Sunday, December 10, 2017

Nói chuyện tiếng Anh (kỳ số 15): Drivers license, driver license, driving licence etc

Chào các bạn,

Lâu lắm rồi tôi không viết về tiếng Anh trên blog này (mà cũng chẳng viết gì ở đâu nữa, vì bận quá, và ... vì già rồi, không muốn nhiều chuyện nữa, chỉ muốn nghỉ ngơi cho yên tĩnh và làm được gì thì làm thôi).

Nhưng hôm nay thấy trên mạng có bài viết chê tiếng Anh trên bằng lái xe của Bộ GTVT. Ai muốn đọc nguyên văn bài viết ấy thì có thể vào trang này: http://danviet.vn/tin-tuc/xau-ho-vi-bang-lai-xe-song-ngu-cua-bo-gtvt-23216.html

E rằng bài viết sẽ bị rút xuống (sau khi dư luận có ý kiến này khác) nên tôi chụp lại ở đây để làm bằng chứng. Tôi không quan tâm đến các góp ý khác, mà chỉ quan tâm đến phê bình liên quan đến driver's license mà thôi.

Nguyên văn lời phê bình như sau:

[...] ông Thịnh cho rằng việc dịch "Giấy phép lái xe" thành Driver's License là không chuẩn xác, mà phải dùng cụm từ Driving Licence. Mẫu này Bộ GTVT từng sử dụng phụ lục 30 tại Thông tư 07.2009 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp GPLX của Bộ GTVT.


Hình chụp đây:

Cũng trong bài viết ấy, đại diện Bộ GTVT đã trả lời như sau: Chúng tôi áp dụng dịch theo tiếng Anh-Mỹ. Xin xem hình:

Vậy ai nói đúng nhỉ? Dạ thưa các bạn, ai nói cũng đúng hết ạ!

Và không chỉ có driver's license hoặc driving licence, mà còn có driver license (không có 's), drivers license (không có '), và driver's licence (-ce ở cuối từ giấy phép thay vì -se) nữa, các bạn ạ.

Gì mà rắc rối vậy? À, nó là như thế này: Trong tiếng Anh (Anh-Anh hay Anh-Mỹ, -Úc, -Canada gì cũng vậy) thì drive là động từ, driver là danh từ, drivers là danh từ số nhiều, driver's là sở hữu cách của danh từ số ít, và drivers' là sở hữu cách của danh từ số nhiều.

Còn giấy phép thì Anh và các nước theo Anh viết là licence (-ce ở cuối), còn Mỹ, từ khi có cải cách chữ viết của Webster thì viết thành license (-se) ở cuối.

Và theo quy luật ngữ pháp của tiếng Anh (Anh-Anh hay Anh-Mỹ, -Úc, -Canada gì cũng vậy) thì khi có một từ bổ nghĩa cho danh từ (ở đây là từ license - well, licence) ta có thể dùng, ngoài tính từ là từ đương nhiên có thể bổ nghĩa cho danh từ, những tự loại sau: (1) participle của động từ - chẳng hạn như sleeping beauty hoặc concerned citizens; một danh từ khác (nguyên mẫu) để bổ nghĩa -- như beauty queen; một danh từ số ít ở dạng sở hữu cách như Father's Day; một danh từ số nhiều có hoặc không có dấu sở hữu cách như Teachers' Day hoặc Teachers Day.

Rồi, như thế là trong tiếng Anh có rất nhiều lựa chọn để tạo ra một danh từ kép là "giấy phép lái xe" (gồm hai từ: giấy phép và lái xe). Mà tiếng Anh thì không chỉ được nói ở Anh, mà còn trên nhiều nước khác cũng được xem là bản ngữ. Như Mỹ, Úc, Canada, New Zealand, và đôi khi cả Nam Phi cũng được xem là bản ngữ nữa.

Vậy thì sao? À, thì mỗi nước dùng một cách chứ sao. Mà ngay cả trong một nước Mỹ thì các bang cũng dùng khác nhau nữa. Có bang dùng driver's license, có bang lại dùng driver license (không có sở hữu cách). Và ngoài Mỹ viết chính tả theo kiểu riêng có từ thời Webster là licence, thì nhiều nước khác đa số dùng chính tả theo kiểu Anh: licence.

