Saturday, November 3, 2018

Trường đại học của VN nên tham gia bảng xếp hạng nào? (Thanh niên 2/11/2018)

Bài viết mới của tôi trên báo Thanh Niên, có biên tập chút ít, ở đây:
https://thanhnien.vn/giao-duc/truong-dai-hoc-cua-vn-nen-tham-gia-bang-xep-hang-nao-1019263.html 


Còn đây là bản gốc chưa biên tập.
-----------------

Trường đại học của Việt Nam nên tham gia bảng xếp hạng nào?

Vũ Thị Phương Anh
(bài đă đăng trên Thanh Niên 2/11/2018)
“Mùa xếp hạng lại đến rồi!” Lời phát biểu nói trên, mà đúng hơn là tiếng thở dài, là của một nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng ở nước ngoài cách đây hơn nửa thập niên khi nói về tình trạng “ham hố” trong xếp hạng đại học của một số quốc gia Đông Á. Nhưng tình trạng này giờ đây có vẻ đã lan đến Việt Nam.

Việc công bố kết quả của một số bảng xếp hạng đại học với sự có mặt của một số trường đại học Việt Nam cách đây không lâu, trong đó có nhiều kết quả khá bất ngờ, đã gây ra những phản ứng trái ngược nhau. Một bên là sự ca ngợi tán thưởng của một số người, và bên kia là sự nghi ngại, ngờ vực của những người khác. Nhưng dù phản ứng của mọi người có khác biệt đến đâu thì câu hỏi chung được đặt ra cho tất cả vẫn là: Làm sao để biết bảng xếp hạng nào là có giá trị?

Có một điểm cần ghi nhận là mặc dù công chúng có thể có những quan điểm trái ngược nhau về các bảng xếp hạng đại học, nhưng quan điểm của giới chuyên môn lại rất thống nhất. Cách diễn đạt có thể khác nhau, nhưng tựu trung một bảng xếp hạng tốt nhất thiết phải đạt hai yêu cầu tối thiểu: (1) Có các tiêu chí phù hợp với sứ mạng và mục tiêu của các trường được xếp hạng; (2) Có phương pháp tốt để thu thập và xử lý các thông tin được sử dụng để xếp hạng.

Với hai yêu cầu nói trên, bảng xếp hạng đại học nào là phù hợp với các trường đại học của Việt Nam? Điểm qua các bảng xếp hạng đã từng được biết đến tại Việt Nam, có thể chọn ra 4 bảng xếp hạng sau đây:

1. Bảng xếp hạng đại học thế giới (ARWU - Academic Ranking of World University). Bảng đại học rất nổi tiếng này xuất phát từ một nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Giao thông Thượng Hải (Shanghai Jiao Tong University), với các tiêu chí chủ yếu nhắm vào các trường đại học nghiên cứu và thiên về khối ngành tự nhiên – kỹ thuật.

Vốn là một sản phẩm nghiên cứu, ARWU được xem là một trong những bảng xếp hạng uy tín nhất trên thế giới, có phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin minh bạch, khách quan và rất nghiêm nhặt. Trong số các chỉ số được sử dụng để xếp hạng, ta thấy có số lượng công bố khoa học trên các tạp chí khoa học hàng đầu như Nature và Science, hoặc số lượng các nhà khoa học đoạt giải Nobel hoặc giải Fields tại các trường. 

Với những tiêu chí và chỉ số như trên, bảng xếp hạng này rõ ràng không phù hợp với Việt Nam, ít ra là trong giai đoạn hiện nay. Đơn giản là khả năng một quốc gia ở trình độ phát triển của Việt Nam mà có được một trường lọt vào danh sách 500 trường đại học nghiên cứu tốt nhất trên thế giới chắc chắn là một con số không to tướng.

2. Bảng xếp hạng đại học thế giới Webometrics (Webometrics Ranking of World University, gọi tắt là Webometrics). Tương tự như ARWU, Webometrics cũng là một sản phẩn nghiên cứu của nhóm Cybermetrics Lab thuộc Hội đồng nghiên cứu quốc gia Tây Ban Nha.

