Friday, October 31, 2014

Về dự thảo phân tầng và xếp hạng trường đại học

Dẫn: Gần đây Bộ Giáo dục có đưa ra dự thảo về phân tầng và xếp hạng trường đại học để lấy ý kiến dư luận. Nhân dịp này, một vài tờ báo, đài phát thanh vv có liên hệ để hỏi ý kiến của tôi về vấn đề này. Dưới đây là phần trả lời của tôi cho báo Giáo dục VN, đã sử dụng cách đây ít lâu (chẳng biết có thay đổi gì không). Xin đăng lại nguyên văn.
------------


1   Việc Bộ GD&ĐT đưa ra bản Dự thảo về xếp hạng, phân tầng đại học Việt Nam ở thời  điểm này có hợp lí không, Đại học Việt Nam có cần xếp hạng hay phân tầng không khi hiện nay mặc nhiên các trường tốt đã được người học lựa chọn?

Việc phân tầng và xếp hạng đã được đưa vào Luật giáo dục đại học từ năm 2012 (có hiệu lực từ năm 2013) nên tôi muốn đổi câu hỏi trên lại một chút để trở thành: liệu nhà nước mà cụ thể là Bộ Giáo dục có cần thực hiện việc phân tầng và xếp hạng hay không. Và câu trả lời của tôi là nhà nước không nên phân tầng hoặc xếp hạng. Điều này cũng đã có những nhà khoa học lên tiếng ngay từ khi Luật giáo dục đại học còn là dự thảo. Chỉ nên phân loại (classification) chứ không nên phân tầng (stratification).

“Phân loại” là nhằm phục vụ công tác quy hoạch và đầu tư của nhà nước cho phù hợp với loại hình trường để cuối cùng nhắm đến mục tiêu phát triển đất nước. Đó là điều rất cần thiết và nên làm. Còn “phân tầng” trước hết mang hàm ý có tầng ở trên cao, có tầng ở dưới thấp, dẫn đến những thành kiến sai lệch, vì không thế nói những trường ở tầng trên (vd: trường đại học định hướng nghiên cứu) thì đương nhiên là tốt hơn hoặc cần thiết hơn những trường ở tầng dưới (trường đại học định hướng ứng dụng hoặc định hướng thực hành). Tất cả các loại trường đều có vai trò, vị trí trong hệ thống giáo dục của VN và đều cần thiết như nhau.

Tôi nghĩ, có lẽ nhà nước/Bộ Giáo dục khi nói phân tầng thực ra là nhắm đến việc phân loại, nhưng do trong tiếng Việt hệ thống khái niệm về quản lý giáo dục đại học chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng nên có chút nhầm lẫn như thế.

2    Sau khi Đại học được phân tầng và xếp hạng, liệu các trường có nẩy sinh nhiều vấn đề trong việc đua tranh giành thứ hạng cao bằng mọi giá. Mục tiêu xếp hạng giáo dục đại học để xã hội nhận biết chất lượng các trường vô tình bị biến về chất? Bà suy nghĩ thế nào về ý kiến này?

Nếu nhà nước quyết định bắt buộc phải thực hiện phân tầng và xếp hạng thì chắc chắn sẽ có việc chạy đua để giành vị trí cao hơn, đặc biệt trong khối trường công, nếu như vị trí xếp hạng và việc được xếp vào tầng nào có liên quan trực tiếp đến đầu tư của nhà nước. Có lẽ sẽ có nhiều trường muốn được xếp vào tầng trên cùng là đại học định hướng nghiên cứu, dù về thực chất nhà trường chưa chắc đã có năng lực nghiên cứu hoặc thực sự quan tâm đến nghiên cứu. Trường tư sẽ đỡ hơn, vì không nhận được đầu tư của nhà nước. Và nếu có chạy đua thì chắc chắn sẽ có những số liệu ảo, thậm chí có thể còn có những tiêu cực, để cố giành được vị trí cao trong mỗi tầng, và để lọt vào tầng cao nhất. Là một viễn cảnh không mấy tươi sáng mà nhà nước cần cân nhắc kỹ trước khi có quyết định về việc triển khai.

