Showing posts with label phamthily. Show all posts
Showing posts with label phamthily. Show all posts

Sunday, October 28, 2012

Kết thúc bài tranh luận với PTL và NVT: Chẳng có gì phải la hoảng lên như vậy về nghiên cứu giáo dục của VN!

Thực ra tôi không muốn viết bài này nữa, vì mọi  việc cho đến giờ cũng đã khá rõ ràng: bài viết trên báo Tuổi Trẻ ngày 25/10/2012 có rất nhiều điểm không chính xác về số liệu, không nhất quán về phương pháp, và không logic trong lập luận, vì vậy giá trị thông tin của bài báo là rất thấp, nếu không nói là chẳng có chút giá trị nào.

Tôi nghĩ, nếu các tác giả là người có trách nhiệm, hoặc báo Tuổi Trẻ quan tâm đến ý kiến của bạn đọc (là tôi) thì nên có phản hồi. Nhưng tôi cũng biết đòi hỏi điều này đối với VN là hơi khó, nên có lẽ những phản hồi, tranh luận của tôi sẽ chỉ rơi vào khoảng không im lặng mà thôi, như tôi đã có kinh nghiệm một vài lần khác với tác giả Phạm Thị Ly.

Nhưng đã hứa với độc giả là sẽ kết thúc bài tranh luận hôm nay nên tôi vẫn phải viết thêm vài giòng, trong đó có một điểm mà tôi vẫn chưa nêu rõ ràng trong 3 bài trước. Đó là: tôi thực sự không hiểu các tác giả đưa những thông tin về GDP của VN và các nước khác trong khu vực vào phần cuối của bài viết để làm gì.

Theo tôi, đây là phần viết yếu nhất của bài viết, vì có vẻ các thông tin được lắp ghép từ các nguồn khác nhau mà dường như không có mục đích, kèm những phát biểu khá chủ quan, không có chứng cứ. Ngoài ra, tôi cũng không hiểu tại sao tác giả đang lấy số liệu công bố khoa học từ năm 1996 đến 2010, mà về kinh tế lại lấy số liệu từ năm 1970. Mốc 1970 ở đây có ý nghĩa gì thế, và tại sao lại lấy xa thế?

Quan trọng hơn, sau khi phát biểu rằng có những số liệu (nhất quán!) cho thấy về mối liên hệ giữa NCGD với chất lượng của nền giáo dục, bài viết thay vì đưa ra những số liệu cho thấy NCGD của VN kém đi kéo theo sự tụt hậu của giáo dục (một điều mà tôi không tin các tác giả có thể dễ dàng chứng minh), thì lại đưa ra những thông tin về thu nhập bình quân đầu người.

Cách viết như vậy khiến ta không thể hiểu theo cách nào khác hơn là cho rằng các tác giả tin rằng có một mối liên hệ trực tiếp và tuyến tính giữa GD và kinh tế, và cứ hễ nơi nào giáo dục tốt thì ngay lập tức kinh tế cũng phải tốt. Một nhận định chưa được chứng minh và có thể xem là khá hồ đồ. Những lời phát biểu như thế này mà không có số liệu kèm theo thì quả là thiếu thận trọng.

Xin mọi người hãy đọc lại phần trích dẫn dưới đây:

"Chưa có những chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa. So với năm 1970 thì thu nhập bình quân trên đầu người đã tăng gần 20 lần, trong lúc đó Malaysia tăng 21 lần, Thái Lan tăng 24 lần, Indonesia tăng 36 lần, Singapore tăng 45 lần. So sánh tương quan giữa các nước với VN thì năm 1970 thu nhập bình quân đầu người của Indonesia cao hơn VN 1,3 lần, đến năm 2010 Indonesia đã cao hơn VN 2,4 lần. Cùng thời gian đó, tương quan GDP đầu người giữa Malaysia và VN là 6,3 lần và 6,8 lần; giữa Singapore và VN là 14,9 lần và 34,2 lần; giữa Thái Lan và VN là 3,1 và 3,7 lần."

Nhận xét và tranh luận:

- Những "dữ liệu nhất quán với nhận xét" rằng "sự yếu kém trong NCGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục" mà các tác giả đã phán ra ở trên là gì, xin vui lòng cho biết.

Riêng tôi, khi ngồi xem xét kỹ các số liệu trong Scimago thì tôi thấy nếu chỉ xét theo công bố quốc tế, thì chẳng có gì đáng phải la hoảng lên như thế về NCGD của VN. Nếu nó tệ thì nó cũng chỉ tệ ở mức trung bình, vì còn có những ngành tệ hơn, dù ta có thể tin là mức đầu tư dành cho những ngành này là cao hơn ngành giáo dục.

- Nếu không có dữ liệu, các tác giả không nên tùy tiện "gợi ý" rằng  vì nghiên cứu giáo dục của VN kém (theo nghĩa: xếp hạng công bố quốc tế theo cơ sở dữ liệu của Scimago là kém) nên nền giáo dục của VN hiện nay mới tụt hậu như thế. Và sự suy diễn lại càng tệ hại, thiếu logic hơn khi các tác giả có hàm ý rằng vì NCGD kém --> giáo dục tụt hậu --> kinh tế kém phát triển.

Xin được nhấn mạnh với 2 tác giả rằng đây là một sự suy diễn quá mức đến không thể chấp nhận được, vì chúng ta chỉ mới có trong tay một ít số liệu về công bố quốc tế theo một cách xếp hạng là Scimago. Trên thế giới còn nhiều cơ sở dữ liệu và cách xếp hạng khác nữa, đồng thời cũng không thể không quan tâm đến số lượng và chất lượng của những nghiên cứu trong nước.

Ngoài ra, công bố quốc tế có thể dùng làm MỘT (xin nhấn mạnh: một trong nhiều) loại thước đo về năng lực nghiên cứu mà chủ yếu là nghiên cứu hàn lâm, lý luận (academic research), nhưng điều đó hoàn toàn KHÔNG ĐỒNG NHẤT với thực tiễn nghiên cứu của một quốc gia, đặc biệt là những nghiên cứu nhỏ, action research, gắn với thực tế và áp dụng ngay mà hầu như rất ít khi công bố rộng rãi. Vì vậy, ngay cả khi các số liệu trong bài báo là chính xác và nếu ta có cơ sở để tin rằng những số liệu của Scimago đã đủ để cho phép các tác giả nhận định của tác giả về nghiên cứu khoa học của VN còn kém, thì các tác giả cũng chỉ nên dừng ở đó, chứ không nên gợi ý về mối liên hệ nhân quả giữa chất lượng của NCGD với chất lượng của cả một nền giáo dục. Đây chính là điều mà tôi phản đối các tác giả và bài viết nhiều nhất.

Riêng gợi ý của các tác giả về sự kém phát triển của VN so với các nước khác trong khu vực (khoảng cách ngày càng xa) thì tôi cho là một gợi ý rất vu vơ và thiếu logic nhất, đến độ không cần quan tâm đến. Nếu nói về mối liên hệ giữa NCKH và sự phát triển kinh tế của VN, tôi đề nghị các tác giả quan tâm đến các lãnh vực sau đây vì nó trực tiếp liên quan đến toàn bộ các hoạt động của một nền kinh tế. Đó là nghiên cứu của các ngành doanh thương (business), kinh tế, ngân hàng, tài chính; hoặc nghiên cứu về môi trường; công nghệ và công trình. Tôi đã xem qua các số liệu và thấy rằng quốc gia gần chúng ta nhất (xấp xỉ bằng nhau về thứ hạng) là Indonesia nên có thể sử dụng quốc gia này để đối sánh, và cặp quốc gia ĐNÁ cao hơn chúng ta một bậc mà chúng ta có thể so sánh là Thái Lan và Mã Lai.

