ sơ năng lực, yêu cầu kiến thức, kỹ năng của các vị trí việc làm trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn của hiệp hội;
b) Tham gia các hội đồng khối ngành, hội đồng ngành đề xuất yêu cầu về trình độ, đề xuất chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm theo cho từng lĩnh vực và ngành đào tạo;
c) Tham gia vào việc đánh giá chất lượng đào tạo theo chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm theo các ngành, khối ngành; khuyến nghị cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục trong việc điều chỉnh, bổ sung chuẩn đầu ra và minh chứng kèm theo phù hợp với yêu cầu của từng vị trí việc làm.
7. Trách nhiệm các cơ sở giáo dục
a) Rà soát, điều chỉnh cấu trúc, nội dung, phương pháp thực hiện chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động và cam kết thực hiện chương trình theo chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm theo;
b) Triển khai việc tự đánh giá chất lượng theo chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm theo.


Nơi nhận:- Ban Bí thư Trung ương Đng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án Nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Hội đồng Quốc gia giáo dục và PTNL;
- Ủy ban Quốc gia đổi mới giáo dục và đào tạo;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, Công báo;
- Lưu: VT, KGVX (3b).
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG




Vũ Đức Đam

BẢNG MÔ TẢ KHUNG TRÌNH ĐỘ QUỐC GIA VIỆT NAM
(Kèm theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ)
Bậc trình độ

Chuẩn đầu ra
Người tốt nghiệp khóa đào tạo phải có:
Khối lưng học tập tối thiểu
Văn bằng, chứng chỉ
Kiến thức
Kỹ năng
Mức tự chủ và trách nhiệm
1
- Kiến thức thực tế và sự hiểu biết trong phạm vi hẹp về một vài công việc của một nghề xác định.
- Kiến thức cơ bản về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật phục vụ cuộc sống, học tập nâng cao và chuẩn bị cho công việc nghề nghiệp.
- Kỹ năng thực hành cơ bản, lao động chân tay, trực tiếp;
- Kỹ năng giao tiếp cơ bản trong môi trường quen thuộc.
- Thực hiện một số công việc đơn giản, có tính lặp lại, dưới sự giúp đỡ của người hướng dẫn.
- Làm việc với sự giám sát chặt chẽ, tuân theo hướng dẫn hoặc làm theo mẫu.
- Tự đánh giá và đánh giá công việc với sự giúp đỡ của người hướng dẫn.
5 Tín ch
Chứng chỉ I
2
- Kiến thức thực tế và lý thuyết về hoạt động trong phạm vi hẹp của một nghề.
- Kiến thức phổ thông về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật phục vụ cuộc sng, công việc nghề nghiệp và học tập nâng cao.
- Kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành để áp dụng các phương pháp, công cụ, tài liệu thích hợp và thông tin sẵn có.
- Kỹ năng giao tiếp để trình bày kết quả hoặc báo cáo công việc của bản thân.
- Thực hiện một số công việc có tính thường xuyên, tự chủ tương đối trong môi trường quen thuộc;
- Làm việc trong môi trường không quen thuộc với chỉ dẫn của người hướng dẫn;
- Tự đánh giá và đánh giá kết quả của nhiệm vụ được giao.
15 Tín chỉ
Chứng chỉ II
3
- Kiến thức thực tế và lý thuyết về những nguyên tắc, quá trình và khái niệm thông thường trong phạm vi của một nghề đào tạo;
- Kiến thức phổ thông về tự nhiên, văn hóa, xã hội và pháp luật phục vụ cuộc sống, công việc nghề nghiệp, và học tập nâng cao.
- Kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin liên quan đến công việc nghề nghiệp nhất định.
- Kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành để làm việc hoặc giải quyết công việc một cách độc lập.
- Kỹ năng sử dụng các thuật ngữ chuyên môn trong giao tiếp hiệu quả tại nơi làm việc.
- Làm việc độc lập trong các điều kiện ổn định và môi trường quen thuộc;
- Thực hiện công việc được giao và tự đánh giá kết quả theo các tiêu chí đã được xác định.
- Tham gia làm việc theo tổ, nhóm và chịu trách nhiệm một phần đối với kết quả công việc.
25 Tín chỉ
Chng chỉ III
4
- Kiến thức thực tế và lý thuyết tương đối rộng trong phạm vcủa ngành, nghề đào tạo.
- Kiến thức cơ bản về chính trị, văn hóa, xã hội và pháp luật đáp ứng yêu cầu công việc nghề nghiệp và hoạt động xã hội thuộc lĩnh vực chuyên môn.
- Kiến thức về công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công việc.
- Kỹ năng nhận thức, kỹ năng nghề nghiệp thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề bằng việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp cơ bản, công cụ, tài liệu và thông tin.
- Kỹ năng sử dụng các thuật ngữ chuyên môn của ngành, nghề đào tạo trong giao tiếp hiệu quả tại nơi làm việc; phản biện và sử dụng các giải pháp thay thế; đánh giá chất lượng công việc và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm.
- Có năng lực ngoại ngữ bậc 1/6 Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam
- Làm việc độc lập trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm một phần đối với nhóm.
- Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện công việc đã định sẵn.
- Đánh giá hoạt động của nhóm và kết quả thực hiện.
35 Tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp THPT, 50 Tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp THCS
Bằng Trung cấp
5
- Kiến thức thực tế và lý thuyết rộng trong phạm vi của ngành, nghề đào tạo.
- Kiến thức cơ bản về chính trị; văn hóa, xã hội và pháp luật đáp ứng yêu cầu công việc nghề nghiệp và hoạt động xã hội thuộc lĩnh vực chuyên môn.
- Kiến thức về công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công việc.
- Kiến thức thực tế về quản lý, nguyên tắc và phương pháp lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá các quá trình thực hiện trong phạm vi của ngành, nghề đào tạo.
- Kỹ năng nhận thức và tư duy sáng tạo để xác định, phân tích và đánh giá thông tin trong phạm vi rộng;
- Kỹ năng thực hành nghề nghiệp giải quyết phần lớn các công việc phức tạp trong phạm vi ca ngành, nghề đào tạo;
- Kỹ năng nhận thức, tư duy sáng tạo để xác định, phân tích và đánh giá thông tin trong phạm vi rộng.
- Kỹ năng truyền đạt hiệu quả các thông tin, ý tưởng, giải pháp tới người khác tại nơi làm việc;
- Có năng lực ngoại ngữ bậc 2/6 Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam
- Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức tạp trong điều kiện làm việc thay đổi.
- Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện nhiệm vụ xác định; chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm.
- Đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm.


60 Tín chỉ
Bằng Cao đẳng
6
- Kiến thức thực tế vững chắc, kiến thức lý thuyết sâu, rộng trong phạm vi của ngành đào tạo.
- Kiến thức cơ bản về khoa học xã hội, khoa học chính trị và pháp luật.
- Kiến thức về công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công việc.
- Kiến thức về lập kế hoạch, tổ chức và giám sát các quá trình trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể.
- Kiến thức cơ bản về quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn.
- Kỹ năng cần thiết để có thể giải quyết các vấn đề phức tạp.
- Kỹ năng dẫn dắt, khởi nghiệp, tạo việc làm cho mình và cho người khác.
- Kỹ năng phản biện, phê phán và sử dụng các giải pháp thay thế trong điều kiện môi trường không xác định hoặc thay đổi.
- Kỹ năng đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm.
- Kỹ năng truyền đạt vấn đề và giải pháp tới người khác tại nơi làm việc; chuyển tải, phổ biến kiến thức, kỹ năng trong việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể hoặc phức tạp.
- Có năng lực ngoại ngữ bậc 3/6 Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam.
- Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm.
- Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện nhiệm vụ xác định.
- Tự định hướng, đưa ra kết luận chuyên môn và có thể bảo vệ được quan điểm cá nhân.
- Lập kế hoạch, điều phối, quản lý các nguồn lực, đánh giá và cải thiện hiệu quả các hoạt động.
120-180 Tín chỉ
Bằng Đại học
7
- Kiến thức thực tế và lý thuyết sâu, rộng, tiên tiến, nắm vững các nguyên lý và học thuyết cơ bản trong lĩnh vực nghiên cứu thuộc chuyên ngành đào tạo.
- Kiến thức liên ngành có liên quan.
- Kiến thức chung về quản trị và quản lý. 
- Kỹ năng phân tích, tng hợp, đánh giá dữ liệu và thông tin để đưa ra giải pháp xử lý các vấn đề một cách khoa học;
- Có kỹ năng truyền đạt tri thức dựa trên nghiên cứu, thảo luận các vấn đề chuyên môn và khoa học với người cùng ngành và với những người khác.
- Kỹ năng tổ chức, quản trị và quản lý các hoạt động nghề nghiệp tiên tiến.
- Kỹ năng nghiên cứu phát triển và sử dụng các công nghệ một cách sáng tạo trong lĩnh vực học thuật và nghề nghiệp.
- Có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 4/Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam.
- Nghiên cứu, đưa ra những sáng kiến quan trọng.
- Thích nghi, tự định hướng và hướng dẫn người khác.
- Đưa ra những kết luận mang tính chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn.
- Quản lý, đánh giá và cải tiến các hoạt động chuyên môn.
30-60 Tín ch
Bằng Thạc sĩ
8
- Kiến thức tiên tiến, chuyên sâu ở vị trí hàng đầu của một lĩnh vực khoa học;
- Kiến thức cốt lõi, nền tảng thuộc lĩnh vực của chuyên ngành đào tạo.
- Kiến thức về tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới.
- Kiến thức về quản trị tổ chức.
- Kỹ năng làm chủ các lý thuyết khoa học, phương pháp, công cụ phục vụ nghiên cứu và phát triển.
- Kỹ năng tổng hợp, làm giàu và bổ sung tri thức chuyên môn.
- Kỹ năng suy luận, phân tích các vấn đề khoa học và đưa ra những hướng xử lý một cách sáng tạo, độc đáo.
- Kỹ năng quản lý, điều hành chuyên môn trong nghiên cu và phát triển.
- Tham gia thảo luận trong nước và quốc tế thuộc ngành hoặc lĩnh vực nghiên cứu và phổ biến các kết quả nghiên cứu.
- Nghiên cứu, sáng tạo tri thức mới.
- Đưa ra các ý tưởng, kiến thức mới trong những hoàn cảnh phức tạp và khác nhau.
- Thích ứng, tự định hướng và dẫn dắt những người khác.
- Phán quyết, ra quyết định mang tính chuyên gia.
- Quản lý nghiên cứu và có trách nhiệm cao trong việc học tập để phát triển tri thức chuyên nghiệp, kinh nghiệm và sáng tạo ra ý tưng mới và quá trình mới.
90-120 Tín ch
Bằng Tiến sĩ

Thông báo khi VB này có hoặc hết hiệu lực
Tin, bài liên quan:
Đã có Khung trình độ quốc gia Việt Nam 8 bậc

Wednesday, October 5, 2016

Tư liệu: QUY CHẾ TUYỂN SINH VÀO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẰNG, TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP HỆ CHÍNH QUY (1999)

http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Quyet-dinh-05-1999-QD-BGDDT-Quy-che-tuyen-sinh-dai-hoc-cao-dang-trung-hoc-chuyen-nghiep-he-chinh-quy-47414.aspx
----------------------

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 05/1999/QĐ-BGDĐT
Hà Nội, ngày 23 tháng 2 năm 1999

QUYẾT ĐỊNH
CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SỐ 05/1999/QĐ-BGD&ĐT NGÀY 23 THÁNG 2 NĂM 1999 VỀ VIỆC BAN HÀNH "QUY CHẾ TUYỂN SINH VÀO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẰNG, TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP HỆ CHÍNH QUY"
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Căn cứ Nghị định số 29/CP ngày 30-3-1994 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 02-3-1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Theo đề nghị của các ông Vụ trưởng Vụ Đại học và Vụ trưởng Vụ Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề,

Nguyễn Minh Hiển
(Đã ký)