Tương tự như ARWU vốn là một sản phẩm nghiên cứu, phương pháp xếp hạng Webometrics được các chuyên gia đánh giá cao về tính minh bạch và khách quan, không có mâu thuẫn lợi ích. Một điểm mạnh khác của Webometrics là không giống như ARWU có đối tượng xếp hạng rất chọn lọc, Webometrics có độ phủ rộng khắp trên toàn thế giới, và đưa ra một danh sách xếp hạng lên đến trên 12 ngàn trường, trong đó có nhiều trường của Việt Nam và nhiều nước đang phát triển khác.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Webometrics không nhằm đánh giá toàn diện chất lượng của một trường đại học, mà nhắm đến độ bao phủ, sức lan tỏa và mức độ tác động của thông tin khoa học của một trường đại học trên trang web của mình. Mặc dù trong thời đại Internet ngày nay, việc công bố thông tin khoa học thông qua trang web là một chỉ số quan trọng để chứng tỏ năng lực của các trường đại học, nhưng không thể xem kết quả xếp hạng Webometrics như một chỉ số chính xác về chất lượng tổng thể của một trường, và càng không thể xem việc tăng hoặc giảm thứ hạng trên Webometrics là chứng cứ của sự gia tăng hoặc giảm sút chất lượng.  

3. Hệ thống xếp hạng đại học khu vực và thế giới của THE (Times Higher Education). Times Higher Education là một tờ báo chuyên cung cấp thông tin về giáo dục đại học của Anh quốc. Bảng xếp hạng của THE ra đời lần đầu tiên vào năm 1971 như một phụ trương của tờ báo, và điều này có thể thấy qua tên gọi ban đầu của hệ thống xếp hạng này là Times Higher Education Supplement (Phụ trương của tờ Times Higher Education, viết tắt là THES).

Qua nhiều năm tồn tại, hiện nay, THE đã trở thành một tổ chức xếp hạng có uy tín với phương pháp minh bạch, rõ ràng, và có độ phủ rộng hơn ARWU rất nhiều. Danh sách các trường hàng đầu thế giới của THE lên đến gần 1000 trường so với 500 trường của ARWU. Không những thế,  THE không chỉ so sánh các trường hàng đầu thế giới, mà còn có nhiều bảng xếp hạng được phân loại chi tiết theo khu vực, ngành đào tạo, và thậm chí theo thâm niên của các trường với Bảng xếp hạng các trường dưới 50 tuổi. Ngoài ra, các tiêu chí xếp hạng của THE cũng toàn diện hơn, không quá nặng về nghiên cứu như ARWU. Các tiêu chí đánh giá của THE bao gồm 5 nhóm: Giảng dạy; Nghiên cứu; Công bố; Mức độ quốc tế hóa; và Chuyển giao công nghệ.  

Với những đặc điểm nêu trên, kết quả xếp hạng của THE đang có rất ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc lựa chọn trường của người học và do đó cũng ảnh hưởng đến các chiến lược phát triển của các trường, đặc biệt là khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Nhiều trường đại học lớn trong khu vực sử dụng kết quả này như một thông tin chính thức về chất lượng của trường. Theo nhận định của một số chuyên gia, nếu được sử dụng một cách đủ cẩn trọng, kết quả xếp hạng đại học nói chung, trong đó có kết quả xếp hạng của THE, có thể thúc đẩy sự cạnh tranh và phát triển của các trường được xếp hạng.
4. Hệ thống xếp hạng đại học khu vực và thế giới của QS (Quacquarelli Symonds). Quacquarelli Symonds là tên một công ty truyền thông giáo dục được thành lập vào cuối thập niên 1980 bởi chính Quacquarelli (từ đó có tên của công ty). Bảng xếp hạng đầu tiên do QS đưa ra là vào năm 1996, chỉ nhằm xếp hạng các trường có chương trình MBA tốt nhất thế giới.