3   Có thể sau khi được phân tầng và xếp hạng, Giáo dục Đại học Việt Nam sẽ phân thành 3 tầng, 5 hạng. Nhưng cũng có nhiều quan điểm bày tỏ Đại học Việt Nam chỉ nên có hai loại hình là “Đại học theo nghiên cứu” và “Đại học theo ứng dụng”. Bà thấy quan điểm nào hợp lý, vì sao?

Tôi ủng hộ việc phân làm hai loại: Đại học nghiên cứu và đại học ứng dụng.

4   Theo bà, ở Việt Nam, Đại học cần được xếp hạng như thế nào?

Ở các nước trên thế giới, xếp hạng là việc của các tổ chức nghiên cứu về giáo dục đại học, hoặc của giới truyền thông. Nếu việc xếp hạng do các tổ chức nghiên cứu thực hiện thì đối tượng phục vụ của việc xếp hạng chính là các nhà nghiên cứu. Do vậy, số liệu thường chính xác hơn, sự diễn giải cũng thường thận trọng hơn,  và kết quả xếp hạng thường đáng tin cậy hơn. Còn nếu đó là do các tổ chức truyền thông thực hiện thì có thể thiếu sự chính xác và thận trọng của các tổ chức nghiên cứu, do đối tượng phục vụ cũng chỉ là bạn đọc của các tờ báo phổ thông. Xếp hạng kiểu này chủ yếu là cung cấp thông tin nhanh cho bạn đọc có thêm thông tin khi chọn trường hoặc chương trình học mà thôi.

5   Lâu nay Việt Nam chưa có tên trên bản đồ xếp hạng Đại học thế giới, làm thế nào để chúng ta có được một thứ hạng? 

Tôi không ủng hộ việc lấy thứ hạng trong các bảng xếp hạng quốc tế làm mục tiêu phấn đấu và xây dựng kế hoạch hoạt động của một trường. Ngược lại, các trường cần lấy việc phục vụ mục tiêu phát triển đất nước và đào tạo nhân lực phục vụ xã hội làm mục tiêu phấn đấu, và cố gắng ngày càng làm tốt hơn những mục tiêu này. Thứ hạng trên bản đồ đại học thế giới chỉ nên xem là cái chúng ta đương nhiên có được sau khi chúng ta làm thật tốt, chứ không nên xem là mục tiêu và cứ cắm đầu cắm cổ chạy theo mục tiêu này cho bằng được. Nếu bây giờ chúng ta chưa có trong bảng xếp hạng nào thì điều đó chỉ có nghĩa là chúng ta còn thua nhiều trường, nhiều nước khác, vậy cần phải phấn đấu hơn nữa, chứ không phải cần làm mọi cách để lọt vào các bảng xếp hạng đó. 

6   Theo bà, việc xếp hạng có trở nên quan trọng hay không khi giáo dục Đại học Việt Nam cơ bản về chất vẫn chưa chuyển mình so với quốc tế?
 
Tôi ủng hộ việc báo chí hoặc các tổ chức nghiên cứu độc lập với Bộ Giáo dục thực hiện xếp hạng để có thêm thông tin cho người tiêu dùng giáo dục, đồng thời có sự giám sát của thị trường đối với các trường. Nhà nước cũng có thể tham khảo thông tin về thứ hạng của các trường từ các tổ chức nghiên cứu. Tuy nhiên nhà nước không cần và không nên đứng ra xếp hạng, vì sẽ dễ gây ra sự méo mó về số liệu nếu các trường đối phó bằng cách đưa ra số liệu không đúng hoặc thậm chí có sự tiêu cực để có thứ hạng cao.

Saturday, October 11, 2014

Quá lớn nên không thể thất bại: Vai trò của các trường đại học vì lợi nhuận tại Mỹ (Phần 2)



(tiếp theo phần 1 - và hết)
Vai trò và quy mô của khu vực vì lợi nhuận
Hơn 20 năm trước đây, chẳng ai - kể cả những người làm việc trong khu vực vì lợi nhuận - có thể đoán được rằng có đến 12 % số người học đại học sẽ theo học tại các trường đại học vì lợi nhuận vào năm 2011. Và cho đến nay, vẫn chưa ai xác định khu vực này sẽ có quy mô ra sao để đáp ứng nhu cầu học tập sau trung học của công chúng.