TUYỂN SINH VÀO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG,TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP HỆ CHÍNH QUY(Ban hành kèm theo Quyết định số 05/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 23 tháng 2 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Hiệu trưởng các trường chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện cả bốn khâu chính trong công tác tuyển sinh: ra đề thi, tổ chức kỳ thi tại trường, chấm thi và chấm lại, xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển theo đúng các quy định của Quy chế này.
2. Các trường ĐH có chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo CĐ, THCN không tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng mà tuyển những thí sinh đã dự thi đại học tại trường năm đó, không đạt điểm vào đại học, nhưng có nguyên vọng và đạt điểm xét tuyển vào CĐ, THCN do trường quy định cho từng khu vực và đối tượng ưu tiên.
3. Các trường THCN có chỉ tiêu tuyển sinh nhưng số thí sinh đăng ký dự thi không vượt quá 10% chỉ tiêu thì báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ chủ quản (đối với các trường THCN Trung ương) hoặc Sở Giáo dục - Đào tạo (đối với các trường THCN địa phương) cho áp dụng phương thức xét tuyển.
Việc xét tuyển cần được tiến hành một cách công khai, công bằng căn cứ vào kết quả thi tốt nghiệp lớp cuối cấp THCS hoặc THPT và điểm bình quân các môn trong học bạ lớp cuối cấp tuỳ theo đối tượng tuyển của từng trường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý Nhà nước và chỉ đạo thống nhất, toàn diện đối với các trường ĐH, CĐ, THCN trong toàn quốc về mọi công việc liên quan đến công tác tuyển sinh.
Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng và ban hành các chủ trương và chính sách tuyển sinh, các văn bản quy phạm pháp luật về tuyển sinh, in và phát hành các tài liệu và biểu mẫu thống nhất phục vụ công tác tuyển sinh.
Chậm nhất là 3 tháng trước ngày thi tuyển sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố công khai các chỉ tiêu tuyển sinh vào các bậc đào tạo của từng trường, vùng tuyển, khối thi, môn thi và lịch thi.
Các Vụ chức năng và Thanh tra Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các trường thực hiện đúng các quy định về tuyển sinh.
Thanh tra tuyển sinh thực hiện theo "Quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra các kỳ thi theo Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo" ban hành kèm theo Quyết định số 20/1998/QĐ-BGD&ĐTngày 4/5/1998 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các Ngành Trung ương có trường, thành lập các đoàn thanh tra tuyển sinh (hoặc cử cán bộ thanh tra tuyển sinh) tiến hành thanh tra việc thực hiện Quy chế Tuyển sinh ở các trường ĐH, CĐ, THCN trực thuộc.
Khi có những trường hợp đặc biệt trong tuyển sinh, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét và quyết định.
1. Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, dân tộc, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, nếu có đủ các điều kiện sau đây đều được dự thi vào trường ĐH, CĐ, THCN:
a) Đã tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT), trung học chuyên nghiệp (THCN) trung học bổ túc (THBT), trung học nghề (THN) dưới đây gọi tắt là THPT hoặc tương đương. Riêng thí sinh thi vào trường THCN hệ tuyển sinh trung học cơ sở, chỉ cần tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) hoặc tương đương;
b) Có đủ sức khoẻ để học tập và lao động theo quy định tại Thông tư Liên Bộ Y tế - Đại học, THCN và DN số 10/TT-LB ngày 18-8-1989 và công văn hướng dẫn số 2445/TS ngày 20-8-1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
c) Trong độ tuổi quy định đối với những ngành có quy định hạn chế tuổi (các trường thuộc khối Quốc phòng, Công an, Kiểm sát, một số ngành năng khiếu);
d) Đạt được các yêu cầu sơ tuyển, nếu dự thi vào các trường có quy định sơ tuyển;
đ) Trước khi dự thi có hộ khẩu thường trú 3 năm trở lên (tính đến ngày dự thi) thuộc vùng tuyển quy định, nếu dự thi vào các trường có quy định vùng tuyển;
e) Nộp đầy đủ, đúng thủ tục, đúng thời hạn các giấy tờ và lệ phí đăng ký dự thi theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
g) Có mặt tại trường đã đăng ký dự thi đúng thời gian quy định ghi trong giấy báo dự thi, nộp đầy đủ lệ phí dự thi;
h) Quân nhân và công an nhân dân tại ngũ chỉ được dự thi vào những trường do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quy định sau khi đã được cấp có thẩm quyền cho phép đi học;
Quân nhân tại ngũ sắp hết hạn nghĩa vụ quân sự theo Luật định, nếu được Thủ trưởng từ cấp trung đoàn trở lên cho phép, thì được dự thi theo nguyên vọng cá nhân.
2. Những người không đủ các điều kiện kể trên và những người thuộc diện dưới đây không được dự thi:
a) Không chấp hành nghiêm chỉnh Luật Nghĩa vụ quân sự; có hành vi phạm pháp đang bị truy tố hoặc đang trong thời kỳ thi hành án;
b) Những người bị tước quyền dự thi hoặc bị kỷ luật buộc thôi học chưa được hai năm (tính từ năm bị tước quyền dự thi hoặc ngày ký quyết định kỷ luật đến ngày dự thi);
c) Học sinh, sinh viên đang học tại các trường đào tạo chưa được Hiệu trưởng cho phép dự thi, cán bộ công nhân viên đang làm việc tại các cơ quan Nhà nước chưa được thủ trưởng cơ quan cho phép đi học.
Những thí sinh có đủ các điều kiện dự thi và không thuộc diện nêu trong mục "Những người không đủ các điều kiện..." tại khoản Điều 4, nếu đã dự thi đủ số môn do trường quy định và đạt điểm xét tuyển vào trường đã dự thi quy định cho từng đối tượng, theo từng khu vực của mỗi khối thi hoặc từng ngành (nếu trường tuyển theo ngành), không có môn nào bị điểm không (0) thì thuộc diện trúng tuyển vào trường đã dự thi.
Việc tuyển sinh đi học đại học ở nước ngoài được tiến hành theo quy định riêng của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
1. Chính sách ưu tiên theo đối tượng.
Nhóm ưu tiên 1:
- Thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học, quân nhân, công an hoàn thành nghĩa vụ đã chuyển ngành, phục viên xuất ngũ mà trong thời gian tại ngũ đã chiến đấu và công tác tốt từ 12 tháng trở lên ở biên giới, hải đảo.
- Con liệt sỹ, con thương, bệnh binh mất sức lao động 81% trở lên, con của những người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động 81% trở lên, con Bà mẹ Việt Nam anh hùng, con Anh hùng lực lượng vũ trang, con Anh hùng lao động.
- Người có cha hoặc mẹ là người dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Công nhân ưu tú trực tiếp sản xuất đã làm việc 5 năm trở lên, trong đó có 2 năm liên tục là chiến sỹ thi đua được từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ, ngành trở lên công nhận và cấp bằng khen.
- Công dân Việt Nam không phải là người dân tộc thiểu số (người Kinh, Hoa...) có hộ khẩu thường trú 3 năm trở lên, tại vùng cao hoặc tại vùng sâu khu vực 1.
Nhóm ưu tiên 2:
- Quân nhân, công an nhân dân, thanh niên xung phong tập trung được cử đi học, quân nhân, công an phục viên, xuất ngũ đã có quá trình phục vụ từ 24 tháng trở lên tính đến ngày dự thi. Con thương binh, bệnh binh mất sức lao động dưới 81%.
- Người lao động ưu tú thuộc tất cả các thành phần kinh tế được tỉnh, thành phố công nhận danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân được cấp bằng và huy hiệu lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, giáo viên đã giảng dạy 3 năm (tính đến ngày thi) thi vào các trường trung học, cao đẳng, đại học sư phạm; y tá, dược tá, hộ lý, kỹ thuật viên, y sĩ, dược sĩ trung cấp đã công tác 3 năm thi vào các trường trung học, cao đẳng, đại học khối ngành y, dược; thanh niên chữ thập đỏ xung kích ưu tú được Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam xét chọn và giới thiệu bằng văn bản chính thức với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Công dân Việt Nam không phải là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú 3 năm trở lên (tính đến ngày dự thi) tại khu vực 1 nhưng không thuộc vùng cao, vùng sâu.
- Học sinh không thuộc các đối tượng ưu tiên nói trên và có hộ khẩu thường trú tại khu vực 2 nhưng ở xã, thị trấn (không ở phường, xã của các thành phố, thị xã và các huyện ngoại thành của thành phố trực thuộc Trung ương) thuộc nhóm khu vực 2 nông thôn (KV2-NT).
Thời hạn tối đa được hưởng ưu tiên đối với quân nhân, công an phục viên, xuất ngũ dự thi là 18 tháng kể từ ngày ký quyết định xuất ngũ đến ngày dự thi.
Người thuộc nhiều diện ưu tiên theo đối tượng chỉ được hưởng một tiêu chuẩn ưu tiên cao nhất.
Các đối tượng thuộc nhóm ưu tiên 1 dự thi vào trường có khoa, lớp dự bị hoặc được giao chỉ tiêu tuyển dự bị đại học, nếu không đạt điểm vào học chính thức nhưng đạt điểm vào dự bị đại học sẽ được xét tuyển vào học dự bị đại học và sau 1 năm học, sinh viên phải dự kỳ thi tại trường, lớp dự bị để tuyển vào học chính thức.
2. Các đối tượng được xét tuyển vào học thẳng hệ chính quy.
a) Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Chiến sĩ thi đua toàn quốc đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương.
b) Người đã dự thi và trúng tuyển vào các trường ĐH, CĐ (chính thức hoặc dự bị, THCN, nhưng ngay năm đó có lệnh điều động đi NVQS hoặc đi TNXP tập trung nay đã hoàn thành nghĩa vụ, được phục viên, xuất ngũ mà chưa được nhận vào học ở một trường lớp chính quy dài hạn nào, được từ cấp trung đoàn trong quân đội hoặc Tổng đội Thanh niên xung phong giới thiệu, nếu có đủ các điều kiện và tiêu chuẩn về sức khoẻ, có đầy đủ các giấy tờ hợp lệ thì được xem xét nhận vào học tại trường trước đây đã dự thi, mà không phải thi lại. Nếu việc học tập bị gián đoạn từ 3 năm trở lên và các đối tượng tuyển thẳng có nguyện vọng, thì được xem xét giới thiệu vào các trường, lớp dự bị để ôn tập trước khi vào học chính thức.
c) Thí sinh là thành viên trong các đội tuyển quốc gia đã dự thi Olympic quốc tế (Toán, Vật lý, Hoá học, Tin học, Nga văn...) đã tốt nghiệp THPT được nhận vào học tại các trường ĐH trong nước, nơi học sinh đăng ký dự thi, nếu chưa tốt nghiệp THPT sẽ được bảo lưu xem xét sau khi tốt nghiệp THPT.
Khối ngành học của những thí sinh này được ưu tiên xem xét phù hợp với môn thí sinh đã dự thi quốc tế.
d) Vận động viên đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương được tuyển thẳng vào:
- Các trường ĐH Thể dục thể thao (ĐH TDTT) nếu thuộc một trong các diện: là thành viên đội tuyển quốc gia đã tham gia thi đấu trong các giải quốc tế; vô địch (Huy chương vàng) các giải vô địch hạng nhất quốc gia; là vận động viên cấp kiện tướng quốc gia.
- Các trường CĐ Thể dục thể thao (CĐ TDTT) nếu thuộc một trong các diện: đạt giải nhì, giải ba (Huy chương bạc, Huy chương đồng) trong các giải vô địch hạng nhất quốc gia; vô địch (Huy chương vàng) Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc; là vận động viên cấp 1 quốc gia.
Vận động viên cấp 1 quốc gia, nếu dự thi vào các trường ĐH TDTT được miễn thi môn năng khiếu và được hưởng điểm 10 môn năng khiếu đó.
Thời hạn được tính để hưởng ưu tiên đối với các thành viên đội tuyển quốc gia đã tham gia thi đấu quốc tế và những vận động viên đã đạt huy chương hoặc đã được phong đẳng cấp TDTT là không quá 4 năm tính đến ngày thi vào các trường ĐH TDTT và CĐ TDTT.
e) Học sinh năng khiếu nghệ thuật đã tốt nghiệp THPT và tương đương hoặc hệ trung cấp các trường năng khiếu nghệ thuật đạt giải chính thức trong các cuộc thi nghệ thuật chuyên nghiệp chính thức toàn quốc hoặc quốc tế về ca, múa, nhạc được tuyển thẳng vào học các ngành tương ứng trình độ đại học, cao đẳng hoặc trung cấp các trường nghệ thuật (nếu nhà trường có đào tạo môn đó). Thời hạn được tính để hưởng ưu tiên không quá 4 năm kể từ ngày đạt giải thưởng hoặc huy chương đến ngày thi vào ĐH, CĐ, THCN.
g) Học sinh đạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi THPT (theo chương trình lớp 12), tốt nghiệp THPT từ loại khá trở lên được tuyển thẳng vào học các trường ĐH, CĐ, THCN; tốt nghiệp THPT loại trung bình được tuyển thẳng vào các trường CĐ, THCN. Học sinh đạt giải khuyến khích tốt nghiệp THPT từ loại khá trở lên được tuyển thẳng vào các trường CĐ, THCN.
Kết quả thi quốc gia chọn học sinh giỏi theo chương trình lớp 12 của những học sinh đang học lớp 11 được bảo lưu cho kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ, THCN năm kế tiếp sau.
Việc tuyển thẳng theo mục c, g, h tiến hành theo những nguyên tắc sau đây:
- Chỉ áp dụng một lần đúng năm học sinh tốt nghiệp THPT.
- Học sinh đạt một hay nhiều giải trong kỳ thi học sinh giỏi đồng thời tốt nghiệp THPT loại giỏi chỉ được hưởng một tiêu chuẩn ưu tiên cao nhất của mình.
- Học sinh đạt giải trong các kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi được tuyển thẳng vào học các ngành có môn thi tuyển sinh trùng với môn đạt giải. Riêng các ngành sư phạm chỉ tuyển thẳng học sinh có môn đạt giải trùng với ngành đào tạo. Nhóm ngành kinh tế không tuyển thẳng học sinh đạt giải các môn khoa học xã hội.
- Đối với những trường có yêu cầu sơ tuyển (hàng hải, các trường thuộc khối Quốc phòng, Công an, Kiểm sát...) chỉ những người đạt yêu cầu sơ tuyển mới thuộc diện xem xét để tuyển thẳng.
Đối với các trường năng khiếu (Kiến trúc, Văn hoá, Nghệ thuật, Báo chí, Thể dục thể thao...) thí sinh thuộc diện tuyển thẳng, nếu đạt các yêu cầu sơ tuyển, được miễn thi các môn văn hoá, nhưng phải dự thi các môn năng khiếu và phải đạt điểm năng khiếu do trường qui định mới thuộc diện trúng tuyển.
- Tổng số thí sinh được tuyển thẳng vào một trường hoặc một ngành của từng trường qui định tại mục c, g, h, không vượt quá 15% tổng chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy của trường hoặc ngành đó. Trong trường hợp số thí sinh đăng ký tuyển thẳng vượt quá 15% tổng chỉ tiêu tuyển sinh thì ưu tiên những người đạt giải trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi (lấy từ giải cao trở xuống), tiếp đó là người có tổng điểm các môn thi tốt nghiệp THPT cao hơn.
