Tuesday, August 30, 2016

Bài trả lời phỏng vấn trên Vietnamnet: Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai có khả thi?

Ở đây: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/323823/dua-tieng-anh-thanh-ngon-ngu-thu-hai-co-kha-thi.html

Nguyên văn được chép lại dưới đây.
---------------

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Có khả thi?

Xây dựng lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam là một nhiệm vụ đáng chú ý của ngành giáo dục từ năm học 2016 - 2017Trao đổi về điều này, TS Vũ Thị Phương Anh e ngại việc "đặt mục tiêu thật lớn rồi lấy tiền ngân sách thực hiện".
TS Phương Anh cho biết: Tại 10 nước Đông Nam Á, các ví dụ thành công hay được đưa ra là Philippines và Singapore, hoặc ở mức độ thấp hơn một chút là Malaysia.
Vì vậy, mọi người đang rất mong đợi để việc dạy và học tiếng Anh có hiệu quả hơn chứ không ì ạch như hiện nay - điều vừa được chứng minh qua kết quả môn tiếng Anh trong kỳ thi THPT quốc gia vừa qua.
Nhưng vấn đề là làm thế nào để biến tiếng Anh đang từ một ngoại ngữ trở thành một ngôn ngữ thứ hai?
Tiếng Anh, học Tiếng Anh, ngôn ngữ thứ hai
TS Vũ Thị Phương Anh, nguyên Giám đốc Trung tâm Khảo thí (ĐHQG TP.HCM)
Muốn trả lời thì trước hết cần xác định sự khác biệt giữa hai loại ngôn ngữ ấy - cả hai đương nhiên đều không phải là tiếng mẹ đẻ của người học.
Sự khác biệt giữa ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai là gì? Định nghĩa đơn giản mà đầy đủ sau đây của wikipedia về ngôn ngữ thứ hai như sau: “Ngôn ngữ thứ hai của một người (viết tắt là L2) là ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ nhưng được sử dụng hàng ngày tại nơi người ấy sinh sống. Trái lại, ngoại ngữ là ngôn ngữ được học tại một nơi mà ngôn ngữ ấy không được sử dụng” - (TS Phương Anh dịch - PV).
Nói vắn tắt, bất cứ khi nào một người Việt (có biết tiếng Anh, tất nhiên) được đưa vào một môi trường mà mọi người xung quanh đều sử dụng tiếng Anh để giao tiếp với nhau thì lúc ấy tiếng Anh đương nhiên trở thành ngôn ngữ thứ hai của người Việt ấy.
Nhưng nếu chúng ta vẫn cứ học tiếng Anh ở Việt Nam, thì cho dù có học vớithầy Tây (hoặc thầy ta nhưng nói tiếng Anh như Tây), chỉ vỏn vẹn được vài giờ một tuần (giả định rằng vào lớp buộc phải dùng tiếng Anh), nhưng bước ra khỏi lớp thì tất cả đều là tiếng Việt, thì không rõ Bộ GD-ĐT sẽ xây dựng lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai như thế nào đây?
Xét từ những điều kiện như vậy, ở Việt Nam có cơ hội để tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai sẽ ra sao, thưa bà?
- Có lẽ đã có một sự nhầm lẫn đâu đó.
Tiếng Anh chỉ trở thành ngôn ngữ thứ hai trong một số trường hợp đặc biệt. Ví dụ với người nhập cư hay du học sinh, tiếng mẹ đẻ là tiếng Thái, tiếng Hàn, tiếng Tây Ban Nha... đến nước Mỹ để học tiếng Anh - lúc đó tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai đối với họ.
Tức là, một người học tiếng Anh trong môi trường tiếng Anh được sử dụng rộng rãi bên ngoài lớp học thì tiếng Anh mới được xem là ngôn ngữ thứ hai.
Cũng vậy, chỉ ở những nước như Ấn Độ, Singapore, Philippines... nơi tiếng Anh được dùng trong giảng dạy, trong tòa án, trong công sở, trong kinh doanh... thì nó mới được xem là ngôn ngữ thứ hai.
Tôi cũng nghĩ có thể ý Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ muốn là Việt Nam đến một lúc nào đó nói tiếng Anh giỏi như mấy nước Đông Nam Á. Nhưng những nước thành công đó, như Singapore, vốn là cựu thuộc địa Anh.
Việt Nam trải qua 100 năm là thuộc địa của Pháp và có một thế hệ nói tiếng Pháp rất giỏi. Nếu ngay sau khi giành độc lập mình có chính sách vẫn tiếp tục sử dụng ngôn ngữ đó thì sẽ có được ngôn ngữ đó. Đất nước Singapore chính là như vậy.
Có những thời điểm chính sách có thể ra được để có thể biến thành ngôn ngữ thứ hai. Nhưng với Việt Nam, điều kiện lịch sử này không tái tạo được nữa.
Hoặc khi chúng ta quan hệ với nước nào đó nói tiếng Anh rất thân thiết và cho phép họ đầu tư từng khu, thì lúc đó chính sách không phải là giáo dục mà từ chính sách về kinh tế, chính trị, tự nhiên… sẽ có ngôn ngữ thứ hai. Nhưng ở Việt Nam, tôi không nhìn thấy cơ hội nào để chúng ta có ngôn ngữ thứ hai kiểu tự nhiên như vậy.
Tiếng Anh, học Tiếng Anh, ngôn ngữ thứ hai