Với tốc độ phát triển cũng như những vấn đề hiện nay của khối trường đại học tư vì lợi nhuận, chúng ta cần một quy mô như thế nào cho khu vực vì lợi nhuận để đạt được sự tối ưu? Nhu cầu học tập sau trung học sẽ giúp xác định quy mô của giáo dục đại học vì lợi nhuận. Nếu thị trường đã bão hòa, thì rõ ràng là không cần mở rộng thêm nữa. Nhưng vấn đề này thật ra không đáng quan tâm vì nó sẽ được tự giải quyết: Lúc ấy, khu vực vì lợi nhuận sẽ không tạo ra được lợi nhuận, nên sẽ tự giảm bớt hoặc đóng cửa. Tuy nhiên, dễ thấy rằng mọi việc đang diễn ra theo chiều ngược lại: nước Mỹ đang cần ngày càng nhiều những công dân có bằng đại học những các trường đại học truyền thống sẽ không thể đáp ứng nhu cầu ấy.

Như đã từng được nêu trên tạp chí này[1], khi Hoa Kỳ chuyển dần từ một nền kinh tế công nghiệp trong phạm vi một quốc gia sang nền kinh tế tri thức toàn cầu, nó sẽ cần một tỷ lệ người có học vấn cao hơn trong nhiều khu vực kinh tế khác nhau – điều này cần thiết đối với từng cá nhân cũng như toàn xã hội. Vì vậy, Tổng thống Hoa Kỳ đã đưa ra mục tiêu sẽ vượt lên thành tốp đầu trong số các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) các quốc gia về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học trong dân số. Theo ước tính trong vòng 10 năm tới, nước Mỹ sẽ cần tăng thêm mỗi năm một triệu sinh viên nhằm đáp ứng mục tiêu này. Và điều này sẽ không thể đạt được nếu không có sự tham gia đáng kể của các nhóm sinh viên sau đây: những người trưởng thành đang có việc làm, những người mà trước đó chưa bao giờ học đại học và cũng có rất ít những cơ hội lựa chọn – và đó cũng chính là đa số công dân của đất nước này.


Các trường đại học vì lợi nhuận đang tìm cách đáp ứng với thách thức này mạnh mẽ hơn bất cứ loại trường nào khác. Các trường tư phi lợi nhuận thường không quan tâm đáp ứng các chính sách của nhà nước hay sự gia tăng nhu cầu đối với các ngành đào tạo định hướng nghề nghiệp rõ ràng trong một thị trường việc làm đầy rẫy thất nghiệp, còn các trường công lập thì đang phải vật lộn với sự cắt giảm ngân sách và những bất ổn trong tổ chức của mình.

Các trường cao đẳng và trường đại học đào tạo cử nhân công lập hiện đang gặp nhiều khó khăn để tiếp tục giữ được số lượng sinh viên như trước đây, và một vài trường đã có ý định giảm lượng sinh viên. Ví dụ, hệ thống đại học California State University (CSU), hiện đã giảm khoảng 10.000 sinh viên so với năm trước, đồng thời cũng chấp nhận nhiều sinh viên từ bên ngoài tiểu bang vào học để thu học phí cao hơn. Hệ thống trường Cao đẳng cộng đồng California (CCC) thì đã giảm 400.000 sinh viên.


Như vậy, trong khi chính phủ đang kêu gọi gia tăng số người có bằng đại học, thì các trường đại học công lập lại đang giữ nguyên số lượng hoặc thậm chí giảm lượng sinh viên. Mà để giữ lượng sinh viên như hiện nay thì các trường này cũng đang phải trả giá. Sĩ số lớp học lớn hơn, số môn học ít hơn, và các lớp học mùa hè thường xuyên bị cắt giảm. Nói chung các trường đại học công, sẽ không thể đáp ứng nhu cầu học tập đang gia tăng bởi vì họ đã hoạt động hết công suất với cấu trúc hiện nay.

Có hai kịch bản thay thế có thể xảy ra. Trước hết, các tiểu bang có thể tăng thuế để cho phép các trường nhận thêm sinh viên. Thứ hai, các trường đại học công có thể thay đổi cơ bản cách vận hành, cắt giảm chi phí, để có thể phục vụ nhiều sinh viên hơn. Cả hai kịch bản này dường như lại rất khó xảy ra. Dù thế nào đi nữa, thì các công dân và các đại biểu dân cử của các tiểu bang cũng không thích thú gì với việc tăng thuế. Tương tự như vậy, tại các trường thì cả nhà quản lý, giảng viên lẫn công đoàn đều tỏ ra rất ít quan tâm đến việc tái cấu trúc lại nhà trường.