- Học sinh thuộc diện tuyển thẳng quy định tại mục g, h nhưng không sử dụng quyền được tuyển thẳng và học sinh tốt nghiệp THPT loại giỏi chưa đủ điều kiện tuyển thẳng khi dự thi vào các trường ĐH, CĐ, THCN được cộng điểm thưởng. Trong trường hợp đó điểm tuyển sinh để xét tuyển vào trường là tổng điểm các môn thi tuyển sinh và điểm thưởng.
Mức điểm thưởng được cộng thêm cho thí sinh qui định như sau:
- Cộng thêm 2 điểm cho người đạt giải nhất trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi và người tốt nghiệp THPT loại giỏi có điểm trung bình các bài thi tốt nghiệp THPT đạt từ 9,0 điểm trở lên (không tính điểm khuyến khích).
- Cộng thêm 1,5 điểm cho người đạt giải nhì trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi hoặc tốt nghiệp THPT loại giỏi có điểm trung bình các bài thi tốt nghiệp THPT đạt từ 8,5 điểm đến cận 9 điểm (không tính điểm khuyến khích).
- Cộng thêm 1 điểm cho người đạt giải ba trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi và người tốt nghiệp THPT loại giỏi có điểm trung bình các bài thi tốt nghiệp THPT đạt từ 8,0 điểm đến cận 8,5 điểm (không tính điểm khuyến khích).
- Cộng thêm 0,5 điểm cho người đạt giải khuyến khích trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi, tốt nghiệp THPT loại khá trở lên.
Đối với những thí sinh đạt giải trong kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi chỉ cộng thêm điểm vào điểm bài thi của môn thi ĐH, CĐ hoặc THCN trùng với môn đã đạt giải và trong trường hợp đạt nhiều giải cũng chỉ được hưởng một tiêu chuẩn ưu tiên cao nhất.
Học sinh tốt nghiệp loại xuất sắc của một số trường THCN sẽ được tuyển thẳng vào một ngành của một số trường ĐH, CĐ. Tiêu chuẩn tốt nghiệp THCN loại xuất sắc, danh mục trường và ngành học được tuyển thẳng quy định tại Phụ lục số 2 kèm theo Quy chế này.
Trước khi dự thi, thí sinh có hộ khẩu thường trú từ 3 năm trở lên (tính đến ngày dự thi) tại khu vực nào thì hưởng chính sách ưu tiên theo khu vực đó. Học sinh các lớp chuyên toán, ngoại ngữ... học sinh các trường, lớp để tạo nguồn của ngành, các trường, lớp dự bị kể cả các trường, lớp dự bị dân tộc, được hưởng điểm xét tuyển theo hộ khẩu gốc trước khi đến học tại các trường, lớp này. Riêng quân nhân, công an nhân dân được cử đi dự thi, nếu đóng quân từ 2 năm trở lên tại khu vực nào thì được xét theo khu vực đó; nếu dưới 2 năm thì được xét theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ.
Các khu vực ưu tiên được quy định như sau:
Khu vực 1 (KV1) gồm các huyện, xã, thị trấn miền núi, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng sâu, hải đảo.
Khu vực 2 (KV2) gồm các tỉnh, huyện, xã, thị trấn trung du và đồng bằng, ngoại thành các thành phố trực thuộc Trung ương. Khu vực này được chia thành 2 nhóm:
a) Học sinh có hộ khẩu thường trú tại các phường, xã, thị trấn thuộc thành phố không trực thuộc Trung ương; tại các phường, xã, thị trấn thuộc các thị xã và các xã, thị trấn thuộc các huyện ngoại thành của các thành phố trực thuộc Trung ương thuộc nhóm KV2.
b) Học sinh có hộ khẩu thường trú tại các xã, thị trấn không thuộc nhóm a nói trên thì thuộc nhóm khu vực 2 - nông thôn, viết tắt là KV2-NT.
Khu vực 3 (KV3) gồm các quận nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương không thuộc diện xét ưu tiên theo khu vực.
Các khu vực ưu tiên trong tuyển sinh, hàng năm sẽ được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố chi tiết.
1. Hồ sơ đăng ký dự thi (ĐKDT).
Thí sinh căn cứ vào lịch thi được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố hàng năm để ghi nguyện vọng đăng ký dự thi vào trường (hoặc vào ngành học của trường đối với những trường tuyển theo ngành) phù hợp với khả năng và điều kiện của mình.
Thí sinh có quyền đăng ký dự thi vào một hay nhiều trường ĐH, CĐ, THCN.
Hồ sơ đăng ký dự thi gồm có:
- Một túi đựng hồ sơ và hai phiếu ĐKDT có đánh số 1, 2. Mặt sau của túi đựng hồ sơ và 2 phiếu in những hướng dẫn cần thiết cho việc ĐKDT.
- 3 ảnh chụp theo kiểu chứng minh thư cỡ 4x6 có ghi họ, tên và ngày, tháng, năm sinh của thí sinh ở mặt sau (1 ảnh dán trên túi đựng hồ sơ, 2 ảnh nộp cho trường).
- Bản sao giấy chứng nhận hợp pháp là đối tượng ưu tiên (nếu có).
2. Thủ tục nộp hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT và chuyển giao giấy báo thi.
Thí sinh thi vào trường nào thì nộp hồ sơ ĐKDT và lệ phí ĐKDT cho trường đó.
Sau khi nộp phiếu ĐKDT, nếu có sự thay đổi về gia đình hoặc bản thân, thí sinh có trách nhiệm bổ sung và thông báo kịp thời cho các trường trước ngày thi và khi tới dự thi nộp đầy đủ các giấy tờ bổ sung hợp pháp để làm cơ sở thực hiện chính sách ưu tiên trong tuyển chọn, trong chế độ học phí, học bổng.
Sau ngày thi các trường không giải quyết việc thay đổi đối tượng và khu vực ưu tiên cho thí sinh đã dự thi.
Việc nộp hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT và chuyển nhận giấy báo thi, tuỳ theo tình hình hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố thực hiện theo một trong ba phương thức sau đây:
a) Thí sinh trực tiếp đến trường nộp phiếu ĐKDT, lệ phí ĐKDT và trực tiếp nhận giấy báo thi của trường.
b) Thông qua hệ thống bưu điện quốc gia.
c) Thông qua hệ thống tuyển sinh qua các khâu: thí sinh - Sở Giáo dục - Đào tạo - Trường - Sở Giáo dục - Đào tạo - Thí sinh.
Thí sinh chỉ cần nộp hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT và cước phí vận chuyển thay bưu điện tại nơi quy định của Sở Giáo dục - Đào tạo. Sau đó các Sở sẽ chuyển hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT cho trường và nhận lại phiếu báo dự thi để chuyển tận tay thí sinh.
Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện thống nhất một qui trình thuận tiện, nhanh chóng và ít tốn kém nhất, đồng thời quy định cụ thể mức lệ phí ĐKDT và mức cước phí vận chuyển hợp lý.
Sau khi đã lập xong danh sách phòng thi và in giấy báo thi, các trường không được nhận tiếp hồ sơ đăng ký dự thi.
Để điều hành mọi công việc liên quan đến công tác tuyển sinh, hàng năm tại mỗi trường ĐH, CĐ, THCN có chỉ tiêu tuyển sinh, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hội đồng Tuyển sinh.
1. Thành phần của HĐTS trường gồm có:
- Chủ tịch: HIệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền.
- Phó Chủ tịch: Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo.
- Uỷ viên thường trực: Trưởng hoặc Phó Trưởng phòng Giáo vụ (hoặc phòng Đào tạo).
- Các uỷ viên: Một số Trưởng phòng, Trưởng khoa và Chủ nhiệm bộ môn.
Những người có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị em ruột) dự thi vào trường trong năm đó không được tham gia HĐTS trường.
2. Quyền hạn, trách nhiệm của HĐTS trường.
HĐTS trường ĐH, CĐ trung ương và địa phương, THCN trung ương đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
HĐTS trường THCN địa phương đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Sở Giáo dục - Đào tạo.
HĐTS trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt các khâu: ra đề thi, tổ chức kỳ thi tại trường, chấm thi và chấm lại, xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển đến trường; thu và sử dụng lệ phí ĐKDT, lệ phí dự thi; tổng kết công tác tuyển sinh; quyết định khen thưởng, kỷ luật và báo cáo kịp thời kết quả công tác tuyển sinh cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ quan chủ quản (Bộ, Ngành có trường, UBND hoặc Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, thành phố).
3. Quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch HĐTS trường.
- Phổ biến, hướng dẫn, tổ chức thực hiện đúng Quy chế Tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Quyết định và chịu trách nhiệm toàn bộ các mặt công tác liên quan đến tuyển sinh theo quy định tại Quy chế Tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Báo cáo kịp thời với Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ quan chủ quản (Bộ có trường hoặc UBND tỉnh, thành phố, Sở GD - ĐT) về công tác tuyển sinh của trường.
- Ra quyết định thành lập bộ máy giúp việc cho HĐTS trường bao gồm: Ban Thư ký, Ban Đề thi, Ban Coi thi, Ban Chấm thi, Ban Chấm lại. Tuỳ hoàn cảnh cụ thể của từng trường, Chủ tịch HĐTS trường có thể thành lập Ban Cơ sở vật chất hoặc chỉ định một nhóm cán bộ để phụ trách công tác cơ sở vật chất cho kỳ thi tuyển sinh của trường mình. Các Ban này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch HĐTS trường.
- Phó Chủ tịch HĐTS trường giúp Chủ tịch HĐTS thực hiện nhiệm vụ và thay thế Chủ tịch HĐTS giải quyết công việc khi Chủ tịch HĐTS uỷ quyền.
1. Thành phần Ban Thư ký HĐTS trường gồm có:
- Trưởng ban do Uỷ viên thường trực HĐTS trường kiêm nhiệm.
- Các uỷ viên: một số cán bộ Phòng Giáo vụ (Phòng Đào tạo) và cán bộ giảng dạy.
2. Quyền hạn, trách nhiệm của Ban Thư ký HĐTS trường:
- Nhận bài thi của ban coi thi. Bảo quản, kiểm kê bài thi.
- Thực hiện việc dồn túi, đánh số phách bài thi theo quy định tại Điều 19 Quy chế này.
- Bàn giao bài thi của thí sinh cho Ban Chấm thi và thực hiện các công tác nghiệp vụ quy định tại Điều 25 Quy chế này.
- Quản lý các giấy tờ, biên bản liên quan tới bài thi. Lập biên bản xử lý điểm thi.
- Làm báo cáo tình hình chấm thi trình Chủ tịch HĐTS trường.
- Dự kiến phương án điểm xét tuyển HĐTS xem xét.
- Gửi giấy báo điểm cho thí sinh.
Ban thư ký HĐTS trường chỉ được tiến hành công việc liên quan đến bài thi khi có mặt ít nhất từ 2 uỷ viên của Ban trở lên.
3. Quyền hạn, trách nhiệm của Trưởng ban Thư ký HĐTS trường.
- Lựa chọn những cán bộ trong trường có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, tác phong làm việc cẩn thận, có ý thức bảo mật và không có người thân (vợ, chồng, con, anh chị em ruột) dự thi vào trường năm đó để trình Chủ tịch HĐTS trường xem xét ra quyết định cử vào Ban Thư ký.
- Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch HĐTS điều hành công tác của Ban.
1. Thành phần Ban Đề thi gồm có:
- Trưởng ban do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐTS trường kiêm nhiệm.
- Uỷ viên thường trực do Chủ tịch HĐTS hoặc Trưởng ban Đề thi trường chỉ định.
- Tuỳ theo số lượng môn thi của trường, Trưởng ban Đề thi chỉ định mỗi môn thi một Trưởng môn thi.
Giúp việc Ban Đề thi có 1 - 2 cán bộ làm nhiệm vụ đánh máy, in, đóng gói đề thi.
Những người có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) dự thi vào trường trong năm đó không được tham gia Ban Đề thi hoặc giúp việc Ban Đề thi.
2. Quyền hạn, trách nhiệm của Ban Đề thi.
Giúp Chủ tịch HĐTS trường xác định yêu cầu xây dựng đề thi, in, đóng gói, bảo quản và phân phối đề thi theo đúng quy chế.
- Ban Đề thi làm việc theo nguyên tắc độc lập và trực tiếp giữa Trưởng ban Đề thi với từng Trưởng môn thi, không làm việc tập thể toàn Ban.
3. Quyền hạn, trách nhiệm của Trưởng ban Đề thi.
- Lựa chọn người tham gia công tác đề thi. Nêu yêu cầu biên soạn đề thi.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác đề thi theo đúng các quy trình làm đề thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Xét duyệt, quyết định chọn đề chính thức và đề dự bị, xử lý các tình huống cấp bách, bất thường về đề thi trong kỳ thi tuyển sinh.
- Chịu trách nhiệm cá nhân trước HĐTS trường về chất lượng chuyên môn và quy trình bảo mật đề thi cùng toàn bộ các khâu công tác liên quan đến đề thi.
4. Quyền hạn, trách nhiệm của Uỷ viên thường trực Ban Đề thi.
- Nghiên cứu nắm vững các quy định về công tác đề thi, chuẩn bị sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo cần thiết để giúp Trưởng ban Đề thi điều hành công tác đề thi.
- Lập kế hoạch và lịch duyệt đề thi, ghi biên bản xét duyệt đề thi trong các buổi làm việc giữa Trưởng ban Đề thi với từng Trưởng môn thi.
- Lập kế hoạch và trực tiếp tổ chức in đóng gói, bảo quản, phân phối và sử dụng đề thi cho các điểm thi, phòng thi.
5. Quyền hạn, trách nhiệm của Trưởng môn thi.
- Nắm vững và quán triệt đầy đủ yêu cầu và nội dung của việc ra đề thi.
- Nghiên cứu các đề đã được giới thiệu để chọn lọc, chỉnh lý, tổ hợp và biên soạn đề thi mới đáp ứng các yêu cầu của đề thi tuyển sinh. Dự kiến phương án chọn đề chính thức và đề dự bị (kể cả đáp án và thang điểm) để trình Trưởng ban Đề thi xem xét quyết định.
- Giúp Trưởng ban Đề thi theo dõi, giải đáp và xử lý các vấn đề liên quan đến đề thi do mình phụ trách trong các buổi thi.
Trưởng môn thi không tham gia quyết định chọn đề chính thức cho kỳ thi.
1. Thành phần Ban Coi thi gồm có:
- Trưởng ban do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐTS trường kiêm nhiệm.
- Uỷ viên thường trực do Trưởng ban Thư ký HĐTS trường kiêm nhiệm.
- Các Uỷ viên bao gồm một số Trưởng phòng (Tổ chức Cán bộ, Công tác học sinh, Sinh viên, Tài vụ, Giáo vụ, Bảo vệ, Hành chính tổng hợp, Quản trị, Ban Ký túc xá,...) một số Trưởng khoa, Chủ nhiệm bộ môn, cán bộ coi thi, trật tự viên, cán bộ y tế, công an (nơi cần thiết có thể thêm một số kiểm soát quân sự).
- Nếu trường có nhiều điểm thi thì ở mỗi điểm thi Trưởng ban Coi thi chỉ định một uỷ viên của Ban phụ trách điểm thi.
2. Quyền hạn, trách nhiệm vủa Ban Coi thi.
Điều hành toàn bộ công tác coi thi tại trường từ việc bố trí lực lượng coi thi, bảo vệ phòng thi, tổ chức coi thi, thu bài đến việc bàn giao bài thi theo đúng Quy chế tuyển sinh, bảo đảm an toàn cho kỳ thi và bài thi của thí sinh.
3. Quyền hạn, trách nhiệm của Trưởng ban Coi thi.
- Chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ công tác coi thi tại trường, quyết định danh sách thành viên Ban Coi thi, danh sách cán bộ coi thi, trật tự viên, cán bộ y tế, công an, kiểm soát quân sự, nhân viên phục vụ tại các điểm thi.
- Quyết định xử lý các tình huống xảy ra trong các buổi thi theo đúng Quy chế tuyển sinh.
- Uỷ viên thường trực Ban coi thi có trách nhiệm giúp Trưởng ban Coi thi thực hiện nhiệm vụ.