Nên chúng ta có vô thiên lủng các kiểu dịch giấy phép lái xe. Riêng Bộ GTVT của VN thì dùng theo kiểu (một số bang của) Mỹ. Ừ thì họ chọn như thế, ai mà biết tại sao. Nhưng chắc chắn là không có gì sai, các bạn nhé.

Đây, tặng các bạn một lô các hình ảnh để minh họa. Các bạn tự đọc rồi rút ra kết luận.









Ôi chao, tiếng Anh phức tạp quá, có phải không? Thì từ rất lâu, hồi còn đi học lận á, tôi đã tự rút ra kết luận cho mình như sau: Tiếng Anh là một thứ tiếng rất ... lừa đảo, mới học thì tưởng dễ, mà càng học thì càng quá khó, hic hic hic....

Khổ nỗi, nó đã trở thành ngôn ngữ toàn cầu rồi, nên cứ phải học thôi. Hay là ta chuyển sang học tiếng ... Tàu nhỉ?



Thursday, November 2, 2017

Tự chủ - đòn bẩy phát triển giáo dục đại học (Nhân dân cuối tuần 28/10/2017)

Đó là tựa bài viết mới của tôi đăng trên NDCT vào cuối tuần rồi. Tựa ấy, và nội dung bài viết, đã được ban biên tập sửa chữa lại trên bản gốc của tôi. Các bạn có thể đọc bài ấy ở đây: http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/item/34537802-tu-chu-don-bay-phat-trien-giao-duc-dai-hoc.html

Còn dưới đây, tôi muốn đăng lại bài gốc mà tôi đã gửi, với một tựa khác, và một số nội dung giờ đã được ban biên tập cắt bỏ. Thực ra thì cũng không có gì khác nhiều, nhưng bản đã biên tập nhẹ nhàng hơn, còn bản tôi viết thì ... thẳng thừng, theo phong cách của tôi, hi hi.
---------------
Tự chủ đại học: Bộ muốn giao nhưng chưa nhiều trường muốn nhận, vì sao?

Tự chủ đại học không phải là một vấn đề mới mẻ, mà đã chính thức được đặt ra tại Việt Nam từ những năm đầu của thập niên trước. Khái niệm “tự chủ” xuất hiện lần đầu trong một văn bản quy phạm pháp luật là trong  Điều lệ trường đại học 2003, rồi sau đó được cụ thể hóa trong Nghị định 43/2006/ NĐ-CP của Chính phủ. Từ đó đến nay, việc đẩy mạnh trao quyền tự chủ cho các trường đại học vẫn là một chủ trương nhất quán của chính phủ nói chung và của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói riêng.

Mặc dù vậy, quá trình thực triển khai áp dụng mô hình tự chủ đại học tại Việt Nam hoàn toàn không dễ dàng. Phải hơn một thập niên sau, việc áp dụng mô hình tự chủ tại các trường công lập mới được thí điểm. Tâm lý “ngại tự chủ” vẫn là một tâm lý phổ biến ở nhiều trường. Ngay cả các trường trong nhóm thí điểm tự chủ - là các trường mạnh, được xem là đã có đủ điều kiện để thực hiện tự chủ - cũng cho rằng cơ chế hiện nay vẫn còn rất nhiều vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là những gì đã được chia sẻ tại Hội nghị tổng kết thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017 vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội vào ngày 20/10/2017 vừa qua.

Những khó khăn trong việc chuyển đổi từ một mô hình được nhà nước bao cấp và kiểm soát chặt chẽ sang mô hình tự chủ không chỉ có ở Việt Nam mà tồn tại ở tất cả các nơi trên thế giới. Tâm lý trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước và sự quản lý chi li chặt chẽ của các cơ quan hữu quan trong một thời gian dài đã khiến cho các trường mất đi sự năng động và sáng tạo cần thiết. Ngay ở Mã Lai, một quốc gia trong khu vực với một nền giáo dục đại học  khá phát triển so với Việt Nam, cũng tồn tại những khó khăn và vướng mắc tương tự. Bởi, tự chủ đại học không thể “đùng một cái”, mà các trường muốn sử dụng sự tự chủ như một đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của nhà trường thì cũng phải cần những điều kiện nào đó, mà . Những điều kiện đó là gì?