Những so sánh ban đầu của tôi cho thấy, nghiên cứu giáo dục của chúng ta gần ngang ngửa với Indo về số lượng (mặc dù quốc gia này đông dân hơn ta vài lần), nhưng nghiên cứu kinh tế và môi trường thì ta thua họ kha khá; nghiên cứu về kỹ thuật của chúng ta cũng kém, nhưng có hai ngành khoa học mà chúng ta trội hơn hẳn so với Indo là toán và khoa học máy tính với rất nhiều công bố. Những điều này các bạn có thể tự kiểm tra lại trong cơ sở dữ liệu của Scimago, vì tôi lười chụp màn hình và đưa lên quá.

Với những số liệu như vậy, liệu tôi có thể đưa ra những nhận định trái ngược với 2 tác giả PTL và NVT rằng những thành tựu về toán học và khoa học máy tính của VN chẳng hề có chút ứng dụng gì trong các ngành khác, ví dụ như môi trường hoặc kinh tế; vì thế không nên tiếp tục đầu tư cho các ngành  "vô tích sự" này nữa, được không? Tất nhiên tôi nói như vậy chỉ để phản biện, chứ không đủ "tự tin" như các tác giả để đưa ra các kết luận đao to búa lớn mà chỉ dựa trên một vài số liệu sơ sài như trong bài báo 25/10.

Well, bài tranh luận đã rất dài còn tôi thì quá bận. Xin chấm dứt ở đây và mong các tác giả vui lòng trả lời cho bạn đọc và cho tôi. Nếu các tác giả không trả lời, tôi cũng đành phải tự hiểu theo kiểu của mình. Và rất cám ơn các độc giả của blog đã đọc và trao đổi. Tôi sẵn lòng trao đổi thêm, công khai qua comment hoặc riêng qua mail, với những ai quan tâm đến chủ đề này.

Có lẽ một hôm nào đó tôi sẽ viết ra thành bài những nhận định của riêng tôi về những số liệu so sánh nói trên.

Saturday, October 27, 2012

Tranh luận với hai tác giả PTL và NVT về bài báo 25/10/2012 (bài 3): Nhiều sai lệch giữa dữ liệu gốc và số liệu của các "nhà khoa học"

(tiếp theo bài 1 và bài 2)

Để độc giả dễ theo dõi cuộc tranh luận khá dài này, xin tóm tắt ở đây luận điểm chính của bài báo của 2 tác giả PTL và NVT. Nhìn chung, bài báo dường như muốn đưa đến người đọc thông điệp rằng nghiên cứu giáo dục của VN là vô cùng tệ hại, vừa ít về số lượng vừa thấp về chất lượng, và đó có thể là nguyên do của sự tụt hậu của giáo dục VN, chưa kể đó có thể còn là nguyên nhân cho sự chậm phát triển về kinh tế và xã hội của VN so với những nước khác trong khu vực. 


Dưới đây là những trích dẫn đáng chú ý và cho thấy luận điểm của tác giả như tôi đã tóm tắt ở trên. Những chỗ có chữ màu đỏ là những số liệu mà tôi sẽ sử dụng trong phần tranh luận/phản biện của tôi.

"Việc phân tích kết quả nghiên cứu của khoa học giáo dục (KHGD) VN dựa trên các thước đo theo chuẩn mực quốc tế: số lượng, chất lượng và tầm ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu có thể cho thấy một số xu hướng rất đáng quan ngại về nghiên cứu giáo dục ở nước ta."


"Trong khoảng thời gian từ 1996-2010, ngành KHGD của VN công bố được 39 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này chiếm khoảng 9% tổng số ấn phẩm khoa học trong ngành khoa học xã hội (354 bài trong cùng thời gian). Tính trung bình mỗi năm VN chỉ công bố trên hai bài nghiên cứu về giáo dục. Đó là một con số rất khiêm tốn khi đối chiếu với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước."


"Tính theo số lượng, VN đứng hạng 14 trong 21 nước khu vực Đông Á (Malaysia hạng 8, Thái Lan hạng 9, Philippines hạng 11). Con số bài nghiên cứu về giáo dục của VN chỉ bằng 1/37 so với Đài Loan (hạng 1) và 1/30 so với Hong Kong (hạng 2)..."


"Ở nước ta có khoảng 24.300 người có bằng tiến sĩ, trong đó 7.924 người đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng. Tuy nhiên, chúng tôi không có tư liệu cho thấy trong số này có bao nhiêu người chuyên nghiên cứu về giáo dục, cũng như không có số liệu về kinh phí dành cho nghiên cứu giáo dục. Cho đến nay, ở VN chỉ có một số ít đơn vị nghiên cứu giáo dục chuyên nghiệp."


Chất lượng của các công trình nghiên cứu có thể thể hiện qua số lượng trích dẫn và chỉ số H. Bảng so sánh dưới đây cho thấy xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN đều đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia. 

"Chưa có chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa."

"Sự yếu kém về KHGD của VN thể hiện qua công bố quốc tế đã phần nào cho thấy sự bất cập của giáo dục trong việc đổi mới để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa. Việc đối chiếu với kết quả nghiên cứu giáo dục của các nước trong khu vực cho thấy trong vòng 15 năm qua, tất cả các nước đều có bước phát triển nhảy vọt, kể cả VN, nhưng nhịp điệu phát triển của KHGD VN còn khoảng cách xa so với các nước và không tương xứng với nhịp điệu phát triển của nền kinh tế."


Quả thật, nếu chỉ nghe loáng thoáng thì những nhận định nói trên của hai tác giả của bài báo không phải là không hợp lý, chắc chắn là thuận tai người đọc vì nó cũng là những nhận định chung của đa số người VN hiện nay, như thường thấy thể hiện trên báo chí. Ở đây chúng ta chưa xét đến việc nhận định chung đó có chính xác hay không, vì muốn trả lời thì phải có những nghiên cứu cẩn thận với các số liệu cụ thể được xem xét dưới nhiều góc độ - một việc làm đòi hỏi nhiều công sức. Nếu bài báo ngày 25/10/2012 chỉ là một bài dưới dạng ý kiến thì tôi sẽ không bao giờ có thắc mắc hoặc tranh luận gì cả, dù có đồng quan điểm với các tác giả hay không.


Tuy nhiên, bài báo nói trên lại đưa ra rất nhiều số liệu, và (có vẻ như) các lập luận đều được xây dựng trên cơ sở dữ liệu công bố khoa học của Scimago, từ đó dẫn đến những kết luận có vẻ khoa học mà theo tôi là rất đang kinh ngạc đến độ cần phải xem xét lại. Đặc biệt là gợi ý rằng sự yếu kém của nghiên cứu "khoa học giáo dục" có thể là nguyên nhân của sự tụt hậu hiện nay của ngành giáo dục. Vì vậy, tôi đã phải bỏ công ra xem xét lại toàn bộ số liệu so sánh về công bố khoa học của VN với một số nước trong khu vực để kiểm chứng lại các nhận định trong bài báo. 