Nói đi thì nói lại, chắc chắn Bộ trưởng cũng biết điều đó, và có thể ý ông là “dùng tiếng Anh tốt” chứ không phải là “ngôn ngữ thứ hai”.
“Ngôn ngữ thứ hai” theo định nghĩa chuyên môn là ngôn ngữ sử dụng trong đời thường, bên ngoài lớp học ngôn ngữ. Còn nếu sử dụng cụm từ “ngôn ngữ thứ hai” để chỉ một trình độ ngoại ngữ ở bậc cao (người học có thể sử dụng độc lập hoặc thành thạo trong công việc, trong cuộc sống) thì hãy trở lại những mục tiêu không kém tham vọng của Đề án 2020 (đề án dạy và học ngoại ngữ trong trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2020 - PV).
Hãy cứ kiên trì mục tiêu của Đề án 2020
Vậy hãy trở lại Đề án 2020. Trong Đề án này, Bộ GD-ĐT đã tiếp thu và làm tiếp những điều gì? Có gì trong đề án liên quan đến việc biến tiếng Anh thành thế mạnh, hay thành ngôn ngữ thứ hai không, thưa bà?
- Trong Đề án 2020 đã có yêu cầu, mục tiêu dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh.
Có lẽ, khi tân bộ trưởng nói “đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai” thì thực sự ông muốn nói tới việc sử dụng tiếng như ngôn ngữ giảng dạy trong nhà trường (tương tự các chương trình quốc tế tại Việt Nam).
Trong tiếng Anh có một cụm từ chuyên môn để chỉ điều này: “English as a medium of Instruction” – viết tắt là EMI. Đây là một chính sách được nhiều nước áp dụng như một trong những điều kiện để đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong tương lai (có lẽ là một tương lai xa). Và Đề án 2020 cũng đã đưa vào những yếu tố như vậy.
Nếu mục tiêu của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ là EMI thì tôi ủng hộ việc này.
Với cách làm của Việt Nam, điều tôi thấy điều dở nhất của Đề án 2020 là mục tiêu quá lớn, quá tham vọng lại thực hiện trong thời gian rất ngắn.
Nhưng điều đó vẫn không tệ bằng việc triển khai đề án đồng bộ trên cả nước với 63 tỉnh thành, không xem xét đến việc điều kiện các địa phương là rất khác nhau.
Mục tiêu của Đề án khá tham vọng nhưng vẫn có thể làm được có thể làm được ở một số nơi có điều kiện sẵn.
Nhưng thời gian đầu, chúng ta lại vội vã triển khai trên toàn quốc, và không làm theo sự khác biệt. Đó là lý do tại sao Đề án có lúc đã bị toàn xã hội phản ứng như vậy.
Đề án vấp phải sai lầm ở chỗ đó chứ không phải không có thành tựu. Thành tựu vẫn có ở những thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM...
Tiếng Anh, học Tiếng Anh, ngôn ngữ thứ hai