Tự chủ đại học trước hết là tự chủ về nhân sự
Cần khẳng định rằng tự chủ đại học bao hàm nhiều khía cạnh chứ không chỉ là tự chủ về tài chính, và hoàn toàn không đồng nghĩa với việc cắt mọi hỗ trợ tài chính từ nhà nước. Đây cũng là điều mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã khẳng định trong Hội nghị vừa qua. Chỉ có điều, nếu cứ cấp ngân sách theo kiểu chia đều cho tất cả các trường công lập thì sẽ không bao giờ có đủ ngân sách để đáp ứng mọi nhu cầu hoạt động của tất cả các trường, dẫn đến việc đầu tư manh mún, nhỏ giọt và không hiệu quả. Vì vậy, cần cắt giảm nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên để thể tập trung vào các mục tiêu quan trọng, như đầu tư vào các phòng thí nghiệm trọng điểm hoặc đầu tư nghiên cứu trường những ngành công nghệ cao đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Nhưng đầu tư vào cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại để rồi không có nguồn nhân lực đủ mạnh để khai thác thì lại là một sự lãng phí khác. Rõ ràng, để có thể tự chủ thì trước hết các trường phải bảo đảm được một lực lượng giảng viên và nhà khoa học giỏi có khả năng tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị tương xứng với những đầu tư của nhà nước. Lực lượng này tìm ở đâu khi các trường không có sẵn?

Như vậy, có thể thấy điều kiện đầu tiên để tự chủ là người đứng đầu nhà trường phải có đủ thẩm quyền và điều kiện để thu hút các giảng viên và các nhà khoa học giỏi về làm việc, bổ nhiệm họ vào các vị trí xứng đáng với năng lực. Đồng thời, họ cũng cần thẩm quyền loại bỏ những người đang có trong biên chế, thậm chí có chức vụ trong hệ thống nhưng không có đủ năng lực hoặc trách nhiệm để thực hiện tốt công việc.

Đáng tiếc là các chính sách hiện nay chưa thực sự cho phép các trường công lập thực hiện điều này, khi cơ cấu quyền lực của các trường vẫn còn chưa rõ ràng, khi tồn tại song song vai trò chỉ đạo chung của Đảng ủy (nơi có thẩm quyền cao nhất về mặt nhân sự, đặc biệt là các vị trí chủ chốt) và vai trò định hướng chuyên môn của Hội đồng trường, mà vai trò thực tế đã được mọi người chỉ ra là hoàn toàn hình thức!

Bên cạnh đó, chính sách lương bổng cào bằng và thiếu hấp dẫn trong thời gian dài vừa qua, cùng cách quản lý nặng về hành chính, thậm chí đôi khi quan liêu, của hệ thống đại học công lập của Việt Nam, đã làm nản lòng rất nhiều nhà khoa học. Tất nhiên trong những năm gần đây một số trường, đặc biệt là các trường được tự chủ tài chính, cũng đã có nhiều chính sách để đẩy mạnh nghiên cứu và công bố quốc tế và đã có nhiều thành quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhưng những thành tựu của các trường này cũng chỉ mới nằm ở các công bố hàn lâm mà chưa có những phát minh sáng chế mang tính ứng dụng và có thể đưa ra thị trường để tạo ra thu nhập cho các trường.

Đây là cũng một khó khăn lớn khác chỉ có thể được tháo gỡ nếu cần có những chính sách mang tính đột phá về quản lý nhân sự trong trường đại học, cụ thể là trao cho hiệu trưởng quyền tự chủ hoàn toàn trong việc tuyển dụng, bổ nhiệm, xác định mức lương và các đãi ngộ khác, cũng như bãi nhiệm các nhân sự chủ chốt trong hệ thống, miễn sao có thể đạt được các mục tiêu phát triển của nhà trường là được.