Để làm điều này, tôi đã thực hiện các so sánh giữa các nước Việt, Indo, Thái, Mã và Phi bằng công cụ so sánh do Scimago cung cấp. Lý do tôi chọn các nước này là vì chúng gần gũi với Việt Nam về nhiều mặt nên những so sánh với chúng mới có thể có ý nghĩa nào đó đối với chúng ta. So sánh với những nước quá xa VN về trình độ phát triển hoặc về quy mô (quá nhỏ như Brunei, Singapore, quá lớn như TQ) sẽ chẳng có mấy ý nghĩa.

Và sau đây là kết quả của những quan sát của tôi, với những nhận định hoàn toàn khác với 2 tác giả PTL và NVT, cho thấy bài viết nói trên có quá nhiều sai sót về số liệu, chưa kể những lỗ hổng về kiến thức hoặc phương pháp và những điểm thiếu logic trong lập luận. 

Xin phân tích các số liệu đó dưới đây. Nguồn số liệu có thể tải từ địa chỉ sau: http://www.scimagojr.com/countryrank.php?area=0&category=0&region=Asiatic+Region&year=all&order=it&min=0&min_type=it


3. Những quan sát  độc lập từ dữ liệu về công bố khoa học của Scimago


Trước hết, theo số liệu của Scimago thì thứ hạng công bố khoa học của 5 quốc gia Việt, Indo, Phi, Thái, Mã trên tổng số 33 quốc gia thuộc khu vực châu Á theo thứ tự đã nêu là 13, 12, 14, 8, 9. Nói cách khác, 5 nước này được chia làm 2 nhóm với những nước khá giống nhau trong mỗi nhóm  (vị trí sát cạnh nhau), xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới thì nhóm trên là Thái (8), Mã (9); nhóm dưới là  Indo (12), Việt (13), và Phi (14). 


Tuy nhiên, công cụ so sánh của Scimago chỉ cho phép so sánh tối đa là 4 nước, vì vậy tôi đã thực hiện 2 lần so sánh: so sánh giữa 4 nước thuộc 2 cặp (4 nước Thái, Mã, Indo, Việt) và so sánh 3 quốc gia thuộc nhóm dưới (Indo, Việt, Phi).

Chỉ mới tới đây thôi ta đã thấy ngay mấy điểm sai biệt giữa số liệu gốc của Scimago và bài báo nói trên:


a/ Danh sách của Scimago cung cấp cho chúng ta 33 quốc gia thuộc châu Á (nếu xét chung mọi ngành khoa học) hoặc 29 nước (nếu chỉ xét ngành giáo dục) chứ không phải là 21 nước. Các tác giả đã tự chọn lọc ra 21 nước Đông Á để so sánh, nhưng không đưa tiêu chí để chọn các quốc gia được để ở lại trong danh sách, vì theo tôi xem xét số quốc gia cần loại ra khỏi danh sách đầy đủ  (33 nước) chắc chắn phải nhiều hơn 12 nước. 


Tính sơ sơ tôi đã có thể loại ra được 13 quốc gia sau: 1. Northern Mariana Island (vị trí 32), 2. Maldives (30), 3. Turmenistan (29), 4. Bhutan (28), 5. Afghanistan (27), 6. Tajikistan (26), 7. Kazakhstan (18), 8. Nepal (17), 9. Sri Lanka (16), 10. Uzbekistan (15), 11. Bangladesh (11), 12. Pakistan (10), 13. India (3).  

Ngoài ra, việc chọn lọc danh sách các quốc gia thuộc vùng Đông Á của các tác giả dường như cũng không dựa theo tiêu chí chung nào, ví dụ wikipedia thì cho rằng vùng Đông Á chỉ gồm có 8 nước (xem ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/East_Asia), và nếu tính luôn cả 10 nước ĐNÁ vào thì chúng ta cũng chỉ mới có 18 nước. Lẽ ra khi các tác giả tính toán lại số liệu thì nên làm rõ những căn cứ để tính toán, còn nếu không thì tốt nhất là để nguyên số liệu gốc cho độc giả dễ kiểm chứng. 

b/ Tỷ lệ công bố về nghiên cứu giáo dục trên tổng số bài nghiên cứu trong lãnh vực khoa học xã hội của VN trong dữ liệu của Scimago là 11%, không phải là 9% (39 bài trên tổng số 354 bài). Đây là một con số mà chỉ cần tính nhẩm cũng ra được, không hiểu tại sao các tác giả lại có thể nhầm lẫn một cách vô tư trong một bài báo "tầm cỡ" như vậy?

c/ Các số liệu so sánh trong bài báo rất tùy tiện, không có cơ sở khoa học, khiến ta có quyền nghi ngờ các tác giả đã cố tình như vậy để có thể đưa ra một bức tranh ảm đạm về nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu của ngành giáo dục, tại VN.

Trước hết là việc gộp các nước Đông Á và các nước Đông Nam Á vào cùng một nhóm để so sánh (mà tại sao lại là 21 nước?). Ai cũng biết là có một sự cách biệt lớn giữa các nước Đông Á như Nhật, Hàn, Hồng  Kông, Đài Loan, và gần đây là Trung Quốc, so với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là những nước nghèo, nhỏ, lạc hậu, chiến tranh như Phi, Việt, Cam, Lào, Miến vv. Tất nhiên trong khối ĐNÁ cũng có một số nước đã vươn lên mạnh mẽ không thua gì một số nước Đông Á khác như Singapore hoặc Mã Lai, nhưng đó là thiểu số, chứ không phải là mẫu số chung. Chỉ cần xét GDP bình quân của hai khối là có thể thấy ngay chúng không thể để lên cùng một bàn cân mà so sánh được. 

Vì vậy, những con số so sánh mà tác giả đưa ra như số bài nghiên cứu về giáo dục của VN chỉ bằng 1/37 so với Đài Loan hoặc 1/30 so với Hồng kông là hoàn toàn vô nghĩa, chỉ có tác dụng làm méo mó hình ảnh của nghiên cứu giáo dục VN trong bức tranh chung. Nếu muốn khẳng định nghiên cứu giáo dục của VN là đặc biệt kém thì trước hết hãy đưa ra ví dụ về nghiên cứu khoa học của một ngành khác ở VN để so sánh với 2 nước nói trên, rồi sau đó mới so sánh riêng NCGD của VN so với 2 nước đó. 

Đó cũng là điều tôi đã làm để kiểm chứng, và sau đây là kết quả so sánh. Các bạn cũng có thể vào trang web trên để kiểm tra lại những kết quả này. 

+ So sánh ngành Engineering (là một ngành lớn, tương đương với toàn ngành Social Sciences mà trong đó Education chỉ là một chuyên ngành): Việt Nam có 657 bài, Đài là 68,346, Hồng Kông là 26,797. Nói cách khác, tỷ số bài công bố khoa học của ngành Engineering của VN so với Đài Loan là 1/104, hoặc so với Hồng Kông là 1/40 (tính tròn số).

+ So sánh chuyên ngành Mechanical Engineering (một chuyên ngành trong engineering, tương đương với chuyên ngành giáo dục trong social sciences) : Việt Nam 97, Đài Loan 5770, Hồng Kông 2255. Nói cách khác, tỷ số bài công bố khoa học của ngành Engineering của VN so với Đài Loan là 1/59, hoặc so với Hồng Kông là 1/23 (tính tròn số).