Ngay sau khi ARWU xuất hiện và đưa ra bảng xếp hạng đại học thế giới đầu tiên vào năm 2003 (trước đó chỉ có các bảng xếp hạng đại học của một số quốc gia), năm 2004 QS và THE đã cộng tác với nhau để cạnh tranh với bảng xếp hạng đại học thế giới cạnh tranh của ARWU. Lúc ấy, bảng xếp hạng chung này có tên là THE-QS để thể hiện sự hợp tác của 2 bên. Tuy nhiên, việc hợp tác này chỉ kéo dài được 5 năm (2004 đến 2008), khi THE cho rằng phương pháp đánh giá của bảng xếp hạng THE-QS – chủ yếu dựa vào kết quả khảo sát các đối tượng khác nhau – cần phải được điều chỉnh để có tính khách quan hơn. Từ đó, THE và QS từ đối tác trở thành đối thủ, với các sản phẩm tương đối giống nhau, chỉ khác biệt về tiêu chí và phương pháp xếp hạng.

Trung thành với cách tiếp cận ban đầu của mình, QS tiếp tục xếp hạng các trường đại học dựa phần lớn vào kết quả khảo sát, dù cũng có những điều chỉnh nhỏ nhằm tiếp thu những phê phán của giới nghiên cứu nói riêng và cộng đồng giáo dục đại học thế giới nói chung. Xét về khía cạnh truyền thông, có thể nói QS rất thành công trong việc đưa sản phẩm của mình đến với công chúng, và trở thành một trong những bảng xếp hạng được biết đến nhiều nhất, đặc biệt là ở Việt Nam.

Có hai yếu tố giúp tạo nên sự thành công của QS. Đầu tiên là đối tượng độc giả mà QS nhắm đến. Không giống một số bảng xếp hạng đại học nhắm đến đối tượng độc giả là giới nghiên cứu và quản lý giáo dục, QS xem việc xếp hạng như một cách đưa thông tin nhanh về các trường đến người học tiềm năng, với rất nhiều ấn phẩm và nhiều hoạt động quảng bá cho kết quả xếp hạng của mình như một cách giới thiệu các trường đại học được xếp hạng. Một ưu điểm khác của QS là độ bao phủ rộng và yêu cầu không quá nghiêm nhặt như các bảng xếp hạng có danh tiếng khác khiến khả năng lọt vào bảng xếp hạng của QS không đến nỗi bất khả thi, và việc tăng hạng trên bảng xếp hạng QS cũng dễ dàng hơn. Ví dụ, ngoài tiêu chí về “danh tiếng” chiếm đến 50% tổng điểm, QS có 2 tiêu chí khá dễ dàng cải thiện với tổng tỷ lệ là 20% -- tỷ lệ thầy trên trò (15% tổng điểm) và tỷ lệ giảng viên có bằng tiến sĩ (5% tổng điểm). Điều này khiến cho QS có một lượng khách hàng trung thành là các trường đại học muốn thấy tên mình trong các bảng xếp hạng khu vực và quốc tế, như một hình thức quảng cáo.

Nhưng mặc dù được rất nhiều người biết đến và nổi trội trong giới truyền thông, QS không phải là một bảng xếp hạng được giới hàn lâm đánh giá cao. Một điều dễ thấy là QS vừa là người xếp hạng lại cũng đồng thời là người cung cấp gói dịch vụ tư vấn xếp hạng, khiến cho tính khách quan của số liệu và kết quả xếp hạng của QS có thể bị đặt một dấu chấm hỏi. Tờ Chronicle of Higher Education, một tờ báo chuyên về giáo dục đại học có uy tín của Mỹ, trong một bài viết năm 2017 thậm chí còn viết rằng mặc dù bảng xếp hạng nào cũng có thể có những vấn đề này khác, nhưng “QS nổi bật vì các hành xử trong kinh doanh đáng ngờ vực của mình[1].