Tự chủ đến từng giảng viên, hay thế kiềng ba chân trong tự chủ đại học
Hiệu trưởng các trường đại học phải được toàn quyền quyết định trong mọi vấn đề về nhân sự, ngay cả việc bổ nhiệm và bãi nhiệm các nhân sự chủ chốt - quả là một ý nghĩ táo bạo đối với  Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, đó chính là cái quyền mà hiệu trưởng các trường đại học tại các nước tiên tiến trên thế giới đương nhiên được hưởng. Thật nguy hiểm, vì nếu họ lạm quyền thì sao?
Thực ra, tự chủ đại học trên thế giới chưa bao giờ được hiểu với nghĩa hiệu trưởng muốn làm gì thì làm. Trong mô hình quản trị đại học tại các nước tiên tiến trên thế giới không chỉ có yếu tố tự chủ, mà là một bộ ba luôn đi kèm với nhau, đó là: tự chủ - trách nhiệm giải trình - đồng quản trị (shared governance). Nếu không có 2 yếu tố còn lại thì tự chủ đại học sẽ mất đi toàn bộ giá trị và không thể nào là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của các trường đại học được.

Quyền tự chủ càng cao thì trách nhiệm giải trình càng lớn, điều này đối với có lẽ nhiều người cũng đã nghe quen và sẽ không ai phản đối. Nhưng khái niệm “đồng quản trị” có thể vẫn còn khá mới mẻ đối với Việt Nam, ít ra là về ngôn từ, nên sẽ được giải thích ngay dưới đây.

Tờ Chronicle of Higher Education đã định nghĩa khái niệm này như sau: Đồng quản trị là đạt được sự cân bằng giữa một bên là sự tham gia của các giảng viên và nhân viên trong mọi quá trình lập kế hoạch và ra quyết định của nhà trường, và bên kia là trách nhiệm giải trình của bộ phận quản lý.

Dùng ngôn ngữ dễ hiểu hơn, ta có thể nói đồng quản trị là cho phép những người không nằm trong bộ máy quản lý tham gia trực tiếp vào việc điều hành và giám sát nhà trường. Hoặc, dùng một cụm từ quen thuộc hơn nữa, đồng quản trị chính à đẩy mạnh “dân chủ hóa” trong môi trường giáo dục.

Đến đây thì ta bỗng thấy khái niệm đồng quản trị không còn gì là bí hiểm nữa, mà thực ra đã rất quen thuộc đối với Việt Nam. Thực vậy, chỉ cần đọc những lời phát biểu dưới đây của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, sẽ thấy rằng nội hàm của khái niệm đồng quản trị đã được ông hiểu rất rõ.

“Tinh thần tự chủ ĐH nói từ đầu đến giờ mới chỉ là xoá bỏ những can thiệp hành chính không cần thiết của cơ quan chủ quản, Bộ Giáo dục và Giáo dục vào hoạt động nhà trường. Nhưng tự chủ phải đi xuống từng trường đại học, phải xuống đến tận khoa, bộ môn, giảng viên một cách xuyên suốt”.
***********
“Con đường dài dằng dặc đến tự chủ đại học” là tưa một bài báo được đăng cách đây vài tháng trên tờ The Sun Daily của Mã Lai để tóm tắt những khó khăn của đất nước này trong việc đẩy mạnh tự chủ đại học. Nếu Mã Lai vẫn còn nhiều khó khăn như vậy thì chắc chắn Việt Nam cũng sẽ còn rất nhiều trở ngại. Tuy nhiên, điều đáng sợ hơn là chúng ta đi mò mẫm mà không có phương hướng. Giờ đây, khi đã xác định được những điều kiện cần để có thể chuyển đổi từ một mô hình hoàn toàn bao cấp sang mô hình tự chủ cao, thì với quyết tâm hiện nay của chính phủ, chắc chắn sắp tới chúng ta sẽ đưa được các trường đại học của Việt Nam vào quỹ đạo phát triển chung của các trường học trên toàn thế giới.