Bà có nhắc tới chính sách của những nước muốn đẩy tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong tương lai xa. Vậy nếu như có một lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam trong tương lai xa, theo bà, nói một cách ngắn gọn, lộ trình này gồm những giai đoạn nào, trong vòng bao nhiêu năm và cần những điều kiện gì?
- Nếu đặt câu hỏi này cho tôi và yêu cầu trả lời trong vài phút thì khác nào đánh đố. Muốn biết lộ trình bao nhiêu năm, cần phải nghiên cứu kỹ càng.
Thứ nữa, là tôi sẽ không dùng cụm từ “ngôn ngữ thứ hai” mà sẽ dùng cụm từ “nâng cao trình độ tiếng Anh của Việt Nam”.
Trong Đề án 2020 đã có những thành tựu mà nhiều người không thấy, do bị chìm trong những điểm chưa tốt. Tôi có thể kể một số việc mà Đề án 2020 đã  làm được.
Ví dụ việc đưa yêu cầu về đạt chuẩn Châu Âu hay Khung 6 bậc của Việt Nam, tôi cho rằng đây là một thành tựu. Mục tiêu đạt mức B1 –  tức bước đầu có năng lực sử dụng độc lập một ngoại ngữ - cho học sinh tốt nghiệp phổ thông là đúng, vì đó là mục tiêu cần cố gắng đạt được.
Theo tôi, Bộ Giáo dục nên tiếp tục bám lấy các mục tiêu của Đề án 2020 và làm tiếp. Tuy nhiên không thể làm cào bằng trong 63 tỉnh thành mà nên khuyến khích, trao quyền và đầu tư thêm cho các địa phương có điều kiện.
Nên cố gắng đẩy được ở những nơi đấy. Với những địa điểm như TP.HCM nên cho dạy – học bằng tiếng Anh luôn. Những địa phương chưa có điều kiện thì nâng cao trình độ tiếng Anh ở mức nền.
Nhưng cũng có những nơi chưa cần trình độ tiếng Anh B1 vì học sinh còn quá khó khăn (ví dụ ở những vùng dân tộc thiểu số, nơi học sinh nói tiếng dân tộc ở nhà và đi học bằng tiếng Việt, có nghĩa đối với các em thì tiếng Việt đã là ngôn ngữ thứ hai). Ở những nơi này, mục tiêu cần phải tập trung vào cái khác, ví dụ như trình độ tiếng Việt, chứ không phải là đổ tiền đưa máy móc dạy ngoại ngữ vào, đưa đi đánh giá trình độ tiếng Anh…
Và đó chính là cách sửa Đề án 2020.
Tôi sợ việc đặt mục tiêu thật lớn rồi lấy tiền ngân sách thực hiện
Theo bà, nếu Bộ GD-ĐT quyết tâm thì có thực hiện được mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không, dù ở tương lai xa?
- Nếu cứ làm như hiện nay thì tôi cho rằng không bao giờ làm được. Điều tôi sợ nhất là lại đổi mục tiêu của Đề án 2020 thành tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai.
Để thực hiện mục tiêu này, rõ ràng là phải dạy các môn học bằng tiếng Anh trong nhà trường, và sẽ cần bỏ một đống tiền để viết sách.
Tiếng Anh, học Tiếng Anh, ngôn ngữ thứ hai
Ảnh minh họa (Đinh Quang Tuấn)
Nhưng ai viết? Người Việt viết sách giáo khoa để dạy bằng tiếng Anh có ổn không, có viết được không? Khi đó 63 tỉnh thành chia tiền để viết hay là sẽ có những nhóm viết?
Quay lại Singapore, sau khi dành được độc lập, khi quyết định tiếp tục sử dụng tiếng Anh trong nhà trường thì họ nhập giáo trình để dạy. Một thời gian sau, khi đất nước đã phát triển và có đầy đủ điều kiện rồi thì họ mới viết sách.
Tôi chỉ sợ sau khi chủ trương sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ giảng dạy trong nhà trường rồi thì Bộ sẽ đổ tiền vào viết sách.
Đây sẽ là cơ hội để các nhóm lợi ích xuất hiện. Tôi đã từng tham dự những cuộc họp mà khi có người đề xuất cần phải nhập cái này cái kia thì y như rằng có ý kiến phản đối và đòi hỏi phải để cho Việt Nam làm.
Nhưng ai làm? Rất có thể đó là các nhóm lợi ích, những người tự cho mình là giỏi nhất. Và thường thì họ làm rồi chính họ lại đánh giá, như thế thì rất đáng lo ngại.
Tôi rất sợ đặt mục tiêu thật lớn rồi lấy tiền ngân sách để thực hiện. Ngoại ngữ là nhu cầu có thật và có lợi cho chính người học. Mục tiêu trong trường phổ thông tất nhiên phải đạt và Nhà nước phải chi tiền. Nhưng phải làm những việc có ý nghĩa và thành công mà không cào bằng.
Cứ nhìn thực tế trong vòng 10 năm vừa qua, khi cho các trung tâm nước ngoài vào thì trình độ tiếng Anh của xã hội nâng lên, mặc dù đắt và người dân sẵn sàng móc tiền túi ra học.
Còn Nhà nước không cần lấy ngân sách vào những việc đấy mà chỉ đặt yêu cầu theo luật, giám sát và hậu kiểm.
Ngược lại, hãy dùng ngân sách đầu tư vào vùng sâu, vùng xa để nâng lên trước hết là trình độ tiếng Việt cho người dân tộc chứ chưa cần nói tới tiếng Anh.
Và tất nhiên là không thể cào bằng.
- Xin cảm ơn bà!
Lê Huyền - Ngân Anh (thực hiện)