4. Quyền hạn, trách nhiệm của Uỷ viên phụ trách điểm thi.
- Thay mặt Trưởng ban Coi thi điều hành toàn bộ công tác coi thi tại điểm thi được giao.
- Xử lý các tình huống xảy ra trong các buổi thi. Nếu tình huống phức tạp phải báo cáo ngay cho Trưởng ban Coi thi giải quyết.
- Chọn cử một số cán bộ của trường có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao làm cán bộ giám sát phòng thi.
- Trước mỗi buổi thi tổ chức bốc thăm để phân công cán bộ coi thi.
5. Cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi và các thành viên khác của Ban Coi thi phải là những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao, vô tư, trung thực, không được làm nhiệm vụ tại điểm thi nơi có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) dự thi.
- Nếu thiếu cán bộ coi thi, Ban Coi thi được phép sử dụng sinh viên các năm trên đang học tại trường mình hoặc mời cán bộ giảng dạy của các trường ĐH, CĐ khác, giáo viên THPT, THCN, cán bộ đang công tác tại các cơ quan chủ quản cấp trên của trường làm cán bộ coi thi nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của trường hoặc cơ quan quản lý cán bộ, giáo viên.
Mọi cán bộ coi thi và các thành viên khác của Ban Coi thi, kể cả sinh viên hoặc cán bộ, giáo viên của các trường khác đều phải thực hiện các quy định của Quy chế này, nếu sai phạm đều bị xử lý theo Điều 35 của Quy chế này.
1. Thành phần Ban Chấm thi gồm có:
- Trưởng ban do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐTS trường kiêm nhiệm.
- Uỷ viên thường trực do Trưởng ban Thư ký HĐTS trường kiêm nhiệm.
- Các uỷ viên gồm: các cán bộ phụ trách từng môn chấm thi (gọi là Trưởng môn chấm thi) và các cán bộ chấm thi.
2. Quyền hạn, trách nhiệm của Ban Chấm thi:
Thực hiện toàn bộ công tác chấm thi theo đúng quy chế và tiến độ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
3. Quyền hạn và trách nhiệm của Trưởng Ban Chấm thi:
- Lựa chọn và đề cử các thành viên Ban Chấm thi để Chủ tịch HĐTS quyết định.
- Điều hành công tác chấm thi. Chịu trách nhiệm trước Hội đồng tuyển sinh trường về chất lượng, tiến độ và quy trình chấm thi.
4. Quyền hạn, trách nhiệm của Uỷ viên thường trực Ban chấm thi:
Điều hành các uỷ viên Ban thư ký HĐTS trường thực hiện các công tác nghiệp vụ.
5. Quyền hạn, trách nhiệm của Trưởng môn chấm thi:
- Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch HĐTS trường và Trưởng ban Chấm thi về việc chấm các bài thi thuộc môn mình phụ trách theo đúng quy trình chấm thi.
- Lựa chọn và giới thiệu cán bộ chấm thi để Trưởng ban Chấm thi ra quyết định.
- Lập kế hoạch chấm thi, tổ chức nhận bài thi và phân công cán bộ chấm thi.
- Thường xuyên kiểm tra chất lượng chấm từng bài ngay từ vòng chấm đầu, kịp thời uốn nắn, sửa chữa các sai sót của cán bộ chấm thi. Nếu phát hiện bài thi có nghi vấn cần báo cáo Trưởng ban Chấm thi biết để tổ chức kiểm tra các môn thi khác của thí sinh đó.
- Trước khi chấm, tổ chức cho cán bộ chấm thi thuộc môn thảo luận, nắm vững đáp án, thang điểm.
Sau khi chấm xong, tổ chức họp cán bộ chấm thi thuộc bộ môn mình phụ trách để tổng kết, rút kinh nghiệm.
- Kiến nghị Trưởng ban Chấm thi thay đổi hoặc đình chỉ việc chấm thi đối với những cán bộ chấm thi thiếu trách nhiệm, vi phạm quy chế hoặc chấm sai sót nhiều.
6. Cán bộ chấm thi phải là những người có tinh thần trách nhiệm cao, vô tư, trung thực, có trình độ chuyên môn tốt và đang trực tiếp giảng dạy đúng môn được phân công chấm.
Những cán bộ giảng dạy đang trong thời kỳ tập sự không được tham gia chấm thi. Những người có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) dự thi vào trường nào thì không được làm cán bộ chấm thi tại trường đó, kể cả chấm lại. Thành viên ban Thư ký không được tham gia chấm thi.
Nếu thiếu cán bộ chấm thi, Trưởng ban Chấm thi được phép mời cán bộ giảng dạy của các trường ĐH, CĐ khác hoặc giáo viên THPT tham gia chấm thi nhưng phải tuân thủ các quy định nói trên và phải được sự đồng ý bằng văn bản của trường chủ quản cán bộ, giáo viên đó.
Mọi cán bộ chấm thi, kể cả cán bộ của các trường khác tham gia chấm thi phải thực hiện các quy định của Quy chế này; nếu sai phạm đều bị xử lý theo Điều 35 của Quy chế này.
1. Thành phần của Ban Chấm lại bao gồm:
- Trưởng ban do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo đảm nhiệm.
- Các Uỷ viên: một số cán bộ giảng dạy chủ chốt của các bộ môn. Danh sách các uỷ viên và lịch làm việc của Ban phải được giữ bí mật.
2. Quyền hạn, trách nhiệm của Ban Chấm lại:
Khi thí sinh có đơn khiếu nại, Ban Chấm lại có nhiệm vụ chỉ đạo:
- Kiểm tra các sai sót cơ học như: cộng sai điểm, ghi nhầm điểm bài thi của người này sang người khác.
- Chấm lại các bài mà thí sinh cho rằng có sai, sót so với thang điểm chính thức.
- Chấm bài thi thất lạc nay tìm thấy.
- Chấm bài mới thi bổ sung của thí sinh thiếu điểm thi do sai sót của HĐTS.
- Trình Chủ tịch HĐTS trường quyết định điểm bài thi sau khi đã chấm lại.
1. Khối thi, môn thi và thời gian làm bài của mỗi môn thi do HĐTS trường quyết định, sau khi có sự nhất trí của Bộ Giáo dục và Đào tạo (hoặc Sở Giáo dục - Đào tạo, đối với các trường THCN địa phương) và được công bố công khai trước kỳ thi 3 tháng. Môn thi tuyển sinh (trừ các môn năng khiếu) phải là các môn học trong chương trình bậc trung học. Thí sinh phải thi đủ số môn do trường quy định. Thí sinh không dự thi một môn trở lên không thuộc diện xét tuyển.
2. Thời gian quy định cho kỳ thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ là 4 ngày. Ngày đầu để làm thủ tục dự thi. Ngày thứ hai và thứ ba làm bài thi và ngày cuối cùng dự trữ cho trường hợp cần thiết. Kỳ thi tuyển sinh vào các trường THCN là 3 ngày, ngày đầu để làm thủ tục dự thi, ngày thứ hai để làm bài thi và ngày cuối cùng để dự trữ.
Lịch thi từng ngày do Chủ tịch HĐTS trường quyết định.
3. Trước kỳ thi chậm nhất là 1 tuần, HĐTS trường phải tổ chức các điểm thi và chuẩn bị đủ số phòng thi cần thiết. Mỗi phòng thi phải có đủ ánh sáng, bàn ghế, phấn, bảng. Khoảng cách giữa hai thí sinh liền kề nhau phải từ 1,2m trở lên. Vị trí phòng thi phải an toàn, yên tĩnh. Mỗi phòng thi phải có hai cán bộ coi thi.
4. Hiệu trưởng (hoặc Chủ tịch HĐTS) giao cho Phòng Đào tạo (hoặc Ban thư ký) tổ chức nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT và gửi giấy báo thi cho thí sinh theo quy định tại Điều 8 Quy chế này, đồng thời chỉ đạo bộ phận máy tính triển khai hoạt động theo quy định tại Điều 19 Quy chế này.
Đề thi vào các trường ĐH, CĐ, THCN phải đạt được các yêu cầu về kiểm tra những kiến thức cơ bản, khả năng vận dụng và kỹ năng thực hành của thí sinh trong phạm vi chương trình THPT (hoặc THCS đối với một số trường THCN), chủ yếu là chương trình lớp cuối cấp, phù hợp với trình độ chung của thí sinh dự thi, đúng với chương trình và mức độ mà trường đã công bố.
Nội dung đề thi phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, chặt chẽ. Lời văn, câu chữ phải rõ ràng, không có sai sót.
Đề thi phải đạt yêu cầu phân loại được trình độ học lực của thí sinh và phù hợp với thời gian quy định cho mỗi môn thi.
Chủ tịch HĐTS và Trưởng ban Đề thi của trường chịu trách nhiệm về cách ra đề và nội dung đề thi của trường mình.
Bước 1:
Tùy theo tình hình cụ thể của từng trường, đối với mỗi môn thi, Trưởng ban Đề thi chỉ định một số cán bộ giảng dạy có tinh thần trách nhiệm cao và trình độ chuyên môn giỏi tham gia giới thiệu đề thi.
Người giới thiệu đề thi phải căn cứ vào yêu cầu, nội dung đề thi tuyển sinh, đối tượng và trình độ thí sinh dự thi và những yêu cầu cụ thể khác của Trưởng ban Đề thi để biên soạn và giới thiệu đề thi kèm theo đáp án và thang điểm chi tiết.
Trong thời hạn quy định của Trưởng ban đề thi, người giới thiệu đề thi phải nộp bản gốc viết tay cho Trưởng ban Đề thi. Không được đánh máy, sao chép thành nhiều bản, không lưu giữ riêng và không đem nội dung đề đã giới thiệu để giảng dạy, phụ đạo hoặc luyện thi.
Bước 2:
Trên cơ sở những đề đã được giới thiệu, Trưởng môn thi có thể kiến nghị chọn nguyên hai, ba đề nào đó hoặc lựa chọn các câu hỏi từ những đề khác nhau để tổ hợp thành hai, ba đề mới. Sau đó biên soạn đáp án và thang điểm chi tiết cho từng đề rồi trình Trưởng ban Đề thi xem xét.
Trước ngày thi môn đầu tiên, tại địa điểm cách ly với môi trường bên ngoài, Trưởng ban Đề thi làm việc trực tiếp và độc lập lần luợt với từng Trưởng môn thi với sự có mặt của Uỷ viên thường trực Ban Đề thi.
Trưởng ban Đề thi có thể thay đổi thứ tự các câu hỏi, thay câu này bằng câu khác hoặc yêu cầu Trưởng môn thi biên soạn lại. Căn cứ ý kiến của Trưởng ban Đề thi, Trưởng môn thi hoàn chỉnh lại lần cuối đề thi dự kiến kèm theo đáp án và thang điểm chi tiết, ký tên vào bản gốc và giao cho Trưởng ban Đề thi.
Trưởng ban Đề thi tự mã hoá các đề thi dự kiến theo ký hiệu I, II, III... và quyết định chọn một trong hai, ba đề dự kiến làm đề thi chính thức, các đề còn lại làm đề dự bị, đồng thời quyết định thang điểm cho từng phần của đề thi chính thức và dự bị.
Toàn bộ các đề thi do các cán bộ giảng dạy giới thiệu, đề dự kiến do Trưởng môn thi biên soạn, đề chính thức và đề dự bị, các đáp án và thang điểm cùng tất cả các tài liệu liên quan, đều là tài liệu mật do chính Trưởng ban Đề thi cất giữ theo chế độ bảo mật.
Bước 4:
Tiến hành đánh máy, in, đóng gói, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi theo quy định tại Điều 18 của Quy chế này.
Trưởng ban Đề thi chỉ chọn những người đáng tin cậy tham gia làm đề thi. Không chọn những người có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) dự thi vào trường năm đó tham gia làm đề thi. Danh sách những người tham gia làm đề được giữ bí mật cho đến khi kết thúc các buổi thi.
Nơi làm đề thi an toàn, kín đáo, biệt lập, xa hàng rào và được bảo vệ nghiêm mật suốt thời gian làm đề thi. Các cửa sổ phải được niêm phong kỹ. Có đầy đủ phương tiện bảo mật, phòng cháy, chữa cháy. Người làm việc trong khu vực có phù hiệu riêng và chỉ hoạt động trong phạm vi cho phép.
Tất cả mọi người tham gia làm đề thi từ khi tiếp xúc với đề thi đều phải hoàn toàn cách ly với môi trường bên ngoài. Cán bộ tham gia biên soạn đề thi chỉ được giải phóng khỏi công việc, khi đề thi do mình phụ trách đã mở tại phòng thi được 60 phút. Riêng Trưởng môn thi phải thường trực tại HĐTS trong suốt thời gian thí sinh làm bài thi của môn thi do mình phụ trách để giải đáp và xử lý các vấn đề liên quan đến đề thi.
Việc đánh máy, in, đóng gói, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trưởng ban Đề thi.
1. Đánh máy và in đề thi.
+ Trưởng môn thi trực tiếp đánh máy hoặc trực tiếp kiểm tra đề sau khi người khác đánh máy. Trưởng ban Đề thi chỉ định những cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao đánh máy đề thi và in đề thi.
+ Trước khi đánh máy hoặc in đề, phải thu dọn mọi giấy tờ, tài liệu cũ ở khu vực đánh máy và in đề.
+ Đề thi phải được đánh máy và in rõ ràng, chính xác, sạch, đẹp, đúng quy cách, đúng số bản in ấn định, không thừa thiếu, không dùng giấy tờ in hỏng của các đề thi khác. Các giấy tờ đánh máy hoặc in hỏng và bản gốc đề thi phải nộp cho Trưởng ban Đề thi quản lý, không được cho cho vào sọt rác. Không đổ rác trong thời gian làm đề.
+ Trong quá trình in, sao chụp, Trưởng môn thi phải kiểm tra số lượng, chất lượng bản in, loại bỏ tờ in mờ, in hỏng, xấu, bẩn, rách hay tờ trắng. Khi phải in đề thi ở cả hai mặt giấy, phải in đúng đầu đuôi và kiểm tra mặt sau, đề phòng in sót.
+ Đánh máy hoặc in, sao chụp xong dứt điểm từng đề. Chỉ tiếp tục đánh máy hoặc in đề khác sau khi đã kiểm tra khu vực đánh máy và in, thu dọn và giao cho Trưởng ban Đề thi mọi giấy tờ liên quan đến đề vừa làm trước đó.
+ Tuyệt đối không đánh máy hoặc in đáp án đề thi trước khi thi.
+ Trưởng môn thi và Trưởng ban Đề thi nhất thiết phải kiểm tra kỹ bản đánh máy rồi cả 2 người cùng ký duyệt trước khi in đề.
2. Đóng gói đề thi.
+ Uỷ viên thường trực Ban đề thi nắm vững số lượng thí sinh của từng khối, từng ngành, địa điểm thi của trường để phân phối đề thi, ghi tên địa điểm thi, phòng thi và số lượng đề thi vào từng phong bì, sau đó giao cho người phụ trách đóng gói, hoặc tự mình trực tiếp cho đề thi vào từng phong bì.
+ Người đóng gói đề thi phải làm đúng quy cách thủ tục, bảo đảm đúng số lượng đề thi, đúng môn thi ghi ở phong bì đề thi, đủ số lượng đề thi cho từng điểm thi, từng phòng thi, không có tờ trắng, tờ hỏng.
+ Phong bì đề thi được dán chặt, không bong mép, có đủ nhãn và dấu niêm phong (nửa dấu in vào nhãn, nửa dấu in vào phong bì).
+ Sau khi đóng gói xong từng đề thi, Uỷ viên thường trực Ban Đề thi kiểm tra đủ số lượng phong bì đã đóng gói và bàn giao cho Trưởng ban Đề thi quản lý, kể cả các bản in thừa, in hỏng, mờ, xấu, rách, bẩn đã bị loại ra.
3. Bảo quản và phân phối đề thi.
+ Đề thi phải bảo quản trong hòm, tủ, hay két sắt, có khoá chắc chắn, niêm phong kỹ và có người bảo vệ thường xuyên. Chìa khoá hòm, tủ hay két sắt do Trưởng ban Đề thi giữ.
+ Lịch phân phối đề thi từng buổi cho các điểm thi do Trưởng ban Đề thi quy định. Khi giao nhận đề thi phải có biên bản. Khi đưa đề thi đến các điểm thi phải có công an bảo vệ, nếu điểm thi ở xa phải đi bằng ô tô riêng.
4. Sử dụng đề thi chính thức và dự bị.
a) Đề thi chính thức chỉ được mở để sử dụng tại phòng thi đúng ngày, giờ và môn thi do Chủ tịch HĐTS quy định thống nhất cho mỗi kỳ thi và được dùng để đối chiếu, kiểm tra đề đã phát cho thí sinh hoặc đã chép lên bảng.
b) Đề thi dự bị chỉ sử dụng trong trường hợp đề thi chính thức bị lộ, khi có đủ bằng chứng xác thực và có kết luận chính thức của HĐTS trường và Sở Công an địa phương theo quy định tại Điều 23 của Quy chế này.
Các trường ĐH, CĐ, THCN nhất thiết phải sử dụng công nghệ thông tin trong các khâu sau đây:
1. Đánh số báo danh và lập danh sách thí sinh dự thi.