Như vậy, chỉ cần so sánh với một ngành/chuyên ngành khác là đã có thể thấy số liệu về nghiên cứu giáo dục của VN mặc dù thấp và ai cũng muốn nó tốt hơn, nhưng không hề quá tệ mà có lẽ tốt hơn nhiều ngành khác. Thậm chí nếu ta so sánh ngành giáo dục với toàn ngành engineering rồi kết luận rằng nghiên cứu giáo dục của VN dù được đầu tư thấp, chắc chắn là không so được với các ngành công trình hay kỹ thuật ở VN, nhưng vẫn đạt được thành tích như vậy nên cần phải được tuyên dương, thì không hiểu các tác giả sẽ trả lời như thế nào nhỉ?

Tất nhiên tôi đưa ra những con số này chỉ để phản biện phương pháp so sánh của tác giả mà thôi, chứ không nhằm mục đích tuyên dương ngành giáo dục. Nhưng ngược lại, các tác giả đã tùy tiện chọn những con số "đẹp"  để đưa ra phục vụ lập luận chủ quan của mình, một cách làm hết sức phi khoa học!

---
(Tôi vừa viết một đoạn khá dài để kết thúc entry này, nhưng lại quên không save nên bây giờ bị mất, phải viết lại, hic!)

d. Vị trí của  nghiên cứu giáo dục VN trong các bảng so sánh: VN xếp hạng 14/21, 13/14, hay một hạng nào khác, và tại sao mẫu số lại thay đổi cho các lần so sánh?

Bài báo đưa ra 2 thứ hạng khác nhau của VN: hạng 14 trên 21 nước Đông Á (không rõ là các nước nào?) và hạng 13/14 (cũng vậy, không rõ là các nước nào). Sự thay đổi này khá đột ngột mà không có một lời giải thích.

Khi tìm hiểu trong cơ sở dữ liệu của Scimago ta thấy nếu xét theo tất cả các ngành thì có tất cả là 33 nước, Việt Nam đứng thứ 13 (tôi đã nêu ở trên, so sánh với 4 nước khác là Phi, Mã, Thái, Indo). Còn nếu xét riêng ngành giáo dục thì có 29 nước, Việt Nam đứng hạng 14, đứng ngay sau Indo hạng 13, còn Phi xếp hạng 11. Như vậy, so với vị trí tính chung cho mọi ngành khoa học thì vị trí của ngành giáo dục có hơi thấp hơn trung bình chung một chút.

Cơ sở dữ liệu của Scimago cũng cho phép ta thay đổi các thông số khi truy xuất dữ liệu để xếp hạng. Các lựa chọn để xếp hạng có thể có là: theo số lượng bài báo - documents, số lần trích dẫn - cites, số lần tự trích dẫn - self-cites, tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo - cites per document, và chỉ số H - H index. Ngoài ra, ta cũng có thể thay đổi số lượng tối thiểu các bài báo (documents), các trích dẫn (cites), hoặc các bài báo được trích dẫn (citable documents). Mỗi bộ thông số các lựa chọn khác nhau sẽ cho ra các thứ hạng khác nhau.

Để cố gắng hiểu được những con số  cho thấy vị trí của VN là 14/21 và 13/14 mà bài báo đưa ra nhưng không kèm  lời giải thích, tôi đã vào Scimago để thử mọi lựa chọn có thể. Các kết quả tìm kiếm của tôi không hề có kết quả nào giống với 2 kết quả nói trên,v ì vậy, có thể giả định là các tác giả đã tự tạo ra danh sách so sánh riêng của mình, một điều chỉ có thể chấp nhận nếu ngay từ đầu các tác giả làm rõ mục tiêu và tiêu chí lựa chọn của mình, và  không tự thay đổi tiêu chí lựa chọn.

Dưới đây là hình chụp các kết quả so sánh vị trí của ngành giáo dục VN so với 28 nước châu Á khác, xét theo công bố quốc tế trên số liệu của Scimago:

Hình 1: Vị trí của VN theo tổng số bài báo: 14/29 (Phi: 11, Indo: 13, Mã: 8, Thái: 9). Thứ hạng này giống với  kết số liệu mà bài báo nêu ra ở phần đầu bài viết, nhưng khác mẫu số vì bài báo nêu kết quả của VN là 14/21 chứ không phải 14/29.

Hình 2: Vị trí của VN theo tổng số lần trích dẫn: 16/29 (Phi: 11, Indo: 13, Mã: 7, Thái: 9).  Thứ hạng này hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.

 Hình 3: Vị trí của VN theo tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo: 19/29 (Phi: 14, Indo: 16, Mã: 6, Thái: 13). Thứ hạng này cũng hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.


Hình 4: Vị trí của VN theo chỉ số H: 20/29 (Phi: 14, Indo: 17,  Mã: 10, Thái: 12). Thứ hạng này cũng hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.

Tuy nhiên, danh sách này không chính xác do 3 nước có chỉ số H bằng 0 (kém nhất) lại được xếp lên trên cùng theo mặc định của phần mềm xếp hạng, vì vậy cần phải thay đổi thông số lựa chọn (chỉ chọn những quốc gia có ít nhất 1 trích dẫn), lúc ấy danh sách chỉ còn lại 18 quốc gia do nhiều quốc gia không đáp ứng yêu cầu đã bị loại, trong đó có cả 3 quốc gia nói trên. Dưới đây là kết quả chính xác hơn:

Hình 4b- Vị trí của VN theo chỉ số H: 17/18, chỉ trên Kazakhstan vị trí số 18 (Phi: 12, Indo: 14,  Mã: 7, Thái: 9). Thứ hạng này cũng hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.

Nhận xét chung:

- Thứ hạng của VN trên tổng số 29 nước  (hoặc 18 nước sau khi đã điều chỉnh, xem hình hình 4 và 4b) ngày càng thấp đi theo các cách so sánh khác nhau: số lượng bài báo, số lần trích dẫn, tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo, và chỉ số H. Tuy nhiên, sự thay đổi theo chiều hướng thấp đi xảy ra cho tất cả 5 nước đang được so sánh, trừ một vài ngoại lệ nhỏ (thứ hạng của Mã tăng nhẹ ở hình 2 và hình 3).

Do đó, sự giảm thấp đi này không thể được xem là dấu hiệu cho thấy khoảng cách về chất lượng nghiên cứu giáo dục giữa VN và các nước khác trong khu vực là đáng báo động,  mà có lẽ cần phải hiểu rằng nó cho thấy mức độ hội nhập của nghiên cứu giáo dục VN và của khu vực ĐNÁ/châu Á đối với thế giới: nước nào hội nhập sớm hơn và có vị thế cao hơn (về cả kinh tế, khoa học kỹ thuật và cả  trên chính trường nữa) thì sẽ có độ nhận diện cao hơn, và các bài viết của các nhà khoa học các nước này dễ được quan tâm hơn.

- Dù gì thì gì, mẫu số chung của các bảng so sánh này không thay đổi và không thể thay đổi vì như thế sự so sánh sẽ không còn ý nghĩa.

- Lời khẳng định trong bài báo: "xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN đều đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia" vì vậy là một câu vô nghĩa, vì mỗi lần xét theo một tiêu chí so sánh thì kết quả sẽ khác nhau và không thể có một thứ hạng chung cho cả 3 tiêu chí (số lượng, chỉ số H, tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo) như bài báo đã nêu.