Đề tài "Áp dụng tiêu chuẩn ĐGCL của AUN" (4): NGHIÊN CỨU KHẢ THI NHƯ MỘT CÔNG CỤ HỖ TRỢ QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH

Entry này trích từ Chương 3 của báo cáo nghiệm thu đề tài, và cũng là một chương mà tôi cho là rất thú vị - ít ra là đối với chính tôi.
----------------
1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHẢ THI
Trước khi thực hiện lần đầu tiên một dự án (chính sách, chủ trương, quy định, đầu tư, quyết định …) quan trọng nào, chúng ta đều cần tiến hành một nghiên cứu khả thi. Nghiên cứu này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá độc lập một kế hoạch hoặc một đường hướng hoạt động dự kiến nào đó, đưa ra những phán đoán về các giả định có liên quan, những rủi ro và khả năng thành công của kế hoạch hoặc đường hướng hoạt động dự kiến ấy. Nghiên cứu khả thi xuất phát trong lĩnh vực kinh doanh nhằm tránh các quyết định sai lầm trong đầu tư, ngăn ngừa việc các doanh nghiệp nhắm vào các thị trường không có thật, và xác định các rủi ro và lỗi lầm thường gặp ngay cả trong những kế hoạch đầu tư hoặc kế hoạch chiến lược đã được xây dựng một cách kỹ lưỡng. Ngày nay nghiên cứu khả thi được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt trong các dự án giáo dục.

Nghiên cứu khả thi thuộc giai đoạn đầu tiên trong quá trình phát triển dự án. Trong nghiên cứu khả thi, tất cả các yếu tố, và các giả định, kịch bản thực tế được phối hợp cùng với nhau nhằm đưa ra một phương án khả thi nhất trong điều kiện thực tế cho phép của dự án. Nhờ vào nghiên cứu khả thi, ta có thể dự đoán và thay đổi các giả định cho phù hợp.

Nghiên cứu khả thi thông thường trong kinh tế gồm ba phần: phần nghiên cứu thị trường, phần kỹ thuật – phương pháp và phần tài chính. Ngày nay, nghiên cứu khả thi được dùng phổ biến trong các dự án vĩ mô trong giáo dục và công tác xã hội và nhiều khi được xem là công cụ duy nhất để đạt được các mục tiêu dự án (Novom M. L., 2007, trg 8). Tuy nhiên, cấu trúc của nghiên cứu khả thi khác nhau tùy thuộc theo tính chất và quy mô dự án.  Nghiên cứu khả thi cung cấp câu trả lời cho nhiều mặt của dự án, trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi quan tâm đến các loại khả thi sau:

Khả thi về kỹ thuật: Sự đáp ứng về nguồn lực chuyên môn, kiến thức của các đơn vị để thực hiện đánh giá chất lượng? Các quy trình và thủ tục quản lý của trường đủ năng lực cho đánh giá chất lượng thành công không?
Khả thi về thời gian: Đơn vị có đủ nguồn lực thời gian để chuẩn bị và thực hiện đánh giá không? Trong thời gian quy định (khoảng 01 năm theo quy trình AUN) thì có hoàn thành được không? Quy định về các mốc thời gian trong quá trình chuẩn bị có đáp ứng được không?
Khả thi về vận hành: Các bên liên quan cảm thấy như thế nào về quá trình đánh giá? Các bên liên quan có hợp tác chặt chẽ và phối hợp ăn ý với nhau trong quá trình chuẩn bị và thực hiện đánh giá không? Các trở lực đến từ đâu và làm thế nào hóa giải?
Khả thi về kinh tế: Chi phí tối thiểu để chuẩn bị và thực hiện đánh giá? Đơn vị có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện không?
Khả thi về văn hóa: Áp dụng bộ tiêu chuẩn AUN sẽ ảnh hưởng thế nào đến văn hóa đảm bảo chất lượng của đơn vị?