2. Lập danh sách phòng thi căn cứ tên thí sinh theo vần A, B, C... theo từng khối, ngành. Tuyệt đối không được xếp phòng thi theo cách gom học sinh từng địa phương vào các số thự tự gần nhau.
3. In giấy báo thi cho từng thí sinh (có thể kết hợp dùng làm thẻ dự thi).
4. Lập các biểu mẫu thống kê về số lượng thí sinh dự thi theo khối ngành, theo tỉnh và đối tượng rồi gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 30/5 hằng năm.
5. Lập biểu mẫu chấm thi bao gồm bản hướng dẫn dồn túi, bản đối chiếu số báo danh - phách và biên bản chấm thi.
a) Bản hướng dẫn dồn túi là tài liệu để Ban Thư ký HĐTS trường dồn các bài thi vào các túi chấm thi. Vì vậy mỗi môn thi, mỗi ngành được dồn túi theo các quy luật khác nhau và phải tuân theo nguyên tắc sau:
- Trong mỗi môn thi, khối ngành, quy luật dồn túi phải do máy tính tự động thực hiện. Mỗi một túi chấm thi không được dồn quá 50 bài. Trong mỗi túi không dồn trọn vẹn bài của một phòng thi.
- Sau khi in xong bản hướng dẫn dồn túi, mỗi môn, ngành cho vào một phong bì ghi rõ tên môn thi ở bên ngoài và niêm phong bảo mật.
b) Bản đối chiếu số báo danh - phách là tài liệu để Ban Thư ký HĐTS trường đánh số phách vào bài thi của thí sinh.
Căn cứ vào bản hướng dẫn dồn túi, tiến hành đánh số phách của từng môn và từng ngành theo thứ tự tăng dần qua từng túi, số phách phải đánh bắt đầu từ một số ngẫu nhiên và do máy tính thực hiện tự động. Số phách phải đơn trị trong từng môn, giữa các môn, ngành không được trùng nhau về quy luật.
Khi in xong, các bản đối chiếu số báo danh - phách của mỗi môn thi, ngành phải được đưa riêng vào từng phong bì, ghi rõ tên môn thi ở bên ngoài và niêm phong bảo mật.
c) Biên bản chấm thi (biểu số 4) là tài liệu để cán bộ chấm thi ghi kết quả chấm thi từng bài sau khi đã chấm hai lần độc lập.
Điểm phải ghi cả phần chữ và số, nếu có sửa chữa Ban Chấm thi phải ký tên đóng dấu.
Bản hướng dẫn dồn túi, bản đối chiếu số báo danh - phách, biên bản chấm thi và tất cả các tài liệu, phương tiện lưu giữ thông tin có liên quan như đĩa mềm, chương trình v.v... là những tài liệu tuyệt mật do Chủ tịch HĐTS trường cất giữ theo chế độ bảo mật.
6. Sau khi có kết quả chấm thi, lập thống kê điểm theo đối tượng, khu vực, ngành học để làm điểm xét tuyển.
Nghiêm cấm việc xem điểm trước khi công bố điểm xét tuyển.
7. In sổ điểm sau khi công bố điểm xét tuyển, giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo một bản và mỗi Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, thành phố có thí sinh dự thi một bản.
Trước và sau khi in sổ điểm, phiếu báo điểm, nhất thiết phải tiến hành kiểm tra đối chiếu xem điểm đã nhập vào máy, đã in trên sổ điểm và phiếu báo điểm có khớp với điểm đã ghi ở biên bản chấm thi (biểu số 4) hay không. Nếu có sai sót phải sửa ngay.
Người thực hiện khâu kiểm tra này phải ký biên bản xác nhận và chịu trách nhiệm cá nhân về công tác kiểm tra.
8. In phiếu báo điểm cho từng thí sinh. Chỉ có phiếu báo điểm in bằng máy tính mới có giá trị. Phiếu báo điểm chỉ in một lần, trường hợp bị mất không in cấp lại mà chỉ cấp giấy xác nhận điểm thi. Khi thí sinh có đơn xin xác nhận điểm thi, Trưởng ban Thư ký tự tra cứu sổ điểm và làm giấy xác nhận, trình Chủ tịch HĐTS ký. Thí sinh phải ký nhận vào sổ lưu.
1. Trước ngày thi, Ban Thư ký hoàn thành danh sách thí sinh của từng phòng thi để dán trước mỗi phòng thi. Mỗi phòng thi có một bản danh sách bằng ảnh của thí sinh để trao cho cán bộ coi thi đối chiếu kiểm tra trong các buổi thi.
2. Theo đúng lịch thi đã công bố, trong ngày đầu tiên của kỳ thi, Ban Thư ký phân công cán bộ phổ biến quy chế thi, hướng dẫn thí sinh đến phòng thi, thu lệ phí dự thi của thí sinh, bổ sung, điều chỉnh những sai sót về họ tên, đối tượng, hộ khẩu thường trú, môn thi, khối thi, mã ngành của thí sinh. Những bổ sung và điều chỉnh này, cán bộ tuyển sinh của trường phải ghi xác nhận vào tờ phiếu ĐKDT số 2 và cập nhật ngay vào máy tính.
1. Cán bộ coi thi (CBCT).
CBCT không được làm nhiệm vụ tại địa điểm thi nơi có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị em ruột) dự thi; không được giúp đỡ thí sinh làm bài dưới bất kỳ hình thức nào; không được làm việc riêng, không được hút thuốc trong khi coi thi, phải có mặt đúng giờ và thường xuyên tại phòng thi để làm các nhiệm vụ theo trình tự sau đây:
- Ghi số báo danh vào chỗ ngồi của thí sinh. Sau mỗi buổi thi thay đổi vị trí của thí sinh.
- Khi có hiệu lệnh, một CBCT gọi tên thí sinh vào phòng thi, còn một người kiểm tra các thứ thí sinh mang vào phòng thi, hướng dẫn thí sinh ngồi đúng chỗ quy định. Tuyệt đối không để thí sinh mang vào phòng thi mội tài liệu và vật dụng đã bị cấm theo quy định tại Điều 22 của Quy chế này. Sử dụng thẻ dự thi và danh sách bằng ảnh để đối chiếu, nhận diện thí sinh.
- Ký tên vào giấy thi và giấy nháp thí sinh. Hướng dẫn và kiểm tra thí sinh gấp giấy thi đúng quy cách, ghi số báo danh và điền đủ các mục cần thiết vào giấy thi trước khi làm bài.
- Khi có hiệu lệnh, một CBCT đi nhận đề, còn một người nhắc nhở thí sinh những điều cần thiết về kỷ luật phòng thi.
- Khi có hiệu lệnh, CBCT nhận đề mang vào phòng thi, giơ cao phong bì đề thi để thí sinh thấy rõ cả mặt trước và mặt sau còn nguyên nhãn niêm phong.
- Bóc phong bì đựng đề thi và phát đề thi đã in sẵn cho từng thí sinh (trước khi phát đề cần kiểm tra số lượng đề thi, nếu thừa, thiếu hoặc lẫn đề khác, lẫn giấy trắng cần báo ngay cho Uỷ viên phụ trách điểm thi xử lý).
- Nếu phải chép đề thì một CBCT vừa đọc vừa chép đề lên bảng, còn một người bao quát chung. Sau đó người thứ hai vừa đọc vừa kiểm tra lại, người kia bao quát chung. Chỉ đọc vừa đủ nghe, chép rõ ràng, chính xác và đúng nguyên văn đề thi, tuyệt đối không tóm tắt hoặc thêm, bớt. Sau đó trao đề thi cho thí sinh truyền tay nhau tự kiểm tra. Uỷ viên phụ trách điểm thi phải tới từng phòng thi kiểm tra lại việc chép đề.
- Khi thí sinh bắt đầu làm bài, một CBCT đối chiếu ảnh trong thẻ dự thi với ảnh trong danh sách để nhận diện thí sinh, còn người kia bao quát chung. Trong giờ làm bài, một người bao quát từ đầu phòng đến cuối phòng, một người bao quát từ cuối phòng đến đầu phòng cho đến hết giờ thi. CBCT không đứng gần thí sinh khi họ làm bài.
- Khi có thí sinh hỏi điều gì, CBCT chỉ được trả lời công khai trong phạm vi quy định.
- Chỉ cho thí sinh được rời phòng thi sớm nhất là sau 2/3 thời gian làm bài. Nếu có thí sinh bị đau ốm bất thường hoặc có nhu cầu chính đáng nhất thiết phải tạm thời ra khỏi phòng thi thì CBCT phải báo cho cán bộ giám sát phòng thi để kịp thời báo cáo cho Uỷ viên phụ trách điểm thi giải quyết.
- Nếu có thí sinh vi phạm kỷ luật thì CBCT phải lập biên bản xử lý theo đúng quy định. Nếu có tình huống bất thường phải báo cáo ngay Uỷ viên phụ trách điểm thi hoặc Trưởng ban Coi thi giải quyết.
- 15 phút trước khi hết giờ làm bài, thông báo cho thí sinh biết.
- Khi có hiệu lệnh kết thúc buổi thi phải yêu cầu thí sinh ngừng làm bài và thu bài của tất cả thí sinh, kể cả thí sinh đã bị thi hành kỷ luật. Một CBCT vừa bao quát phòng thi vừa gọi tên từng thí sinh lên nộp bài, còn người kia nhận bài thi của thí sinh. Khi nhận bài phải đếm đủ số tờ giấy thi của thí sinh đã nộp, yêu cầu thí sinh tự ghi đúng số tờ và ký tên vào bản danh sách theo dõi thí sinh. Khi nào thu xong toàn bộ bài thi mới cho phép thí sinh rời phòng thi.
- Các CBCT kiểm tra sắp xếp bài thi theo thứ tự số báo danh. Các biên bản xử lý kỷ luật (nếu có) phải kèm theo bài thi của thí sinh. Sau đó cả hai CBCT đến bàn giao bài thi cho Uỷ viên Ban Thư ký HĐTS trường ngay sau mỗi buổi thi. Mỗi túi bài thi phải được kiểm tra công khai và đối chiếu số bài và số tờ của từng bài kèm theo bản theo dõi thí sinh và các biên bản xử lý kỷ luật cùng tang vật (nếu có).
- Sau khi bàn giao xong, từng túi đựng bài thi được các Uỷ viên Ban Thư ký niêm phong tại chỗ. Mỗi túi bài thi dán 3 nhãn niêm phong vào chính giữa 3 mép dán. Trên mỗi nhãn phải đóng dấu niêm phong vào bên phải và bên trái của nhãn (một nửa dấu in trên nhãn, một nửa dấu in trên túi bài thi). Uỷ viên Ban Thư ký nhận bàn giao và hai CBCT ghi rõ họ tên và ký trên nhãn niêm phong.
Tuyệt đối không được để nhầm lẫn, mất mát bài thi.
- Sau giờ thi đầu tiên của mỗi môn, một CBCT báo cáo tình hình phòng thi cho Uỷ viên phụ trách điểm thi.
- Sau buổi thi, bàn giao thẻ dự thi của thí sinh cho Uỷ viên phụ trách điểm thi. Hết môn thi cuối cùng, CBCT cho thẻ dự thi của thí sinh vào một túi riêng và bàn giao cho Uỷ viên Ban Thư ký, không để lẫn thẻ vào bài thi.
- CBCT phải bảo vệ đề thi trong khi thi, không để lọt đề thi ra ngoài phòng thi. CBCT và những người làm nhiệm vụ phục vụ kỳ thi không được thảo luận, sao chép, gíải đề, mang đề ra ngoài hoặc giải thích đề thi cho thí sinh.
2. Cán bộ giám sát phòng thi.
Cán bộ giám sát phòng thi thay mặt Uỷ viên phụ trách điểm thi thường xuyên giám sát việc thực hiện Quy chế Tuyển sinh của trật tự viên, cán bộ coi thi và thí sinh; kiểm tra và nhắc nhở cán bộ coi thi triệt để thu giữ các tài liệu và phương tiện kỹ thuật do thí sinh mang trái phép vào phòng thi; lập biên bản xử lý kỷ luật đối với cán bộ coi thi và thí sinh vi phạm quy chế.
3. Trật tự viên, công an (và kiểm soát quân sự nếu có).
Người được phân công bảo vệ vòng nào có trách nhiệm giữ gìn trật tự an ninh tại vòng đó, không được hoạt động sang vòng khác.
- Không để bất kỳ người nào không có trách nhiệm vào khu vực thi và đến gần phòng thi. Không bỏ vị trí, không tiếp khách trong khi làm nhiệm vụ. Không được đi vào phòng thi, không trao đổi liên hệ với thí sinh. Không có trách nhiệm đối với những vấn đề thuộc nội dung, tổ chức và chỉ đạo thi.
- Kịp thời báo cáo Uỷ viên phụ trách điểm thi về các tình huống xảy ra trong lúc thi để kịp thời xử lý.
- Riêng cán bộ, chiến sĩ công an được cử đến hỗ trợ các HĐTS còn có nhiệm vụ áp tải, bảo vệ an toàn đề thi và bài thi.
4. Cán bộ y tế:
- Có mặt thường xuyên trong suốt kỳ thi tại địa điểm do HĐTS quy định để xử lý các trường hợp thí sinh đau ốm.
- Khi Uỷ viên phụ trách điểm thi thông báo có thí sinh đau ốm bất thường trong lúc đang thi, cán bộ y tế phải đến ngay để kịp thời điều trị hoặc cho đi bệnh viện cấp cứu, nếu cần thiết.
- Nghiêm cấm việc lợi dụng khám chữa bệnh tại chỗ để có những hành động vi phạm Quy chế.
1. Trước khi thi một ngày (trừ các trường năng khiếu có quy định riêng) thí sinh phải có mặt tại trường đã đăng ký dự thi để làm thủ tục dự thi:
- Xuất trình giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời (đối với những thí sinh và dự kỳ thi tốt nghiệp) hoặc bản sao bằng tốt nghiệp (đối với những thí sinh đã tốt nghiệp những năm học trước).
- Nộp lệ phí dự thi.
- Nhận thẻ dự thi (nếu phiếu báo dự thi không kiêm thẻ dự thi).
- Nhận phòng thi và nghe phổ biến quy chế dự thi.
Nếu thấy có những sai sót hoặc nhầm lẫn về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, đối tượng, khu vực ưu tiên, khối thi, ngành thi,... thí sinh phải báo cáo HĐTS để điều chỉnh ngay. Trường hợp bị mất thẻ dự thi hoặc các giấy tờ cần thiết khác, thí sinh phải báo cáo và làm cam đoan để Uỷ viên phụ trách điểm thi xem xét theo uỷ nhiệm của Trưởng ban Coi thi.
2. Thí sinh phải có mặt tại địa điểm thi đúng ngày, giờ quy định. Thí sinh đến chậm quá 15 phút sau khi đã bóc đề thi không được dự thi. Vắng mặt một buổi thi, không được thi tiếp các buổi sau.
3. Khi vào phòng thi, thí sinh phải tuân thủ các quy định sau đây:
- Trước buổi thi đầu tiên, nộp thẻ dự thi cho cán bộ coi thi.
- Xuất trình giấy chứng minh thư khi CBCT yêu cầu.
- Chỉ được mang vào phòng thi bút viết, bút chì, com pa, tẩy, thước kẻ, thước tính, máy tính điện tử cá nhân không có phím chữ cái, giấy thấm chưa dùng, giấy nháp (nếu trường không bán giấy nháp). Giấy nháp phải có chữ ký của CBCT mời được quyền sử dụng.
- Không được mang vào phòng thi giấy than, bút xóa, các tài liệu, vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, bia, rượu, phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm và các vật dụng khác. Không được hút thuốc trong phòng thi.
- Trước khi làm bài phải ghi đầy đủ số báo danh (cả phần chữ và phần số) vào giấy thi và nhất thiết phải yêu cầu cả hai CBCT ký tên vào giấy thi.
- Bài làm phải viết rõ ràng, sạch sẽ, không nhàu nát, không đánh dấu hoặc làm ký hiệu riêng. Nghiêm cấm làm bài bằng hai thứ mực, mực đỏ, bút chì (trừ hình tròn vẽ bằng com pa được dùng bút chì). Các phần viết hỏng phải dùng thước gạch chéo.
Phải bảo vệ bài làm của mình và nghiêm cấm mọi hành vi gian lận.
- Nếu cần hỏi CBCT điều gì phải hỏi công khai. Phải giữ gìn trật tự, im lặng trong phòng thi. Trường hợp ốm đau bất thường phải báo cáo CBCT xử lý theo điều 21 của Quy chế này.
Khi hết giờ thi phải ngừng làm bài và nộp bài cho CBCT. Không làm được bài, thí sinh cũng phải nộp giấy thi. Khi nộp bài, thí sinh phải tự ghi rõ số tờ giấy thi đã nộp và ký tên xác nhận vào bản danh sách theo dõi thí sinh. Không được nộp giấy nháp thay giấy thi.
1. Khi ra đề, in đề hoặc chép đề thi lên bảng, có thể có những sai sót.
Khi phát hiện có sai sót, cán bộ coi thi phải cùng với Uỷ viên phụ trách điểm thi làm biên bản và báo cáo kịp thời với Trưởng ban đề thi và Chủ tịch HĐTS trường xem xét và ra quyết định xử lý.
Tuỳ theo tính chất và mức độ nặng hay nhẹ, tuỳ theo sai sót xảy ra ở một câu hay nhiều câu ở đề thi, ở một phòng thi, nhiều phòng thi, hay tất cả các phòng thi, tuỳ theo thời gian phát hiện sớm hay muộn, Chủ tịch HĐTS trường phải cân nhắc và quyết định xử lý một cách nghiêm túc và công bằng theo một trong các phương án sau đây:
- Ra lệnh sửa chữa kịp thời các sai sót và thông báo cho thí sinh biết nhưng không kéo dài thời gian làm bài.
- Ra lệnh sửa chữa, thông báo cho thí sinh biết và kéo dài thích đáng thời gian làm bài cho thí sinh.