- Ngoài ra, một nhận xét không liên quan đến số liệu nhưng rất đáng quan tâm, đó là logic của nhận định nói trên (phần tô màu đỏ). Xin chép lại một lần để phân tích cho rõ: " xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN ĐỀU đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia". 

Đây là một câu rất tối nghĩa. Xin chú ý từ "đều". Phải chăng nó có nghĩa là khi xếp hạng theo cả 3 tiêu chí (số lượng, tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo, và chỉ số H) thì kết quả đều ra là 13/14? Tôi nghĩ điều này khó lòng có thể xảy ra theo những số liệu mà tôi đã dẫn ở trên. Cách hiểu còn lại là từ "đều" chỉ đi với cụm từ "xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo" thành một cặp từ (xét ... trên mỗi bài báo [thì] VN đều ...); nếu thế, đây là một câu hoàn toàn vô nghĩa và buộc ta phải nghĩ rằng người viết câu này không hiểu nghĩa của cụm từ tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo (cites per document), vì thế khi viết "mỗi" thì quen tay thêm từ "đều" vào cho cân bằng!

Đến đây, đã có thể kết luận là những số liệu trong bài báo có rất nhiều sai lệch với số liệu gốc, thể hiện một cách làm cẩu thả (?) hoặc vô nguyên tắc (tùy tiện thay đổi tiêu chí lựa chọn, nếu quả thật có thể tính ra các kết quả như trên - cái này phải chờ phản hồi của tác giả).

Bài phản biện của tôi đến đây đã quá dài, mà vẫn chưa kết thúc vì còn có nhiều điều để nói. Nói ngắn gọn, chỉ một bài viết khoảng 1200-1500 từ (tôi áng chừng thế) mà bài báo đã để lại quá nhiều lỗi về số liệu, chưa kể lỗi về lập luận, về phương pháp, vv, mà tác giả của nó lại là những tác giả được xem là có tên tuổi trong lãnh vực giáo dục, chúng ta phải hiểu điều này như thế nào đây?

Tôi sẽ kết thúc bài tranh luận này trong entry tới.


(còn tiếp)

Friday, October 26, 2012

Tranh luận với hai tác giả Phạm Thị Ly và Nguyễn Văn Tuấn về bài báo đăng trên Tuổi Trẻ 25/10/2012 (bài 2)

(tiếp theo bài 1)

2. Về sự "phát triển không tương xứng ..."

Luận điểm chính của phần này, cũng là luận điểm chung của bài viết, có thể thấy qua  hai đoạn trích dưới đây (đoạn đầu tiên và đoạn cuối cùng của phần có tiểu tựa nêu trên):


Các tác giả viết: "Chưa có những chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa. So với năm 1970 thì thu nhập bình quân trên đầu người đã tăng gần 20 lần, trong lúc đó Malaysia tăng 21 lần, Thái Lan tăng 24 lần, Indonesia tăng 36 lần, Singapore tăng 45 lần. So sánh tương quan giữa các nước với VN thì năm 1970 thu nhập bình quân đầu người của Indonesia cao hơn VN 1,3 lần, đến năm 2010 Indonesia đã cao hơn VN 2,4 lần. Cùng thời gian đó, tương quan GDP đầu người giữa Malaysia và VN là 6,3 lần và 6,8 lần; giữa Singapore và VN là 14,9 lần và 34,2 lần; giữa Thái Lan và VN là 3,1 và 3,7 lần."

Và


"Sự yếu kém về KHGD của VN thể hiện qua công bố quốc tế đã phần nào cho thấy sự bất cập của giáo dục trong việc đổi mới để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa. Việc đối chiếu với kết quả nghiên cứu giáo dục của các nước trong khu vực cho thấy trong vòng 15 năm qua, tất cả các nước đều có bước phát triển nhảy vọt, kể cả VN, nhưng nhịp điệu phát triển của KHGD VN còn khoảng cách xa so với các nước và không tương xứng với nhịp điệu phát triển của nền kinh tế."


Bỏ qua những nhận xét và tranh luận mà tôi đã nêu ra trong bài 1, đây chính là phần làm cho tôi sửng sốt nhất về bài báo nói trên vì những suy luận đơn giản đến thô thiển và cực kỳ nguy hiểm của bài viết. Xin tóm tắt lại luận điểm chính của tác giả ở đây: Nghiên cứu giáo dục tại VN yếu kém (qua số lượng công bố quốc tế ít ỏi và chất lượng thấp theo cách tính của bảng xếp hạng còn tranh cãi là Scimago), điều này dường như là nguyên nhân làm cho giáo dục VN yếu kém (tuy chưa khẳng định vì chưa có chứng cứ, nhưng các tác giả đã có những dữ liệu nhất quán để đưa ra nhận định trên). 

Từ nhận định đó, dường như các tác giả có hàm ý  rằng để góp phần đổi mới giáo dục VN thì điều quan trọng nhất là phải đẩy mạnh việc nghiên cứu giáo dục về cả số lượng và chất lượng, nhưng chất lượng ở đây phải được đo đạc  bằng số lượng công bố quốc tế và các chỉ số định lượng khác như chỉ số trích dẫn vv theo phương pháp đánh giá của bảng xếp hạng Scimago?


Tranh luận:

* Các tác giả nêu ra những số liệu về thu nhập bình quân đầu người của VN và các nước trong khu vực nhằm mục đích gì? Để chứng minh VN phát triển chậm hơn các nước khác? Nếu vậy, các tác giả dựa vào căn cứ nào để xác định phải tăng bao nhiêu lần thì mới được xem là phát triển tốt? Nếu VN tăng 20 lần và được xem là chậm, thì Malaysia tăng 21 lần so với, vd Singapore tăng 45 lần, thì Malaysia được xem là một ví dụ của phát triển chậm hay là của phát triển nhanh? Cũng câu hỏi đó với Thái Lan, tăng 24 lần (so với Malaysia tăng 21 lần). Với số liệu này, phải chăng ta có thể kết luận rằng trong thời gian đó, Thái Lan có mức độ phát triển nhanh hơn Malaysia?

* Hoặc ngược lại, phải chăng các tác giả muốn khẳng định rằng VN có tốc độ phát triển không kém gì các nước lân cận, nhưng NCGD của VN thì không tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế? Nếu vậy,  tác giả dựa vào mốc nào để xác định mức độ tương xứng đó? Ví dụ, nếu phát triển kinh tế (thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người) tăng 20 lần như VN, thì nghiên cứu giáo dục cũng phải tăng 20 lần? Hay 15 lần, 10 lần, 5 lần, hoặc con số nào khác? Các tác giả hoàn toàn không đưa ra một gợi ý nào cả.  

Có lẽ gợi ý của các tác giả là phải làm theo các nước lân cận mà tác giả đã nêu tên ở đây. Như vậy, ta hoàn toàn có thể xem xét số liệu của các nước này từ trong cơ sở dữ liệu của Scimago và so sánh với VN. Nhưng tôi sẽ tạm để dành, chưa đưa ra những con số mà tiếp tục tranh luận với tác giả về những lập luận mà tôi cho là rất có vấn đề trong bài báo trước đã.