Nghiên cứu khả thi mang lại nhiều lợi ích cho dự án. Đây là một phép thử đầu tiên để chọn lọc các yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến dự án trong quá trình triển khai sau này. Những bài học kinh nghiệm, và thông tin mà nghiên cứu khả thi cung cấp cho dự án là vô cùng quý giá mà không kỹ thuật nghiên cứu nào khác có thể cung cấp, ví dụ: về nguồn nhân lực, về thời gian tiến hành, về các yếu tố khách quan, vv. Thông qua việc thử nghiệm các giả định, nghiên cứu khả năng giúp giảm thiểu rủi ro dự án trước khi ban hành dự án trên diện rộng. Đây chính là cơ hội để phổ biến dự án rộng rãi cho những cá nhân, tổ chức có liên quan. Sau khi nghiên cứu khả thi kết thúc, một số lượng không nhỏ cá nhân, tổ chức đều nắm thông tin và có một hiểu biết nhất định và dự án. Đó chính là tiền đề phản ánh mức độ sẵn sàng của yếu tố con người đối với dự án được triển khai sau này.

Cần chú ý rằng khi nói đến nghiên cứu khả thi không phải là một phương pháp nghiên cứu riêng biệt. Tên gọi của loại hình nghiên cứu này nhấn mạnh mục đích của việc sử dụng kết quả nghiên cứu, còn việc vận dụng phương pháp hoặc kỹ thuật nghiên cứu nào sẽ do yêu cầu của từng dự án nghiên cứu cụ thể. Nghiên cứu khả thi kết hợp nhiều bộ phận, thành phần, yếu tố của một dự án nên kết quả thu được mang nhiều ý nghĩa khác nhau cho các bên có liên quan. Vì thế một nghiên cứu khả thi tốt cần được thiết kế sao cho tất cả các bên có liên quan đều cảm thấy sẽ được học hỏi một kinh nghiệm mới, sẽ chứng minh để củng cố hoặc bác bỏ một giả định nào đó.

Vài điều cần lưu ý về nghiên cứu khả thi, theo tài liệu của United States Department of Agriculture (2000):

Nghiên cứu khả thi không phải là một dạng mô phỏng thực tế, được tiến hành trong phòng thí nghiệm để kiểm tra một hệ thống hay quy trình. Ngược lại, hệ thống, quy trình đó phải được tiến hành một cách cụ thể và toàn diện trên thực tế.

Nghiên cứu khả thi không đưa ra ý tưởng hay kết luận gì mới cho dự án như một nghiên cứu khoa học. Trái lại, dự án phải đưa ra hệ thống ý tưởng, quy trình rõ ràng chặt chẽ trước khi tiến hành nghiên cứu khả thi. Các giả định càng sát thực thì nghiên cứu khả thi càng có giá trị tham khảo, ứng dụng.

Nghiên cứu khả thi không nhằm chứng minh hay bảo chứng về mức độ thành công của dự án. Ngược lại, nghiên cứu khả thi phải được tiến hành khách quan, đưa ra những kết luận có thể tích cực hoặc tiêu cực về dự án để ban chủ nhiệm dự án ra quyết định tốt hơn. 

Kết quả của nghiên cứu khả thi tự thân không quyết định được độ thành bại của dự án. Nó chỉ phân tích các giả định và cho ta quan sát sự vận động, tương hỗ của các giả định trong quá trình tiến hành từ đó thấy được kết quả biến động thế nào nếu điều chỉnh các giả định từ đó giúp ban chủ nhiệm dự án ra quyết định tốt hơn nếu như dự án tiếp tục. Xét tính chất này, dù kết quả nghiên cứu khả thi có thành hay bại thì đóng góp của nó đối với dự án là quan trọng như nhau. Thậm chí, nghiên cứu khả thi cho ra kết quả không như dự đoán còn mang nhiều bài học kinh nghiệm quý báu hơn cho dự án sau này.