- Không sửa chữa, cứ để thí sinh làm bài, nhưng phải xử lý khi chấm thi (có thể điều chỉnh đáp án và thang điểm cho thích hợp).
- Tổ chức thi lại.
2. Trong trường hợp bị lộ đề thi, Chủ tịch HĐTS trường quyết định đình chỉ môn thi đã bị lộ, thông báo cho thí sinh biết. Các buổi thi các môn khác vẫn tiếp tục bình thường theo lịch. Môn bị lộ đề sẽ được thi ngay sau buổi thi cuối cùng. Tuỳ theo tình hình đề thi chính thức của 1 môn, 2 môn hay tất cả các môn bị lộ mà Chủ tịch HĐTS trường quyết định sử dụng đề thi dự trữ của 1 môn, 2 môn hay tất cả các môn. Sau đó báo cáo ngay với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Sau khi thi, Chủ tịch HĐTS trường làm việc với Sở Công an địa phương để kiểm tra, xác minh, kết luận nguyên nhân lộ đề, người làm lộ đề và những người có liên quan, truy cứu trách nhiệm và báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khu vực chấm thi bao gồm nơi chấm thi và nơi bảo quản bài thi. Nơi chấm thi và nơi bảo quản bài thi cần được bố trí gần nhau, liên tục có người bảo vệ suốt ngày đêm, có đủ phương tiện phòng cháy, chữa cháy, bảo mật và bảo quản bài thi.
Cửa được khoá bằng 2 khoá khác nhau, Trưởng môn chấm thi giữ chìa của một khóa, chìa của một khóa khác giao cho ủy viên Ban Thư ký giữ. Cửa chỉ được mở khi có mặt cả hai người giữ chìa khóa.
Tuyệt đối không được mang bất cứ tài liệu, giấy tờ riêng nào khi vào và ra khỏi khu vực chấm thi.
Trưởng môn chấm thi tập trung toàn bộ cán bộ chấm thi tiến hành chấm thi theo quy trình chấm hai lần độc lập. Nghiêm cấm sử dụng các loại bút xoá khi chấm thi.
a. Lần chấm thứ nhất:
Sau khi đánh số phách, rọc phách và ghép vào mỗi bài thi một phiếu chấm, Ban Thư ký giao túi bài thi cho Trưởng môn chấm thi để bốc thăm nguyên túi cho cán bộ chấm. Không xé lẻ túi bài thi giao riêng cho từng người.
Trước khi chấm, cán bộ chấm thi kiểm tra từng bài xem có đủ số tờ, đủ số phách không và gạch chéo tất cả những phần giấy trắng còn thừa do thí sinh không viết hết. Không chấm những bài làm trên giấy khác với giấy dùng cho kỳ thi đó, bài làm trên giấy nháp, bài có hai thứ chữ khác nhau hoặc có viết vẽ bậy, bài có đánh dấu, bài viết hai thứ mực.
Khi chấm lần thứ nhất, ngoài những nét gạch chéo trên các phần giấy còn thừa, cán bộ chấm thi tuyệt đối không ghi gì vào bài làm của thí sinh. Điểm thành phần, điểm toàn bài và các nhận xét (nếu có) được ghi vào phiếu chấm của từng bài. Trên phiếu chấm ghi rõ họ, tên và chữ ký của cán bộ chấm thi.
Chấm xong túi nào, cán bộ chấm thi giao túi ấy cho Trưởng môn chấm thi để bàn giao cho Ban Thư ký.
b. Lần chấm thứ hai:
Sau khi chấm lần thứ nhất, Ban Thư ký rút các phiếu chấm thi ra rồi giao túi bài thi cho Trưởng môn chấm thi bốc thăm cho người chấm lần thứ hai.
Người chấm thi lần thứ hai chấm trực tiếp vào bài làm của thí sinh. Ghi điểm thành phần, điểm toàn bài và ký tên vào bài làm của thí sinh.
Chấm xong túi nào, cán bộ chấm thi giao túi ấy cho Trưởng môn chấm thi để bàn giao cho Ban Thư ký.
1. Thang điểm.
- Thang điểm chấm thi là thang điểm 10. Các ý nhỏ được chấm điểm lẻ đến 0,25 điểm. Nếu điểm toàn bài có điểm lẻ là 0,25 thì quy tròn thành 0,5; có điểm lẻ là 0,75 thì quy tròn thành 1,0.
Riêng các môn năng khiếu có thể theo thang điểm khác, nhưng điểm toàn bài phải quy về thang điểm 10 bậc rồi sau đó nhân với hệ số quy định. Cán bộ chấm thi chỉ chẩm theo thang điểm 10. Việc tính hệ số do máy tính thực hiện.
- Cán bộ chấm thi chấm bài thi đúng theo thang điểm và đáp án chính thức đã được Trưởng ban Chấm thi phê duyệt. Những bài làm đúng, có cách giải sáng tạo, độc đáo khác với đáp án có thể được thưởng điểm. Mức điểm thưởng do cán bộ chấm thi đề xuất và do Trưởng môn chấm thi trình Trưởng ban Chấm thi quyết định, nhưng điểm toàn bài không được vượt quá 11 điểm.
2. Xử lý kết quả chấm và làm biên bản chấm thi.
Ban Thư ký so sánh kết quả hai lần chấm và xử lý như sau:
a. Nếu kết quả hai lần chấm giống nhau thì giao túi bài thi cho hai cán bộ chấm thi ghi điểm vào bài thi và vào biểu số 4 rồi cùng ký tên xác nhận vào bài thi và biểu số 4.
Trường hợp điểm toàn bài giống nhau nhưng điểm thành phần lệch nhau thì hai cán bộ chấm thi cùng kiểm tra và thống nhất lại điểm đúng theo đáp án quy định.
b. Nếu kết quả hai lần chấm lệch nhau 0,5 điểm thi rút bài thi đó cùng phiếu chấm lần thứ nhất rối giao cho Trưởng môn chấm thi quyết định điểm cuối cùng. Trưởng môn chấm thi ghi điểm vào bài thi và vào biểu 4 và ký tên xác nhận vào bài thi và biểu 4.
c. Nếu kết quả hai lần chấm lệch nhau từ 1 điểm trở lên thì rút bài thi đó cùng phiếu chấm lần thứ nhất rồi giao cho Trưởng môn chấm thi tổ chức chấm lần thứ ba trực tiếp vào bài làm của thí sinh bằng mực mầu khác.
Trong trường hợp này, nếu kết quả của hai trong số ba lần chấm giống nhau thì lấy điểm giống nhau làm điểm chính thức. Nếu kết quả của hai trong ba lần chấm lệch nhau thì Trưởng môn chấm thi lấy điểm trung bình cộng của ba lần chấm làm điểm cuối cùng. Trưởng môn chấm thi ghi điểm vào bài thi và vào biểu 4 và ký tên xác nhận vào bài thi và biểu 4.
- Những bài cộng điểm sai phải sửa lại ngay.
- Các trường nhờ trường khác chấm giúp hoặc tổ chức chấm chéo thì tự thoả thuận về kế hoạch và chi phí nhưng vẫn phải thực hiện đúng những quy định về chấm thi của Quy chế này.
Trước khi công bố điểm xét tuyển, tất cả các tài liệu liên quan đến điểm thi đều phải được niêm phong và do Trưởng ban Thư ký trực tiếp bảo quản.
Nghiêm cấm việc hồi phách lên điểm hoặc làm lộ điểm thi trước khi công bố điểm xét tuyển.
1. Thời hạn chấm lại: Sau khi công bố điểm thi, HĐTS chỉ nhận đơn khiếu nại về điểm thi của thí sinh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố điểm và phải trả lời đương sự chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận đơn. Thí sinh nộp đơn xin chấm lại phải nộp lệ phí theo quy định của trường. Nếu sau khi chấm lại phải sửa điểm theo quy chế thì HĐTS hoàn lại khoản lệ phí này cho thí sinh.
2. Tổ chức chấm lại:
a. Việc tổ chức chấm lại tiến hành theo từng môn thi dưới sự điều hành trực tiếp của Trưởng ban Chấm lại. Địa điểm làm việc của Ban Chấm lại do Chủ tịch HĐTS quy định và cũng được bảo vệ như khu vực chấm thi.
b. Trước khi bàn giao bài thi cho Ban Chấm lại, Ban Thư ký HĐTS tiến hành các việc sau đây:
- Tra cứu biểu số 3 để từ số báo danh, tìm ra số phách bài thi. Rút bài thi, đối chiếu với danh sách theo dõi thí sinh để kiểm tra đối chiếu số tờ giấy thi.
- Kiểm tra sơ bộ tình trạng bài thi, đối chiếu những phần thí sinh xin chấm lại trong bài và trong đơn. Cộng lại các điểm thành phần, đối chiếu với điểm đã công bố để phát hiện xem có sai sót hoặc xô phách không? Nếu phát hiện có sự bất thường thì lập biên bản báo cáo Chủ tịch HĐTS quyết định.
- Tập hợp các bài của một môn vào một túi hoặc nhiều túi, ghi rõ số bài và số tờ của từng bài hiện có trong túi và bàn giao cho Ban Chấm lại. Việc giao nhận bài giữa Ban Thư ký và Ban Chấm lại cần theo đúng các thủ tục quy định như khi chấm đợt đầu.
- Trong khi tiến hành các công việc liên quan đến việc chấm lại phải có ít nhất từ hai người trở lên. Tuyệt đối giữ bí mật về quan hệ giữa số báo danh và số phách, địa danh bài thi và không được ghép đầu phách.
Việc chấm lại mỗi bài thi do 2 cán bộ chấm thi thực hiện riêng biệt trực tiếp trên bài làm của thí sinh bằng mực có mầu khác.
+ Nếu kết quả hai lần giống nhau thì giao bài thi cho Trưởng ban Chấm lại ký xác nhận điểm chính thức.
+ Nếu kết quả hai lần chấm lại có sự chênh lệch thì rút bài thi giao cho Trưởng ban Chấm lại tổ chức chấm lại lần thứ ba trực tiếp trên bài làm của thí sinh.
Nếu kết quả của hai lần trong ba lần giống nhau thì lấy điểm giống nhau làm điểm chính thức. Nếu kết quả của cả ba lần chấm lệch nhau thì Trưởng ban Chấm lại lấy điểm trung bình cộng của 3 lần chấm làm điểm chính thức rồi ký tên xác nhận.
Khi chấm lại, nếu thấy điểm chấm đợt đầu và điểm chấm lại của toàn bài có sự chênh lệch từ 1 điểm trở lên đối với các môn Toán, Lý, Hoá, Sinh vật, Ngoại ngữ, từ 2 điểm trở lên đối với các môn Văn, Sử, Địa và một số môn Năng khiếu và trong trường hợp điểm chênh lệch tuy thấp hơn nhưng thí sinh sau khi chấm lại từ diện không trúng tuyển thành trúng tuyển (và ngược lại) thì Hội đồng tuyển sinh trường tổ chức đối thoại trực tiếp giữa cán bộ chấm thi đợt đầu với cán bộ chấm lại. Nếu HĐTS trường khẳng định điểm chấm đợt đầu sai tới mức nói trên thì HĐTS trường công bố công khai danh sách cán bộ chấm thi đợt đầu để rút kinh nghiệm hoặc nếu thấy có biểu hiện tiêu cực thì xử lý theo Điều 35 của Quy chế này.
Điểm chấm lại sau khi đối thoại giữa hai cặp chấm và được Trưởng ban Chấm lại trình Chủ tịch HĐTS ký duyệt là điểm chính thức của bài thi.
3. Điều chỉnh điểm bài thi.
Sau khi công bố điểm thi nếu phát hiện có sự nhầm lẫn hay sai sót về điểm bài thi, Ban Chấm lại phải xem xét và điều chỉnh lại điểm bài thi (lên hoặc xuống) trong các trường hợp sau:
a. Cộng hoặc ghi điểm vào biên bản chấm thi không chính xác.
b. Thất lạc bài thi nay tìm thấy hoặc thiếu bài thi do lỗi của HĐTS trường nay đã được thi bổ sung và chấm xong.
Điểm được điều chỉnh do Trưởng ban Chấm lại trình Chủ tịch HĐTS quyết định, sau đó báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo (hoặc các Sở Giáo dục - Đào tạo đối với các trường THCN địa phương) và thông báo cho các Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, thành phố và thí sinh.
Sau khi nhận được báo cáo kết quả chấm lại của HĐTS trường, nếu thấy cần thiết, Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Hội đồng Thẩm tra kết quả chấm lại.
Đối với các trường ĐH, CĐ: Hội đồng Thẩm tra của Bộ do Vụ trưởng Vụ Đại học làm Chủ tịch, Phó Vụ trưởng Vụ Đại học giúp Vụ trưởng theo dõi công tác tuyển sinh làm Phó Chủ tịch và một số thành viên là những cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao không công tác tại trường có bài thi cần thẩm tra.
Đối với các trường THCN, Hội đồng Thẩm tra của Bộ do Vụ trưởng Vụ Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề làm Chủ tịch, Phó Vụ trưởng Vụ THCN và DN giúp Vụ trưởng theo dõi công tác tuyển sinh làm Phó Chủ tịch và một số thành viên là cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi không công tác tại trường có bài thi cần thẩm tra.
Hội đồng Thẩm tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo có thẩm quyền quyết định cuối cùng về điểm, chính thức của bài thi sau khi đã tham khảo ý kiến của HĐTS trường.
1. Khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực tuyển sinh.
a) Đối với các trường thành viên của Đại học Quốc gia và các trường không hạn chế khu vực tuyển sinh, điểm chênh lệch giữa hai đối tượng hoặc hai khu vực ưu tiên kế tiếp nhau không quá 2 điểm.
b) Đối với các trường khác, trong đó có các trường có hạn chế khu vực tuyển sinh, điểm chênh lệch giữa hai đối tượng hoặc hai khu vực ưu tiên kế tiếp nhau không quá 3 điểm.
c) Đối với các trường CĐ, THCN hoặc các khoá đào tạo theo địa chỉ sử dụng có thể định điểm xét tuyển theo tỉnh, huyện với mức chênh lệch điểm giữa các huyện, tỉnh lớn hơn mức quy định tại mục 1b Điều 30 của Quy chế này để tuyển đủ chỉ tiêu đã công bố công khai trước kì thi tuyển sinh.
d) Điểm xét tuyển đối với thí sinh diện KV2-NT lấy thấp hơn so với thí sinh là học sinh phổ thông ở KV2 nhưng cao hơn đối với thí sinh là người Kinh ở miền núi.
Căn cứ chỉ tiêu tuyển sinh được giao và được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố công khai, sau khi trừ số thí sinh được tuyển thẳng (kể cả một số sinh viên dự bị của trường và sinh viên các trường dự bị đại học dân tộc Trung ương được phân về trường), căn cứ thống kê điểm do máy tính điện tử cung cấp đối với các đối tượng và khu vực dự thi, căn cứ quy định về khung điểm ưu tiên, Ban Thư ký HĐTS trường dự kiến một số phương án điểm xét tuyển theo bảng mẫu thống nhất tại Phụ lục 1 của Quy chế này, để trình Chủ tịch HĐTS trường xem xét. Những trường tuyển sinh theo ngành hoặc theo khối phải xây dựng bảng điểm xét tuyển riêng cho từng ngành, từng khối.
Trong điều kiện thí sinh được phép dự thi vào nhiều trường, các trường được phép xây dựng điểm xét tuyển thí sinh vào hệ chính quy với một tỷ lệ dự phòng thích hợp không quá 20% đối với các trường ĐH, CĐ và không quá 30% đối với các trường THCN.
Khi số thí sinh trúng tuyển đợt I đến trường không đủ, nhà trường tuyển bổ sung bằng cách hạ bớt điểm xét tuyển 0,5 điểm, 1 điểm, 1,5 điểm... đồng loạt cho tất cả các đối tượng và khu vực dự thi cho đủ số lượng thí sinh cần tuyển. Nếu việc hạ điểm xét tuyển đồng loạt cho tất cả các đối tượng và khu vực dự thi ở mức điểm nào đó dẫn tới thừa chỉ tiêu thì nhà trường có thể hạ điểm tuyển riêng cho một số đối tượng và khu vực dự thi theo thứ tự ưu tiên sau đây: khu vực 1, ưu tiên 1, khu vực 2, ưu tiên 2.
Đối với những ngành khó tuyển của những trường tuyển sinh theo ngành, sau khi đã xác định điểm xét tuyển ở mức điểm cho phép theo yêu cầu đào tạo của nhà trường mà vẫn còn thiếu chỉ tiêu, nhà trường được phép lấy thí sinh dự thi vào trường mình không trúng tuyển vào những ngành khác nhưng đạt mức điểm quy định và tự nguyện vào học ngành còn thiếu chỉ tiêu. Nếu số người đủ điểm quy định chuyển ngành lớn hơn chỉ tiêu tuyển thì lấy theo điểm thi từ cao trở xuống cho đến khi đủ chỉ tiêu theo một quy trình công khai.
2. Trường hợp thí sinh bị thiếu điểm môn thi do lỗi của HĐTS làm thất lạc bài thi thì Chủ tịch HĐTS trường có trách nhiệm thông báo cho Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, thành phố và thí sinh biết quyết định tổ chức thi bổ sung, thời gian bổ sung. Thí sinh không dự thi bổ sung thì không được xét tuyển.
Trường hợp thí sinh bị thiếu điểm môn thi do lỗi của HĐTS trường nhưng tổng số điểm các môn thi còn lại bằng hoặc cao hơn điểm xét tuyển vào trường đã dự thi đối với đối tượng và khu vực dự thi của thí sinh đó thì Chủ tịch HĐTS trường gọi thí sinh vào trường mà không cần tổ chức thi bổ sung.