* Một hàm ý rất quan trọng trong bài viết là do nghiên cứu giáo dục tại VN rất yếu kém nên dường như điều này đã dẫn đến những yếu kém, lạc hậu của nền giáo dục VN hiện nay. Tất nhiên các tác giả đã cẩn thận rào đón thêm rằng điều này chưa có chứng cứ để khẳng định, nhưng dẫu sao thì các tác giả cũng khẳng định thì đã có những dữ liệu nhất quán cho phép đưa ra nhận xét như vậy (xem lại đoạn trích ở trên). 

Cũng như ở đoạn trên, những số liệu này chúng sẽ dễ dàng kiểm chứng và sẽ được tôi đề cập đến trong phần cuối của bài tranh luận của tôi. Ở đây tôi muốn hỏi, những số liệu về thu nhập bình quân đầu người ở đây có liên quan như thế nào với chủ đề chính của bài viết là nghiên cứu giáo dục, mà theo các tác giả là rất đáng báo động?

Phải chăng tác giả muốn nói rằng vì NCGD kém (qua số lượng bài báo quốc tế quá ít ỏi đã đề cập trong bài 1) nên (dường như) nền giáo dục của VN bị tụt hậu, và rồi từ đó dẫn thẳng đến hàm ý rằng sự tụt hậu về giáo dục khiến cho nền kinh tê của VN kém phát triển?

Nếu quả thực đây là dòng lập luận của tác giả, thì đây là sai lầm quan trọng nhất thúc đẩy tôi phải viết bài này. Dựa vào những nghiên cứu nào mà các tác giả có thể đưa ra những suy luận quá thô thiển đến độ nguy hiểm như vậy? Liệu từ những số liệu của bài báo chúng ta có thể rút ra kết luận rằng để phát triển giáo dục VN (từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế) thì chỉ cần tăng cường nghiên cứu "khoa học giáo dục" là xong? Nếu đúng như vậy, thì cần nghiên cứu cái gì trong "KHGD", hay nghiên cứu cái gì cũng được, miễn là có công bố quốc tế?

Cứ tạm chấp nhận rằng chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu giáo dục (ừ thì ai cũng nghĩ thế), nhưng nếu có nhiều nghiên cứu có chất lượng tốt theo nghĩa giúp giải quyết những vấn đề của VN, mà không có công bố quốc tế, thì có giúp cải thiện chất lượng giáo dục (và từ đó kéo theo sự phát triển kinh tế mà biểu hiện là tăng thu nhập bình quân đầu người) hay không?

Thực sự, nếu đây là hàm ý của tác giả thì các tác giả hoàn toàn không có gì khá hơn những người làm chính sách giáo dục ở VN với những suy đoán phiến diện, lệch lạc, nhưng lại nguy hiểm hơn rất nhiều vì những suy nghĩ đơn giản ấy lại được hóa trang bằng những số liệu cứng trông rất đáng kính trọng, dù những số liệu này được lựa chọn một cách tùy tiện và có chủ đích để ủng hộ những luận điểm chủ quan của mình, bất chấp mọi nguyên tắc khoa học.

------
Tôi muốn kết thúc nhanh bài viết này cho xong cho trọn phần tranh luận để chờ đợi câu trả lời của các tác giả, nhưng vì bận việc cơ quan nên phải tạm dừng lại, sẽ viết nốt phần chót với các số liệu thú vị trong ngày nay hoặc trễ lắm là ngày mai.



Nguồn: http://tuoitre.vn/ban-doc/517468/bao-dong-tu-nghien-cuu-giao-duc.html

Thursday, October 25, 2012

Tranh luận với hai tác giả Phạm Thị Ly và Nguyễn Văn Tuấn về bài báo đăng trên Tuổi Trẻ 25/10/2012 (bài 1)

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày hôm nay 25/10/2012 có đăng một bài viết dạng "tiêu điểm" đăng trọn trang 9 của hai tác giả Phạm Thị Ly thuộc ĐHQG-HCM và Nguyễn Văn Tuấn thuộc ĐH New South Wales (Úc) với tựa đề "Nghiên cứu khoa học của VN tiếp tục tụt hạng: Báo động từ nghiên cứu giáo dục".

Bài viết ra đời trong bối cảnh đề án Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam  vừa được Hội nghị Trung ương xem xét nhưng chưa thông qua vì còn nhiều điểm chưa đáp ứng yêu cầu, và các tờ báo lớn của thành phố - trong đó có báo Tuổi Trẻ - đã và đang tổ chức diễn đàn trao đổi để lấy ý kiến góp ý tiếp tục đổi mới giáo dục Việt Nam.

Bài viết vừa nêu có vẻ được tờ Tuổi Trẻ liệt vào dạng bài "đinh", nổi bật với hai tác giả là những tên tuổi quen thuộc trong giới học thuật ở Việt Nam, có nhiều bài viết và báo cáo về giáo dục đăng ở khắp nơi từ báo chí phổ thông, báo tại hội thảo và sau đó được đưa vào kỷ yếu hoặc sách tham khảo vv mà nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, và cả các nhà khoa học trong nước, các Viện nghiên cứu công lập và tư nhân sử dụng làm tài liệu học tập và tham khảo.

Riêng tác giả Nguyễn Văn Tuấn còn được biết đến nhiều hơn với tư cách một người chuyên hướng dẫn về các phương pháp nghiên cứu khoa học, trước đây chuyên dành cho giới nghiên cứu của ngành y, sau đó có mở rộng ra trong giới khoa học tự nhiên và kỹ thuật, nhưng gần đây có vẻ quan tâm nhiều đến các ngành xã hội và nhân văn, đặc biệt là giáo dục, có lẽ vì muốn góp tay vào để chữa trị cho một nền giáo dục mà ai đó đã ví như một con bệnh nan y, ốm nặng lâu ngày và dường như đã trở nên vô phương cứu chữa, như thông điệp của bài báo đã nêu ra.

Là một người hoạt động trong lãnh vực giáo dục suốt cả cuộc đời làm việc của mình, được đào tạo về ngành giáo dục ở nước ngoài - cùng quốc gia mà hiện nay ông Tuấn đang sinh sống - tôi không thể bỏ qua không đọc bài này, đặc biệt vì đây là những tác giả được xem là có tên tuổi. Và sửng sốt với những kết luận như đinh đóng cột và những gợi ý/hàm ý không kém mạnh mẽ của bài báo.

Sửng sốt đến độ không thể không viết bài này để tranh luận trực tiếp với hai tác giả, dù biết cách làm như thế này ở Việt Nam có thể không phù hợp, mà tôi lại còn có những lý do riêng để cố tránh đề cập trực tiếp đến cả hai tác giả vì đều là đồng nghiệp và đã từng làm việc với nhau ít hoặc nhiều.

Bài tranh luận này tôi muốn gửi trực tiếp đến hai tác giả và rất mong các tác giả có lời trao đổi lại, có thể không trả lời cho một cá nhân là tôi thì cũng cần trả lời bạn đọc ở trên báo Tuổi Trẻ, những người tin tưởng vào giá trị thông tin mà tờ báo đem lại. Tôi xin nhấn mạnh rằng bài viết này của tôi chỉ vì mục đích khoa học, do ảnh hưởng của hai tác giả mà đặc biệt là ông Tuấn đến những người đang làm hoặc đang học làm khoa học trong ngành giáo dục, nhóm người có vẻ như thuộc loại yếu kém toàn diện dẫn đến sự tụt hậu đến báo động như trong bài báo của hai tác giả đã nêu.