2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU KHẢ THI
Tất cả các nghiên cứu khả thi trải qua bốn giai đoạn: xác định mục đích nghiên cứu, xác định tính chất của nhóm đối tượng nghiên cứu, quyết định của ban chủ nhiệm dự án và quyết định liên quan tới nghiên cứu khả thi.

2.1 Xác định mục đích nghiên cứu
Các thành viên trong nhóm dự án phải hiểu mục đích của toàn bộ dự án. Trước khi nghiên cứu khả thi phải có một dự án rõ ràng, hoàn chỉnh với các mục đích, mục tiêu hướng tới rõ ràng và có thể đo lường được.

2.2 Xác định tính chất của nhóm đối tượng nghiên cứu
Kích cỡ nhóm đối tượng nghiên cứu mang ý nghĩa quan trọng, nhưng tính chất của nhóm đối tượng nghiên cứu quyết định và ảnh hưởng lớn đến kết quả của nghiên cứu khả thi. Một nhóm nhỏ đối tượng có quyết tâm cao và có năng lực thực hiện tốt dự án thì xác suất thành công sẽ cao hơn một nhóm lớn nhưng không hào hứng tham gia. Ta có thể biết được tính chất của nhóm đối tượng nghiên cứu qua sự hiện diện của họ trong các cuộc họp lên kế hoạch tổ chức, qua khảo sát, và thái độ làm việc và tiếp nhận thông tin.

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu khả thi, nhóm đối tượng nghiên cứu rất cần hỗ trợ bên ngoài của chuyên gia để hướng dẫn họ đi đúng hướng và giúp tiên liệu được các bước cần thiết tiếp theo trong sự biến động đa dạng trên thực tế. Tuy nhiên, các vị chuyên gia này không đóng vai trò quyết định, vì nghiên cứu khả thi được tiến hành vì lợi ích của chính nhóm nghiên cứu, nên chính họ phải đưa ra quyết định cuối cùng.

2.3 Ban chủ nhiệm dự án lên kế hoạch
Ban chủ nhiệm dự án quyết định cấu trúc và các bước của nghiên cứu khả thi. Người lãnh đạo của nhóm dự án phải có kiến thức sâu rộng về phạm vi nghiên cứu của dự án, thực sự quan tâm tới dự án vì lợi ích chung. Ban chủ nhiệm dự án phải liên kết được tất cả các bên liên quan để họ đều được biết và tham gia dự án. Một ban điều phối có thể được thành lập để giám sát, theo dõi quá trình tiến hành nghiên cứu khả thi. Trước khi ra quyết định, ban chủ nhiệm dự án cần trả lời những câu hỏi sau:
Nếu quyết định này trong tương lai bị chứng minh là sai thì sẽ ra sao?
Nếu như không thể quyết định được thì sẽ ra sao?

Một vài lưu ý khi ban chủ nhiệm ra quyết định:
Đế dự án tiến triển, không cần đạt đồng thuận tối đa.
Không ra quyết định dựa trên cảm tính và nhận định chủ quan, phiến diện.
Ý kiến của dù chỉ vài thành viên đáng tin cậy và có chuyên môn, thực lực quan trọng hơn tham khảo ý kiến một số đông người còn mù mờ về dự án.
Tránh hứa hẹn; cần đặt kỳ vọng dựa trên tình hình thực tế
Chỉ đưa ra một quyết định cuối cùng. Tránh né, hay trì hoãn ra quyết định suy cho cùng cũng là một quyết định và sẽ dẫn đến một kết quả nào đó. Trì hoãn càng lâu thì càng có thêm thông tin để quyết định nhưng cũng tiêu tốn thời gian, công sức tiền bạc và con người; vì vậy cần cần nhắc các yếu tố này trong lúc ra quyết định.

2.4 Quyết định tiến hành nghiên cứu khả thi
Đầu tiên, cần thận trọng cân nhắc xem liệu có cần một nghiên cứu khả thi dựa trên những điều kiện ( vốn không phải lúc nào cũng sẵn sàng hay luôn luôn được cung cấp) đã có hay không, ví dụ, yếu tố thời gian không cho phép tiến hành nghiên cứu khả khi chẳng hạn. Hoặc giả các nguồn lực mà ban chủ nhiệm đề tài mạnh và nhiều đủ để đảm bảo thành công tất nhiên của dự án mà không cần tính toán đến rủi ro, khi đó nghiên cứu khả thi là thừa và mất thời gian.