Nếu chúng ta đồng ý rằng sự gia tăng tham gia vào giáo dục đại học là rất quan trọng đối với kinh tế và phúc lợi xã hội của đất nước và thừa nhận rằng 1) khu vực nhà nước không có khả năng tăng lượng sinh viên một cách đáng kể và 2) đại học tư phi lợi nhuận không thể đáp ứng các mục tiêu đầy tham vọng đã được thiết lập, liệu chúng ta sẽ có những lựa chọn thay thế nào để đảm bảo rằng các trường đại học tư vì lợi nhuận có thể mở rộng mà vẫn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức của ngành giáo dục?

Dù muốn hay không, thì nước Mỹ vẫn cần khu vực vì lợi nhuận để đảm bảo khả năng phát triển kinh tế. Nếu chúng ta đồng ý – dù là một cách thích thú hay miễn cưỡng – rằng khu vực vì lợi nhuận có vai trò trong việc đảm bảo sự phát triển của giáo dục đại học Mỹ, thì chúng ta cần quan tâm đến những điều gì để đảm bảo rằng khu vực này sẽ hoạt động một cách có trách nhiệm?

Phải làm thế nào cho đúng?
Đảm bảo tuyển sinh có đạo đức
Nếu chúng ta thừa nhận rằng việc tuyển người học phi truyền thống đòi hỏi phải có những cách thức mới, thì cần làm như thế nào để đảm bảo rằng việc tuyển sinh vừa có hiệu quả vừa có đạo đức? Những người chỉ trích khu vực vì lợi nhuận trong những năm qua đã cáo buộc rằng toàn bộ khu vực này là tệ hại. Các phát ngôn viên và những người vận động hành lang của những trường tư vì lợi nhuận đã đáp lại rằng "đó chỉ là một số trường hợp cá biệt" và phản đối việc bị nhà nước giám sát. Mặc dù cần nghiên cứu thêm về việc này, các tiểu bang cũng vẫn nên phải đặt ra các tiêu chuẩn để vừa chấp nhận những cách thực hành mới, vừa đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng giáo dục.

Để được tiểu bang cấp phép hoạt động, có thể yêu cầu các nhân viên tư vấn của các trường phải có chứng chỉ để đảm bảo họ hiểu rõ các tiêu chuẩn đạo đức cũng như cách thực hành tuyển sinh nào là chấp nhận được và không chấp nhận được. Bất kỳ trường nào cung cấp thông tin sai lệch trên website hoặc quảng cáo sai đều cần phải bị vạch rõ về các hành vi phi đạo đức này, đồng thời bị phạt tiền và cuối cùng có thể bị cơ quan bảo vệ người tiêu dùng của tiểu bang đóng cửa. Tuy nhiên hiện đang có những tiểu bang hầu như không có quy định về giấy phép mở trường, và trong vì vậy chính quyền liên bang có thể phải làm việc thông qua các tổ chức kiểm định khu vực để đảm bảo rằng nhân viên tuyển sinh của các trường được huấn luyện thích hợp và cung cấp chính xác các thông tin về nhà trường chính xác cả trên trang web lẫn các ấn phẩm quảng cáo.

Thông tin cho người học về khoản nợ phải vay

Ngoài những kẻ lường gạt để kiếm lợi, sẽ chẳng ai được ích lợi gì khi người học phải vay một khoản nợ học tập rất lớn để rồi không thể trả được. Người nộp thuế sẽ mất hàng triệu đô la nếu người học không có khả năng trả nợ và chính phủ phải gánh chịu. Các trường vì lợi nhuận muốn tiếp tục hoạt độngđều biết rằng người học sẽ không tiếp tục đến học nếu chi phí học tập quá cao. Còn người học thì phải trả hàng ngàn đô la cho một nỗ lực mà cuối cùng không có lợi gì cả.