Và ngay cả khi ta có lý do để tin rằng QS không có điều gì khuất tất, thì phương pháp xếp hạng của QS cũng không đáng tin cậy vì đến 50% tổng điểm xếp hạng là dựa vào kết quả khảo sát danh tiếng của nhà trường, một khái niệm khá mơ hồ và chủ quan. Vì vậy, đa số các nhà chuyên môn đều cho rằng việc tham gia của các trường vào bảng xếp hạng QS cũng chỉ là một cách quảng bá cho trường trên khía cạnh truyền thông mà thôi.
****
Với những thông tin đã nêu, thì câu trả lời cho câu hỏi đặt ra trong tựa của bài viết này - này dường như đã quá rõ. Hiển nhiên là trong giai đoạn hiện nay và có thể là trong tương lai gần, nếu vẫn không có những thay đổi mang tính đột phá mà chủ yếu là sự đầu tư mạnh mẽ vào đội ngũ giảng viên và năng lực quản trị của các trường, thì Việt Nam vẫn chỉ có khả năng có mặt trên hai bảng xếp hạng là Webometrics và QS mà thôi. Nhưng ngoài giá trị truyền thông mà các bảng xếp hạng này mang lại, thì điều quan trọng mà các trường đại học của Việt Nam cần nhớ, đó là: thay vì mê mải chạy theo các thứ hạng để tăng khả năng thu hút người học (một điều không phải là không cần thiết), thì điều quan trọng hơn vẫn là hiểu rõ điểm mạnh điểm yếu của mình và thực sự cải tiến chất lượng, để một ngày không xa có thể xuất hiện trong những bảng xếp hạng có giá trị hơn. 

Bởi, nếu những nước láng giềng gần gũi của Việt Nam như Thái Lan và Mã Lai đã đều có mặt trong top 100 của bảng xếp hạng châu Á của THE trong vài năm vừa qua, và riêng Mã Lai thì thậm chí đã vọt lên chiếm được vị trí top 50 ngay trong năm 2018 này, thì tại sao Việt Nam lại không thể mong đợi sự có mặt của mình trong vài trăm thứ hạng đầu trong cùng bảng xếp hạng ấy trong vòng 5-10 năm tới?

Thursday, October 11, 2018

Vấn nạn tháp Babel của dữ liệu lớn trong giáo dục đại học (để đây từ từ dịch)

Dẫn:

Dữ liệu, dữ liệu nữa, và thêm dữ liệu!

Nếu dữ liệu lớn đang là một xu hướng mới trong sản xuất và thương mại thời 4.0, thì trong giáo dục đại học người ta vẫn còn vô cùng lúng túng, dù đó cũng đang là buzz word. Well, buzz word, tức là chỉ mới là nói cái mồm thôi, chứ áp dụng vào chưa tới đâu cả. Nên mới có vấn nạn tháp Babel như trong cái tựa của bài này.

Là một bài rất đáng đọc và đáng dịch. Ai đọc được tiếng Anh thì vào link mà đọc nè. Link đây: https://www.insidehighered.com/blogs/digital-tweed/babel-problem-big-data-higher-ed-1

Còn ai cần dịch thì từ từ khi tôi rảnh sẽ dịch. Dịch để lưu cho mình, và cũng để chia sẻ với mọi người, để tránh tình trạng tháp Babel khi làm việc với nhau he he.

Nhưng ít ra thì cũng phải trích đoạn văn rất thú vị này ở đây, đặc biệt là câu: In God we trust; all others bring data! Với Chúa chúng tôi tin, còn những người khác làm ơn mang theo dữ liệu. :-)
-----------------
We can trace the origins of this movement, in part, to Margaret Spellings, currently president of the University of North Carolina System.  As Secretary of Education under George W. Bush from 2005-2009, Secretary Spellings frequently cited the “Deming Dictum” – In God we trust; all others bring data – as a charming if disarming way to articulate the both the K-12 and higher education policy priorities of the Bush Administration.  And in her current position as the leader of the University of North Carolina System of Higher Education, President Spellings has also served notice about her “bring data” priorities for planning, policy, and decision-making across for the 17-campus UNC system.