Trước khi tiến hành nghiên cứu khả thi, ban chủ nhiệm đề tài cần tính đến nhiều phương án khác nhau cho nghiên cứu này.

Khi rà soát tất cả các giả định trước khi tiến hành nghiên cứu khả thi, ít nhất phải trả lời được 4 câu hỏi:

1. Mục đích của nghiên cứu khả thi này là gì?
2. Nhóm đối tượng tham gia có thể gồm những thành phần nào, sản phẩm tạo ra là gì, khối lượng sản phẩm như thế nào?
3. Các trở ngại có thể gặp phải là gì, làm sao để ngăn chặn, giảm thiểu tác hại?
4. Dự án cần những yếu tố nào, tình trạng các yếu tố đó ra sao?

2.5 Xác định đơn vị tiến hành nghiên cứu khả thi
Các chuyên gia tư vấn thường được sử dụng trong lúc tiến hành nghiên cứu khả thi để họ có thể đưa ra đánh giá độc lập và khách quan. Chất lượng của chuyên gia tư vấn ảnh hưởng đến định hướng và chất lượng của dự án rất nhiều. Một dự án triển khai trong nghiên cứu khả thi có thể mời nhiều tư vấn chuyên trách những mảng, khía cạnh khác nhau. Nhiều chuyên gia tư vấn còn góp phần giảm bớt sự lệ thuộc vào một người, tăng thêm tính khách quan.

Chọn chuyên gia tư vấn không chưa đủ, ban điều phối chương trình phải cử người làm việc sát sao với chuyên gia để bảo đảm nghiên cứu khả thi được triển khai theo đúng ý tưởng của ban chủ nhiệm đề tài.

2.6 Sau khi nghiên cứu khả thi
Sau khi tiến hành nghiên cứu khả thi, chuyên gia tư vấn thường viết báo cáo nghiên cứu trong đó nhấn mạnh kết quả và đề xuất. Ban chủ nhiệm đề tài ra quyết định công nhận hay bác bỏ các kết luận và đề xuất này. Quyết định này tuyệt nhiên không bị ảnh hưởng bởi kết quả của nghiên cứu khả thi. Ví dụ, nghiên cứu khả thi không nên được công nhận chỉ vì kết quả tìm được là tích cực (ngầm chỉ dự án có thể được tiến hành hoàn toàn suôn sẻ).

Một khi nghiên cứu khả thi được công nhận kết quả, ban chủ nhiệm đề tài tiến tới sửa đổi và triển khai dự án trên thực tế. Tới giai đoạn này, ta thực sự phải lựa và tìm ra phương án tối ưu để tiến hành kế hoạch. Chính kinh nghiệm đúc kết trong nghiên cứu khả thi sẽ hỗ trợ ta rất nhiều trong giai đoạn triển khai dự án này. Lưu ý rằng, nghiên cứu khả thi cho kết quả tích cực cũng không bảo đảm dự án thành công tuyệt đối trong thực tế nếu có các yếu tố sau:

Tình hình thực tế có nhiều thay đổi sau khi nghiên cứu khả thi đã hoàn thành;
Các giả định chủ chốt của nghiên cứu cho kết quả không tốt, hay quá khó thực hiện
Thêm nhiều bên tham gia dự án
Các yếu tố đầu vào (tài chính, khả năng, độ rủi ro,…) có biến động.

2.7 Tiểu kết
Nghiên cứu khả thi là một phép thử thực tế cho phép ban chủ nhiệm dự án/ đề tài nhận ra những vấn đề cốt lõi, chủ chốt, có thể ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án (ở đây là việc áp dụng bộ tiêu chuẩn AUN-QA tại các trường ngoài công lập). Nghiên cứu khả thi được tiến hành như một kỹ thuật sau khi đã có kế hoạch dự án cụ thể và trước khi ban chủ nhiệm đề tài ra quyết định cuối cùng. Kết quả của nghiên cứu khả thi là bản đánh giá toàn điện các giả định của dự án, và các đề xuất điều chỉnh quy trình dự án. Kết quả của nghiên cứu khả thi không nhất thiết có liên quan đến sự thành công hay thất bại của dự án trong quá trình triển khai ở giai đoạn sau.