1. Chủ tịch HĐTS trường trực tiếp xét duyệt danh sách thí sinh trúng tuyển vào trường và ký giấy triệu tập thí sinh tới trường. Trong giấy triệu tập cần ghi rõ những thứ cần thiết thí sinh phải đem theo khi vào học.
Các trường khai giảng năm học chậm nhất vào tháng 10. Tháng 11 hàng năm các trường lập danh sách thí sinh trúng tuyển (theo mẫu thống nhất) gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ quan chủ quản để tổng hợp theo dõi và kiểm tra khi cần thiết.
2. Trước khi được xét tuyển chính thức, thí sinh phải qua kiểm tra sức khoẻ toàn diện do các trường tổ chức. Việc khám sức khoẻ phải theo đúng hướng dẫn của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế. Giấy khám sức khoẻ do Hội đồng khám sức khoẻ của trường cấp và được bổ sung vào hồ sơ quản lý học sinh, sinh viên.
3. Thí sinh trúng tuyển vào trường cần nộp những giấy tờ sau đây:
a) Học bạ.
b) Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời (THPT, THCN và tương đương) đối với những người trúng tuyển ngay trong năm tốt nghiệp hoặc bằng tốt nghiệp đối với những người đã tốt nghiệp các năm trước. Những người mới nộp giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời, đầu năm học sau phải xuất trình bằng tốt nghiệp chính để đối chiếu kiểm tra.
c) Giấy khai sinh.
d) Các giấy tờ xác nhận đối tượng và khu vực ưu tiên (nếu có) như giấy chứng nhận con liệt sỹ, thẻ thương binh hoặc được hưởng chính sách như thương binh của bản thân hoặc của bố mẹ, hộ khẩu thường trú của thí sinh...
Các giấy tờ nói ở mục a, b, c, d các trường đều thu bản photocopy sau khi đã kiểm tra, đối chiếu với bản chính.
e) Giấy báo trúng tuyển.
g) Hồ sơ trúng tuyển (theo mẫu in sẵn của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
4. Thí sinh trúng tuyển nhiều trường ĐH hoặc nhiều ngành chỉ được phép học đồng thời ở nhiều trường ĐH hoặc nhiều ngành sau khi đã học xong năm thứ nhất theo các thủ tục quy định tại Quy chế tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 11-2-1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
5. Thí sinh đến trường nhập học chậm sau một tháng không có lý do chính đáng kể từ ngày khai giảng thì coi như đã đi học ở trường khác. Nếu đến chậm do ốm đau, tai nạn, có giấy xác nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên, các trường xem xét quyết định tiếp nhận vào học hoặc cho bảo lưu kết quả điểm thi để vào học năm sau không phải thi lại.
6. Những thí sinh bị địa phương giữ lại không cho đi học có quyền khiếu nại lên đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chỉ có Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mới có quyền ký quyết định giữ học sinh, sinh viên lại, nhưng phải giải thích cho đương sự rõ lý do và căn cứ pháp luật của quyết định đó.
Những trường hợp địa phương hoặc trường giải quyết chưa đúng mà học sinh, sinh viên có đơn khiếu nại, sau khi đã cùng các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương xem xét, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ ra quyết định cuối cùng về việc học tập của sinh viên, học sinh.
1. Sau kỳ thi tuyển sinh, các trường phải tiến hành kiểm tra kết quả thi của tất cả số thí sinh đã trúng tuyển vào trường mình về tính hợp pháp của tất cả các bài thi của từng thí sinh; việc thực hiện quy chế ở tất cả các khâu công tác chấm thi (dồn túi, đánh số phách, quy trình chấm hai lần độc lập, biên bản chấm thi, chấm điểm bài thi, quản lý điểm bài thi...), so sánh điểm trên bài thi với điểm ghi ở biên bản chấm thi, ở số điểm và ở phiếu báo điểm. Nếu phát hiện thấy các trường hợp vi phạm quy chế hoặc các trường hợp nghi vấn, cần lập biên bản kiến nghị Hiệu trưởng có biện pháp xác minh, xử lý theo Quy chế này.
2. Khi sinh viên trúng tuyển đến trường học, trường cử cán bộ thu nhận hồ sơ theo quy định tại Điều 32 Quy chế Tuyển sinh. Sau khi đối chiếu kiểm tra bản chính học bạ, văn bằng tốt nghiệp, giấy khai sinh và các giấy tờ xác nhận khu vực, đối tượng ưu tiên của thí sinh, cán bộ trường ghi vào bản sao các giấy tờ nói trên: ngày, tháng, năm, "đã đối chiếu bản chính" rồi ghi rõ họ tên và ký.
Trong quá trình thu nhận hồ sơ hoặc trong thời gian sinh viên đang theo học tại trường, nếu phát hiện hồ sơ giả mạo thì báo cáo lãnh đạo trường xử lý theo Quy chế này.
Những người có nhiều đóng góp, năng động, tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển sinh được giao, tuỳ theo thành tích cụ thể, được Chủ tịch HĐTS trường biểu dương, khen thưởng hoặc đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh, thành phố biểu dương khen thưởng.
Quỹ khen thưởng lấy trong lệ phí tuyển sinh thu được.
Người tham gia công tác tuyển sinh có hành động vi phạm quy chế (bị phát hiện trong khi làm nhiệm vụ hoặc sau kỳ thi tuyển sinh), nếu có đủ chứng cứ, tuỳ theo mức độ nặng nhẹ, sẽ bị kiểm điểm và thi hành kỷ luật thích đáng theo các hình thức sau đây:
1. Khiển trách đối với nhứng người phạm lỗi nhẹ trong khi thi hành nhiệm vụ.
2. Cảnh cáo đối với những người vi phạm một trong các lỗi sau đây:
- Để cho thí sinh tự do quay cóp, mang và sử dụng tài liệu hoặc các phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm... tại phòng thi, bị cán bộ giám sát phòng thi hoặc cán bộ thanh tra tuyển sinh phát hiện.
- Chép đề thi lên bảng có sai sót nhưng không kiểm tra phát hiện sửa chữa kịp thời.
- Làm mất bài thi trong khi thu bài, di chuyển hoặc chấm bài thi.
- Chấm thi hay cộng điểm bài thi có nhiều sai sót.
- Để lộ điểm thi của thí sinh trước khi HĐTS trường chính thức công bố điểm xét tuyển.
Ra đề thi không đúng với mức độ mà trường đã công bố đối với từng ngành hoặc ra đề thi vượt quá phạm vi chương trình THPT (hoặc THCS đối với một số trường THCN, tuyển thí sinh tốt nghiệp THCS).
3. Tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức hoặc chuyển đi làm công tác khác (nếu là cán bộ công nhân viên), buộc thôi học (nếu là sinh viên đi coi thi) đối với những người vi phạm một trong các lỗi sau đây:
- Ra đề thi sai.
- Tham gia vào các hành động tiêu cực như: đưa đề thi ra ngoài hoặc đưa bài giải từ ngoài vào phòng thi trong lúc đang thi.
- Trực tiếp giải bài rồi hướng dẫn cho cá nhân hoặc tập thể thí sinh lúc đang thi.
- Gian lận khi chấm thi. Cho điểm không đúng quy định, vượt khung hoặc hạ điểm của thí sinh.
- Làm lộ đề thi, mua, bán đề thi.
- Sửa chữa, thêm, bớt vào bài làm của thí sinh.
- Chữa điểm trên bài thi, trên biên bản chấm thi hoặc trong sổ điểm.
- Đánh tráo bài thi, số phách hoặc điểm thi của thí sinh.
- Man trá trong việc xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển (kể cả những hành vi sửa chữa học bạ, gian lận trong việc tính điểm thưởng, điểm thi tốt nghiệp THPT để đưa học sinh vào diện tuyển thẳng hoặc diện trúng tuyển).
Đối với các sai phạm khác tuỳ theo tính chất, mức độ và ảnh hưởng tác hại mà xử lý theo một trong các hình thức đã nêu ở điều này.
Trong trường hợp đề thi bị lộ thì HIệu trưởng, Chủ tịch HĐTS và các Trưởng ban hữu quan sẽ bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo đến buộc thôi việc hoặc chuyển đi làm công tác khác tuỳ hậu quả, tác hại và mức độ liên quan.
5. Những cán bộ, sinh viên, học sinh các trường ĐH, CĐ, THCN, THPT tuy không tham gia công tác tuyển sinh nhưng nếu có các hành động tiêu cực như: thi hộ, tổ chức lấy đề thi ra và đưa bài giải vào cho thí sinh, gây rối làm mất trật tự tại khu vực thi, để lộ đề thi của thí sinh trước khi HĐTS công bố chính thức điểm xét tuyển, sẽ bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo đến buộc thôi việc (nếu là cán bộ công nhân viên), đình chỉ học tập có thời hạn hoặc buộc thôi học (nếu là học sinh, sinh viên).
Những hình thức kỷ luật nói trên do Hiệu trưởng hoặc Chủ tịch HĐTS trường quyết định, nếu người vi phạm thuộc quyền quản lý của nhà trường hoặc lập biên bản đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có biện pháp xử lý, nếu người vi phạm không thuộc quyền quản lý của nhà trường. Trong những ngày thi và chấm thi, nếu các tổ thanh tra tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hiện thấy các trường hợp vi phạm quy chế rõ ràng thì lập biên bản tại chỗ và đề nghị Chủ tịch HĐTS trường xử lý ngay theo các quy định của Quy chế này.
Đối với những thí sinh vi phạm quy chế đều phải lập biên bản và tuỳ mức độ nặng nhẹ xử lý kỷ luật theo các hình thức sau đây:
1. Kiển trách: áp dụng đối với những thí sinh phạm lỗi một lần: nhìn bài của bạn, trao đổi, thảo luận với bạn (hình thức này do cán bộ coi thi quyết định). Thí sinh bị khiển trách trong khi thi môn nào sẽ bị trừ 25% số điểm thi của môn đó.
2. Cảnh cáo đối với các thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây:
- Đã bị khiển trách một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm Quy chế.
- Mang vào phòng thi vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, bia, rượu...
Trao đổi tài liệu hoặc giấy nháp cho bạn.
- Chép bài của người khác. Những bài thi đã có kết luận là giống nhau thì xử lý như nhau. Nếu người bị xử lý có đủ bằng chứng chứng tỏ mình thực sự bị quay cóp thì Chủ tịch HĐTS trường có thể xem xét giảm từ mức kỷ luật cảnh cáo xuống mức khiển trách.
Người bị kỷ luật cảnh cáo trong khi thi môn nào sẽ bị trừ 50% số điểm thi của môn đó.
Hình thức kỷ luật cảnh cáo do CBCT lập biên bản, thu tang vật và quyết định.
3. Đình chỉ thi đối với các thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây:
- Đã bị cảnh cáo một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm Quy chế.
- Sau khi đã bóc đề thi bị phát hiện vẫn còn mang theo người: tài liệu, phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm...
- Đưa đề thi ra ngoài hoặc đưa bài giải từ ngoài vào phòng thi.
- Viết khẩu hiệu, viết vẽ bậy trên bài thi.
- Có hành động gây gổ, đe doạ cán bộ có trách nhiệm trong kỳ thi hay đe doạ thí sinh khác.
Hình thức đình chỉ thi do CBCT lập biên bản, thu tang vật và do Uỷ viên phụ trách điểm thi quyết định.
Thí sinh bị kỷ luật đình chỉ thi trong khi thi môn nào sẽ bị điểm không (0) môn đó; phải ra khỏi phòng thi ngay sau khi có quyết định của Uỷ viên phụ trách điểm thi; không được thi các môn tiếp theo; không được dự các đợt thi kế tiếp tại trường đó và tại các trường khác.
4. Tước quyền vào học ở các trường ĐH, CĐ, THCN ngay trong năm đó và tước quyền tham dự kỳ thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ, THCN trong hai năm tiếp theo hoặc đề nghị các cơ quan có thẩm quyền truy tố trước pháp luật đối với những thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây:
- Man khai hồ sơ để hưởng chính sách ưu tiên theo khu vực hoặc theo đối tượng trong tuyển sinh.
- Sử dụng văn bằng tốt nghiệp giả.
- Nhờ người khác thi hộ, làm bài hộ dưới mọi hình thức.
- Có hành động phá hoại kỳ thi, hành hung cán bộ hoặc thí sinh khác.
Hình thức kỷ luật này do Chủ tịch HĐTS quyết định.
Đối với các trường hợp vi phạm khác, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, Hiệu trưởng, Chủ tịch HĐTS trường vận dụng xử lý kỷ luật theo các hình thức đã nêu ở điều này.
Việc xử lý kỷ luật thí sinh phải được công bố cho thí sinh biết. Nếu thí sinh không chịu ký tên vào biên bản thì hai cán bộ coi thi ký vào biên bản. Nếu giữa cán bộ coi thi và Uỷ viên phụ trách điểm thi không nhất trí về cách xử lý thì ghi rõ ý kiến hai bên vào biên bản để báo cáo Trưởng ban Coi thi quyết định.
Ban Thư ký, Ban Chấm thi có trách nhiệm phát hiện và báo cáo Trưởng ban Chấm thi những bài thi có biểu hiện vi phạm quy chế cần xử lý, ngay cả khi không có biên bản của Ban Coi thi. Sau khi Trưởng ban Chấm thi đã xem xét và kết luận về các trường hợp vi phạm thì xử lý theo quy định dưới đây:
a) Trừ điểm đối với bài thi:
Có hiện tượng đánh dấu bài thi một cách rõ ràng được 2 cán bộ chấm thi cùng xác nhận sẽ bị trừ 50% điểm toàn bài.
b) Cho điểm (0) đối với những bài thi:
- Chép từ các tài liệu mang trái phép vào phòng thi.
- Viết trên giấy nháp, giấy không đúng quy định, nhầu nát hoặc có nếp gấp khác thường, nộp hai bài cho một môn thi.
c) Huỷ bỏ kết quả thi của cả 3 môn thi đối với những thí sinh:
- Phạm các lỗi quy định tại mục b Điều 37 nhưng từ hai môn thi trở lên.
- Viết khẩu hiệu, viết vẽ bậy trên bài thi.
- Nhờ người khác thi hộ, làm bài hộ dưới mọi hình thức; sửa chữa, thêm bớt vào bài làm sau khi đã nộp bài; dùng bài của người khác để nộp.
Sau kỳ thi tuyển sinh, các trường có trách nhiệm gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Sở Giáo dục - Đào tạo các báo cáo sau đây:
- Ngay sau buổi thi cuối cùng: báo cáo nhanh với Bộ Giáo dục và Đào tạo về kỳ thi tuyển sinh (theo mẫu in sẵn), đề thi và đáp án của mỗi môn thi.
- Ngay sau khi chấm thi xong: báo cáo với Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến phương án xác định điểm xét tuyển theo mẫu in tại phụ lục 1 của Quy chế này kèm theo thống kê điểm do máy tính thực hiện.
- Tháng 11 hàng năm: báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình và kết quả thi tuyển sinh, sổ điểm, danh sách thí sinh trúng tuyển trong kỳ thi tuyển sinh năm đó; dự kiến kế hoạch tuyển sinh năm sau.
- Ngay sau khi công bố điểm xét tuyển, các trường ĐH, CĐ, THCN gửi sổ điểm và danh sách trúng tuyển cho các Sở Giáo dục - Đào tạo có thí sinh đã dự thi, đã trúng tuyển vào trường trong kỳ thi tuyển sinh năm đó. Riêng các trường THCN địa phương gửi sổ điểm và danh sách trúng tuyển cho Sở Giáo dục - Đào tạo để các Sở tập hợp báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tất cả các bài thi tuyển sinh và các tài liệu khác về kỳ thi tuyển sinh trường phải bảo quản và lưu trữ trong suốt khoá đào tạo. Hết khoá đào tạo Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hội đồng xét huỷ.