Chính phủ liên bang cần phải đảm bảo rằng người học hiểu biết đầy đủ về nghĩa vụ trả nợ khoản vay học tập của mình khi quyết định đăng ký học. Vai trò của chính phủ là vừa giáo dục người tiêu dùng vừa ngăn chặn các hành vi lừa đảo. Thuốc lá bắt buộc phải in lời cảnh báo có hại cho sức khỏe, và đã có một chiến dịch giáo dục công chúng rầm rộ về sự nguy hiểm của thuốc lá. Khi một sản phẩm độc hại được bán ra, thì Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ sẽ phải ra quyết định thu hồi. Người tiêu dùng tiềm năng của giáo dục đại học cũng cần được bảo vệ tương tự.

Có hai câu hỏi quan trọng liên quan đến các khoản vay nợ học tập của sinh viên.

Trước hết họ cần được cung cấp những thông tin gì khi họ nộp đơn xin vay hỗ trợ học tập của liên bang, và ai sẽ có nghĩa vụ cung cấp những thông tin này cho họ? Người học có thể đã được cung cấp đầy đủ thông tin, nhưng do sự thiếu hiểu biết của các sinh viên thế hệ đầu tiên từ các gia đình có thu nhập thấp, nên những thông tin ấy có thể chẳng có ý nghĩa gì đối với họ.

Mặc dù tất cả các trường đều được yêu cầu tổ chức những buổi hướng dẫn về tài chính cho sinh viên trước khi đăng ký nhập học, nhưng hiệu quả của chỉ một đợt hướng dẫn là rất nhỏ và khó có thể đánh giá. Điều này cũng tương tự như việc các nhà hàng được yêu cầu liệt kê lượng calories trong từng món ăn,  nhưng chẳng ai cho rằng họ phải có trách nhiệm hướng dẫn cho thực khách những hiểu biết về dinh dưỡng. Hiểu biết về tài chính là một quá trình phải mất nhiều năm. Vì vậy, gánh nặng của việc hướng dẫn người học về tài chính chủ yếu là trách nhiệm của chính quyền tiểu bang và liên bang, những nơi cần đưa ra và hỗ trợ tài chính cho các chương trình hướng dẫn người học về các khoản vay, học bổng, khoản nợ, v.v…  và cũng chẳng phải chỉ riêng những người học ở những trường vì lợi nhuận.

Hơn nữa, ai phải chịu trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng? Nếu nhiều sinh viên của một trường có khuynh hướng mắc phải những khoản nợ cao ngất ngưởng đến khó chấp nhận, thì có thể giải quyết bằng nhiều cách: gửi thông báo đến người học, đăng thông tin bắt buộc trên trang web của trường và trên các ấn phẩm giới thiệu trường (tương tự như lời cảnh báo trên bao thuốc lá), v.v... Ở đây, cả chính quyền tiểu bang lẫn liên bang đều phải có vai trò, bởi vì một số trường đại học tư vì lợi nhuận hoạt động trên toàn quốc, trong khi một số khác chỉ hoạt động trên phạm vi một tiểu bang.

Và cuối cùng, nếu sinh viên của một trường bị mắc nợ quá nhiều thì trách nhiệm của trường ấy là như thế nào? Vai trò của chính quyền liên bang chính là truất quyền được hỗ trợ và vay nợ học tập của trường ấy; chính quyền tiểu bang cũng cần làm tương tự với những khoản hỗ trợ của tiểu bang. Các tiểu bang cũng có thể giám sát các khoản nợ của người học tại từng trường, khi một trường đã vượt quá mức nợ trung bình, thì sẽ được nhận một thư cảnh báo. Về lâu về dài, chính các tiểu bang phải có trách chấm dứt hoạt động của các công ty hoạt động gian lận bằng cách sử dụng quyền cấp phép hoạt động của mình.

Đào tạo kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động
Các sinh viên theo học tại các trường tư vì lợi nhuận vào năm 2011 cũng vì lý do tương tự như các phụ nữ trẻ đi học tại trường Katherine Gibbs cách đó một thế kỷ: hòng được đào tạo các kỹ năng cần thiết cho thị trường. Một người muốn học nghề đầu bếp và bỏ tiền ra để học những kỹ năng cần thiết sẽ cảm thấy thất vọng khi biết rằng công việc duy nhất mà họ có thể kiếm được với tấm bằng chỉ là rửa chén mà thôi.