Nếu bỏ qua những khẳng định không có gì mới mà ai cũng có thể phát biểu về sự yếu kém nói chung của hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam và khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, đặc biệt nếu được đánh giá qua các chỉ số định lượng trong các hệ thống xếp hạng, nhận định chung của tôi về bài báo trên là nó có quá nhiều khẳng định thiếu cơ sở khiến cho những kết luận hoàn toàn không có tính khoa học và vì vậy không có giá trị.

Thật đáng thất vọng, một bài thuộc dạng "đinh" trên tờ báo lớn của TP HCM mà lại chỉ giống như một bài đưa ý kiến vu vơ dù được trang điểm bằng một vài số liệu lấy trong bảng xếp hạng của Scimago, một bảng xếp hạng mới mà giá trị vẫn còn những chỗ tranh cãi. Xin nêu rõ từng điểm dưới đây, với các trích dẫn tương ứng, cùng phần tranh luận của tôi.

1. Về số lượng ít ỏi của các công trình trong lãnh vực khoa học giáo dục tại VN

* Hai tác giả khẳng định: "Trong khoảng thời gian từ 1996-2010, ngành KHGD của VN công bố được 39 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này chiếm khoảng 9% tổng số ấn phẩm trong ngành khoa học xã hội [...]. Đó là một con số rất khiêm tốn khi đối chiếu với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước."

Phần tranh luận của tôi:

Số lượng 39 công bố khoa học trong khoảng thời gian 15 năm nói trên có lẽ là thực sự ít và đáng thất vọng, nhưng đó là hệ quả đương nhiên của một nền khoa học yếu kém toàn diện cho tất cả các ngành. Khi các tác giả nói rằng đây là một con số rất khiêm tốn so với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục, thì xin hỏi các tác giả:

(a) đã nắm được tổng số những người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục tại VN chưa, nếu đã có thì xin hỏi số liệu thu thập ra sao, những người như thế nào thì được xem là chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước, và

(Tái bút ngày 27/10: Khi đọc lại bài báo ngày 25/10 thì tôi thấy câu hỏi này thực ra là thừa vì chính các tác giả đã khẳng định trong bài báo là mình không có số liệu trong tay; tuy vậy, không có số liệu nhưng vẫn có thể kết luận được rằng số lượng công bố khoa học quốc tế của ngành giáo dục VN như thế là RẤT KHIÊM TỐN - một tuyên bố xem chừng rất thiếu khiêm tốn!)

(b) quan trọng hơn, là ngay cả nếu các tác giả đã nắm được những số liệu này (nếu có, lẽ ra các tác giả nên nêu rõ cho bạn đọc biết, không cần dài dòng mà chỉ cần một con số cụ thể như 50 ngàn người chẳng hạn) thì hiện nay chúng ta đã có những chuẩn so sánh nào để kết luận rằng trung bình 2 bài báo khoa học một năm cho toàn "ngành khoa học giáo dục" của VN là rất khiêm tốn?

Rất khiêm tốn là so với ai, so với ngành khác trong nước hay so với những nước lân cận và nếu thế thì là ngành nào hoặc nước nào? Nếu không trả lời được những câu này thì lời khẳng định nói trên chỉ là những lời khẳng định vu vơ, thiếu căn cứ. (Xin mở ngoặc nói thêm là ngay cả việc dùng cụm từ "ngành KHGD" của hai tác giả nói trên cũng rất đáng tranh cãi, nhưng ở đây tôi tạm bỏ qua việc này để tập trung vào những vấn đề hệ trọng hơn).

* Kế đến, các tác giả tiếp tục khẳng định: "Phân tích nội dung của các công trình nghiên cứu này cho thấy phần lớn lại liên quan đến đào tạo trong y khoa và là kết quả của các dự án hợp tác quốc tế trong giáo dục sức khỏe (16 bài). Chỉ có bốn công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ học. Tính chung, số bài viết về KHGD thực thụ chỉ có 13 bài."

Tranh luận:

* Các tác giả dựa vào đâu để cho rằng các nghiên cứu liên quan đến đào tạo trong y khoa (hay giáo dục sức khỏe) không phải là nghiên cứu về KHGD "thực thụ"? Nếu chúng không phải là nghiên cứu giáo dục thì chúng thực ra thuộc về lãnh vực nào? Liệu chúng có thể được xem là nghiên cứu y khoa "thực thụ" hay chăng?

Trong kinh nghiệm của tôi thì tôi những bài báo thuộc loại "nghiên cứu về đào tạo trong ngành y" sẽ liên quan đến các vấn đề về chương trình và phương pháp đào tạo bác sĩ hay nhân viên y tế cộng đồng, hoặc về hoạt động giáo dục sức khỏe, và không thể được xem  là nghiên cứu y học. Nhưng tất nhiên tôi chưa khẳng định; đây mới chỉ là suy nghĩ riêng chưa kiểm chứng, nếu muốn phát biểu công khai trên nhằm hướng dẫn dư luận và tham mưu chính sách chắc chắn phải kiểm tra lại. Và như vậy, các tác giả dựa vào tiêu chí nào để nhận diện những nghiên cứu khoa học giáo dục "thực thụ"?

* Một thắc mắc khác là dựa vào tiêu chí nào mà tác giả loại ra các nghiên cứu về đào tạo trong y khoa vì không phải là nghiên cứu giáo dục "thực thụ", nhưng những nghiên cứu mà tác giả cho là liên quan đến ngôn ngữ học (tổng cộng là 4 bài, theo hai tác giả Ly và Tuấn) thì lại may mắn được để lại trong số 13 bài được xem là "thực thụ"?

Theo tôi, ở đây hẳn có sự nhầm lẫn về số liệu, vì nếu nghiên cứu ngôn ngữ thì phải đưa về nhóm Linguistics and Language cũng có trong hệ thống phân loại của Scimago, chứ không thể để vào nhóm giáo dục. Trừ phi đây là những bài liên quan đến giảng dạy ngôn ngữ. Trong trường hợp đó chúng tương ứng hoàn toàn với 16 bài về "đào tạo trong y khoa" theo lời của hai tác giả Ly và Tuấn. Sao lại "nhất bên trọng, nhất bên khinh" như thế này? Xin chờ câu trả lời của hai tác giả hoặc của báo Tuổi Trẻ.

* Cuối cùng, theo cùng nguồn số liệu mà các tác giả đã trích dẫn (http://www.scimagojr.com/countrysearch.php?region=Asiatic%20Region), nhóm Linguistics and Language trong cùng thời gian 15 năm đã nêu chỉ có 5 công bố quốc tế mà thôi. Vậy mà, theo cảm nhận cùng kinh nghiệm riêng của tôi thì số người chuyên làm nghiên cứu ngôn ngữ nếu không đông hơn thì cũng phải tương đương số người chuyên làm nghiên cứu giáo dục tại VN, như có thể thấy qua số lượng tiến sĩ  đã tốt nghiệp ngành ngôn ngữ trong và ngoài nước của VN.

Điều này có thể dễ dàng kiểm chứng bằng cách  so sánh số lượng nghiên cứu sinh ngành ngôn ngữ và  ngành giáo dục được cấp bằng tiến sĩ trong 5 năm trở lại đây ở hai trung tâm đào tạo khối ngành khoa học xã hội và nhân văn (tức có cả giáo dục và ngôn ngữ) là Hà Nội và thành phố HCM.