Trường
............
............
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày........ tháng........ năm..........

I. KẾT QUẢ TUYỂN SINH CỦA NĂM TRƯỚC:
1) Tổng chỉ tiêu tuyển sinh được giao:
ĐH: .......................................; CĐ: .............................; THCN:.........................
2) Số HS, SV thực tế nhập học, trong đó:
- Số được tuyển thẳng:...........................................................
- Số học xong dự bị được vào năm thứ 1: ............................
- Số được tuyển qua kỳ thi tuyển sinh (căn cứ điểm xét tuyển):
ĐH:................................... CĐ: ...................................; THCN: .........................
II. CHỈ TIÊU TUYỂN SINH CỦA NĂM NAY:
1) Tổng chỉ tiêu tuyển sinh được giao:
ĐH: .............................. CĐ: ..................................; THCN: ..............................
Căn cứ Quy chế tuyển sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cơ quan chủ quản, Hội đồng tuyển sinh trường thống nhất điểm xét tuyển vào trường năm............. như sau:
- Khối thi (hoặc ngành học đối với ĐH, CĐ),
môn thi (đối với THCN): ..................................................
- Hệ đào tạo (ĐH, CĐ hoặc THCN): ...................................


KV3
KV2
KV1
Cộng
HSPT
Điểm xét tuyển





Số người đạt ĐXT




Đối tượng 9
Điểm xét tuyển




(KV2-NT)
Số người đạt ĐXT




UT2
Điểm xét tuyển





Số người đạt ĐXT




UT1
Điểm xét tuyển





Số người đạt ĐXT




Tổng số người
đạt ĐXT




Ý kiến của
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ý kiến của
Cơ quan Chủ quản
Chủ tịch
HĐTS trường

1. Tiêu chuẩn tốt nghiệp THCN loại xuất sắc.
Những học sinh tốt nghiệp trường THCN đạt đủ các tiêu chuẩn quy định dưới đây được coi là tốt nghiệp loại xuất sắc trường THCN.
a) Tất cả các môn thi và kiểm tra trong toàn khoá học đạt từ 9,0 trở lên, không có môn thi và kiểm tra đạt dưới 6 điểm.
b) Tất cả các môn thực tập tốt nghiệp đạt từ 9 điểm trở lên.
Tất cả các môn thi tốt nghiệp đạt từ 9 trở lên, trong đó ít nhất có một nửa số môn thi tốt nghiệp đạt 10 điểm.
c) Trong toàn khoá học không bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên.
2. Trường Đại học, Cao đẳng và ngành học được tuyển thẳng học sinh tốt nghiệp THCN loại xuất sắc.
a) Tất cả các trường đại học, cao đẳng trừ các trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại thương, Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
b) Tất cả các ngành học quy định tại "Danh mục ngành đào tạo đại học nước CHXHCN Việt Nam" ban hành theo Quyết định số 2301/QĐ-LB ngày 22-12-1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Thống kê, trừ các ngành sau:
01. 01.11, 01. 02. 10, 01. 03. 10
02. 02.11, 02. 02. 10, 02. 03. 10
03. 01. 11.
04. 01. 11, 04. 02. 10
05. 01. 11
06. 01. 11
07. 01. 11, 07. 02. 11, 07. 03. 11, 07. 04. 11
08. 01. 11
09. 01. 20
10. 01. 10, 10. 02. 10, 10. 03.. 10, 10. 04. 21, 10. 05. 21, 10. 06. 21, 10. 07. 10, 10. 08. 20
11. 01. 10, 11. 00. 1, 11. 12. 10
20. 05. 10, 20. 06. 10, 20. 08. 10, 20. 09. 10, 20. 10. 21.
3. Thủ tục tuyển thẳng học sinh tốt nghiệp THCN loại xuất sắc.
Học sinh tốt nghiệp loại xuất sắc trường THCN, trước ngày thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ, cần nộp hồ sơ xin học cho trường ĐH hoặc CĐ ngay sau khi tốt nghiệp THCN, chậm nhất đến ngày 20/6. Nếu tốt nghiệp sau ngày thi tuyển sinh vào trường ĐH, CĐ sẽ được xem xét để tuyển thẳng vào năm học kế tiếp.
Hồ sơ xin học bao gồm:
- Bằng tốt nghiệp THCN.
- Học bạ THCN ghi rõ các môn học, số giờ học từng môn, điểm thi và kiểm tra từng môn.
- Giấy khai sinh
- Hồ sơ trúng tuyển theo mẫu in sẵn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh trường căn cứ hồ sơ xin học của học sinh và những quy định tại Quy chế này, ra quyết định triệu tập học sinh đến trường.