Tất nhiên nhận xét này không phải lúc nào cũng đúng. Kiếm việc khi kinh tế thuận lợi tất nhiên sẽ dễ dàng hơn khi kinh tế đang khó khăn. Một số nghề đòi hỏi người vào nghề phải bắt đầu từ bậc thấp nhất. Và không phải lúc nào cũng có một mối quan hệ tuyến tính giữa những gì được học ở trường và công việc đầu tiên mà người học tìm được.

Tuy nhiên, nói rằng không có mối liên hệ nào giữa việc học ở trường và công việc sau khi tốt nghiệp cũng là ngụy biện. Cần phải có những chính sách sao cho những yếu tố tác động bên ngoài đã được tính đến nhưng vẫn bảo vệ được người tiêu dùng và người đóng thuế.

Chưa có vấn đề nào liên quan đến đại học tư lại gây tranh cãi cho bằng quy định sinh viên tốt nghiệp phải có việc làm xứng đáng. Có người cho rằng các trường phải chịu trách nhiệm về loại công việc mà người học sẽ kiếm được sau khi ra trường, còn người khác thì không đồng ý. Mặc dù trách nhiệm trong việc tìm được công việc cho mình chủ yếu là của người tốt nghiệp, nhưng các trường không được quyền làm cho người học tin rằng họ sẽ tìm được việc khi trên thực tế đang không có việc, hoặc khi những công việc được hứa hẹn có mức lương thấp hơn nhiều so với những gì mà người học mong đợi dựa trên thông tin mà nhà trường cung cấp.

Các tổ chức kiểm định cần phải đảm bảo rằng các trường cung cấp cho người học tiềm năng không chỉ các thông tin về chi phí của toàn khóa học mà còn về những công việc mà họ có thể kiếm được sau khi hoàn tất – và yêu cầu này là cho cả các trường đại học vì lợi nhuận lẫn những trường truyền thống. Chẳng hạn, người học cần được biết rằng chứng chỉ về mát-xa trị liệu do một trường nghề vì lợi nhuận cung cấp sẽ chỉ kiếm được mức lương $ 40,000/ năm, không có bảo hiểm y tế và cũng hầu như không có cơ hội thăng tiến; cũng như một sinh lấy bằng Tiến sĩ về văn học thời Victoria từ một trường tư phi lợi nhuận ưu tú cũng cần được biết rằng sẽ không có vị trí giảng viên nào chờ đợi họ đâu. Rồi sau đó, người học sẽ có những quyết định với đầy đủ thông tin. Tuy nhiên, “việc làm xứng đáng” cũng phải được xác định dựa trên mức lương trong một khoảng thời gian dài chứ không thể xác định trên mức lương của công việc đầu tiên ngay sau khi tốt nghiệp.

Những mối liên hệ qua lại và chặt chẽ giữa người học, nhà trường, và môi trường kinh tế bên ngoài hiện nay không còn giống với như cách đây vài thập niên. Hiện nay chúng ta không còn có thể để mặc cho sinh viên tự quyết định họ sẽ học ngành gì rồi hy vọng rằng sau đó họ sẽ có lúc tìm được việc. Quả là không thể đòi hỏi các trường đại học chỉ nhằm vào việc đào tạo nhân lực cho nền kinh tế, nhưng các trường cũng phải có vai trò thiết yếu trong việc cung cấp cho người học những kỹ năng ở trình độ cao và nghề nghiệp với mức lương xứng đáng.

Vai trò điều tiết của Chính phủ
Trong vài năm qua, khối trường đại học tư vì lợi nhuận đã phản ứng lại với hầu hết các quy định mà Bộ Giáo dục đề xuất. Trong khi bản thân các trường này cũng có các cải cách ít nhiều và bắt đầu chấp nhận những nghiên cứu từ bên ngoài so với thời kỳ cách đây một thập niên, nhưng nhìn chung các trường vì lợi nhuận vẫn giữ triết lý về tự do thương mại và định hướng thị trường. Giả định của họ là thị trường có cơ chế tự điều chỉnh và nó sẽ giải quyết mọi vấn đề; các trường tai tiếng sẽ tự động bị loại khỏi cuộc chơi. Theo quan điểm này, chính phủ hầu như không có vai trò gì ngoài việc trợ cấp cho người học để tạo thuận lợi cho sự phát triển của các công ty.

Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn tăng số lượng người tốt nghiệp đại học thì cần phải giữ cho khu vực giáo dục đại học có sự cạnh tranh lành mạnh, và điều này sẽ không thể xảy ra nếu có các quy định quá khắt khe khiến các trường tư vì lợi nhuận không hoạt động được cũng như nếu chúng ta cho rằng cơ chế thị trường sẽ giải quyết mọi vấn đề. Còn nếu chúng ta muốn khối trường tư vì lợi nhuận hoạt động tốt, thì chúng ta cần có những chính sách tổng quát sau đây.

Trước hết, cần phải đưa khối trường tư vì lợi nhuận vào trong kế hoạch phát triển hệ thống giáo dục của tiểu bang – có thể thêm vào danh sách  các trường đang được điều phối bởi các Ủy ban giáo dục đại học của tiểu bang, hoặc thông qua những hội đồng riêng biệt khác. Việc hoạch định sẽ không thể xảy ra nếu như các khu vực trong cùng một ngành công nghiệp không có cách thức để nắm được thông tin chính thức. Đến lúc ấy, tất cả mọi loại hình trường sẽ cần phải cung cấp thông tin cho cả người tiêu dùng lẫn nhà chính sách qua các dữ liệu về chi phí, tỷ lệ tiếp tục học, tỷ lệ tốt nghiệp và việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Một số tiểu bang cũng cần tăng cường năng lực quản lý các trường đại học tư vì lợi nhuận. Ví dụ, hiện nay ở Califorina chỉ có vài công chức phải giám sát hoạt động của hàng trăm trường tư vì lợi nhuận. Những công chức này có quá ít thời gian để tìm ra những vụ gian lận, chứ đừng nói đến việc thông báo cho công chúng hoặc đóng cửa các trường này và giải quyết những kiện tụng về sau. Hơn nữa, trong thời đại khi công nghệ cho phép các tổ chức hoạt động xuyên biên giới một cách dễ dàng, các tiểu bang cần phải có cơ chế hợp tác để quản lý các trường hoạt động trong khu vực và trên toàn quốc, cũng như hỗ trợ sự tăng trưởng hợp pháp của chúng.

Mặc dù giáo dục và lợi nhuận không hẳn là không thể đi được với nhau, nhưng việc giáo dục các công dân của một đất nước cũng chẳng thể giống với việc sản xuất kem. Đúng là nếu không có kem, thì dân chúng có thể hơi buồn một chút, nhưng điều đó không đe dọa sự ổn định của kinh tế và xã hội. Giáo dục đại học – dù là phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận – là điều tối cần thiết cho tương lai của đất nước.

Các trường đại học vì lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong thế kỷ 21, bởi vì nếu không có chúng, thì chúng ta không thể đạt được tỷ lệ người có bằng đại học như mong muốn. Tuy nhiên, mặc dù nền giáo dục đại học của nước Mỹ nên - nói đúng hơn là phải - bao gồm cả các trường vì lợi nhuận, những trường này cũng cần phải chấp nhận trách nhiệm và sự giám sát cần thiết đối với tất cả những ai tham gia vào ngành công nghiệp giáo dục đại học.
 ----------


Tài liệu tham khảo
1. Hentschke, G. C., Lechuga, V. M. and Tierney, W. G. (eds) (2010) For-profit colleges and universities: Their markets, regulation, performance, and place in higher education, Stylus, Sterling, VA.
2. Tierney, W. G. and Hentschke, G. C. (2007) New players, different game: Understanding the rise of for-profit colleges and universities, Johns Hopkins University Press, Baltimore, MD.
3. Tierney, W. G. and Hentschke, G. C. (2011) Making it happen: Increasing college access in California higher education: The role of private postsecondary providers, National University System Institute for Policy Research, La Jolla, CA. Retrieved from http://www.nusinstitute.org/assets/resources/pageResources/NUSIPRMakingItHappen.pdf
4. Weisbrod, B. A., Ballou, J. P. and Asch, E. D. (2008) Mission and money: Understanding the university, Cambridge University Press, Cambridge, UK.