Nếu số liệu công bố khoa học của ngành giáo dục là 39 bài trong 15 năm, hay 13 bài nếu chỉ tính những bài "thực thụ" mà đã bị hai tác giả xem là báo động, thì liệu phải dùng từ nào để nói về tình trạng công bố khoa học của ngành ngôn ngữ đây? Xin nhớ rằng ngành ngôn ngữ bao gồm cả các ngoại ngữ, và trong số này hẳn phải có những người đi học ở nước ngoài. Chẳng lẽ những con số đập vào mắt như vậy mà các tác giả khi vào đọc số liệu của Scimago để viết một bài viết quan trọng như vậy lại không nhìn thấy?

---------------
Chỉ mới có vài đoạn mà bài báo đã cho thấy có quá nhiều chỗ mơ hồ và thiếu căn cứ như trên, khiến tôi rất băn khoăn và tự hỏi liệu những lỗi trên có phải là từ hai tác giả, hay do lỗi của tòa báo đã biên tập và cắt xén, thêm bớt câu chữ và số liệu tùy tiện để ảnh hưởng đến chất lượng bài báo hay chăng?

Cũng vì sự băn khoăn nói trên mà tôi phải vào tận trang Scimago để ngồi nghiền ngẫm và đọc kỹ bộ số liệu gốc, dù đang trong thời gian rất bận. Tôi cần đọc chúng để có thể đưa ra những phán đoán có cơ sở về chất lượng và giá trị của những kết luận của bài báo. Và càng đọc thì càng thấy băn khoăn nhiều hơn, như các bạn sẽ thấy trong những phần tiếp theo của bài  tranh luận này.

Tuy nhiên, vì bài viết đã quá dài nên tôi tạm dừng lại để hoàn tất những công việc khác, rồi sẽ quay lại tiếp với nhiều thắc mắc, và căn cứ để khẳng định rằng các tác giả của bài báo nói trên đã sai! Nói ngắn gọn, tôi thấy rằng bài báo trên khá giống những nhận xét mà tôi và một số đồng nghiệp hay đưa ra cho các sinh viên cao học khi bảo vệ không thành công, phải sửa chữa, hoàn chỉnh lại luận văn Thạc sĩ, đó là: những kết luận nào nghe hợp lý thì không có liên quan gì đến số liệu của nghiên cứu, còn những kết luận nào rút ra từ số liệu của nghiên cứu thì lại rất vô lý hoặc có nhiều sai sót.

(còn tiếp)

Wednesday, October 17, 2012

"Văn hóa thường quy" là loại văn hóa gì thế?

Một người bạn vừa gửi cho tôi đường link dẫn đến một bài dịch về Văn hóa tổ chức được đăng trên trang web của một "Chương trình nghiên cứu" thuộc một đại học lớn tại VN, kèm với một lời đề nghị: đăng giúp lên trên blog này một entry với cái tựa như các bạn đã thấy ở trên.

Nhận được câu hỏi này, tôi cũng bó tay luôn, vì "thường quy" không nằm trong vốn từ cá nhân của tôi, và khi tra Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1998) mà tôi thường dùng thì cũng không có từ này. Tuy nhiên, khi google từ "thường quy" thì tôi thấy từ này rất thường được dùng trong ngành Y, và có thể đoán được nghĩa của từ này qua ngữ cảnh sử dụng của nó. 

Đại khái, nó phải có nghĩa gì đó liên quan đến định kỳ, thường xuyên, đều đặn, và/hoặc có quy củ, theo quy trình hoặc công thức. Ví dụ như trong những câu dưới đây:

- Mọi thai phụ đều phải kiểm tra thường quy để theo dõi sức khỏe của mình ... (ở đây: http://www.phununet.com/wikiphununet/ChiTietWiki.aspx?m=0&StoreID=748).
- Thường quy xét nghiệm vi khuẩn đường ruột (ở đây: http://www.nihe.org.vn/new-vn/thuong-quy-va-huong-dan-ky-thuat/149/Thuong-quy-xet-nghiem-vi-khuan-duong-ruot.vhtm).
- Thường quy và hướng dẫn ... (được dùng rất nhiều lần ở cùng địa chỉ trang web nêu trên).
- Quy trình rửa tay thường quy (ở đây: http://dieuduongviet.net/diendan/dieu-duong-co-ban-fundamental-nursing-skills/618-quy-trinh-rua-tay-thuong-quy.html)
- MRI thường quy, siêu âm thường quy, X quang thường quy vv (ở đây: http://www.bmir.vn/index.php/mri-thu-ng-quy)

Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, cũng trong những ngữ cảnh tương tự như trên. Nhìn chung, từ "thường quy"  dường như chỉ có nghĩa tương đương với "thường xuyên", "thường kỳ" trong ngôn ngữ bình thường mà chúng ta hay dùng thôi. Nhưng nếu như thế thì làm sao "thường quy" lại được dùng để dịch từ "ad hoc" hoặc "adhocracy" trong tiếng Anh được nhỉ, vì nghĩa của từ ad hoc/adhocracy thì hoàn toàn ngược lại với "thường quy" như có thể hiểu ở trên (đại khái có thể dịch sang tiếng Anh là regular).

Để cẩn thận, tôi bèn google cụm từ "văn hóa thường quy", và rất thú vị khi chỉ tìm thấy có 4 đường dẫn đến các trang có chứa cụm từ này, trong đó có đến 3 đường dẫn thực ra không liên quan vì chúng không phải là cụm từ "văn hóa thường quy" mà là 2 từ "văn hóa" và "thường quy ..." đứng cạnh nhau. Đường dẫn duy nhất có liên quan thì chính là dẫn đến đường dẫn có bài dịch mà tôi đang đề cập đến trong entry này. Như vậy, có lẽ cũng không sai lắm nếu ta đoán rằng người đầu tiên sáng tác ra cụm từ khá ... bí hiểm kia chính là dịch giả của bài dịch nọ (tôi thấy ghi tên một vị tiến sĩ, chẳng rõ vị này có thực sự dịch hay là đưa cho nhân viên nào đó dịch rồi để tên mình lên mà không kiểm tra lại?)

Nhưng nghĩa của cụm từ "văn hóa thường quy" là gì thì tôi không tài nào hiểu được. Theo bản dịch thì "văn hóa thường quy" là từ tiếng Việt tương đương với từ "adhocracy" trong tiếng Anh, vốn có nguồn gốc từ cụm từ "ad hoc". Nhưng như tôi đã nói ở trên, ad hoc không thể nào dịch là "thường quy" được, trừ phi dịch giả của chúng ta vừa tạo ra từ "thường quy" với nghĩa hoàn toàn mới!


Xin chép ở đây phần dịch về "văn hóa thường quy" của vị tiến sĩ nọ:


Văn hóa thường quy

Thuật ngữ “thường quy” (Kiểu thường quy) dựa trên từ ad hoc, để chỉ một đơn vị năng động, chuyên biệt và tạm thời. Những tổ chức có kiểu văn hóa này ta có thể thấy trong giới doanh nghiệp như phát triển phần mềm hay không gian, dịch vụ tư vấn, hay làm phim.  Mục đích của những tổ chức này là cải tiến và có thể thích nghi, vì thế không có hình thức tập trung quyền lực hay quan hệ dựa trên thẩm quyền. Trong một tổ chức như thế, quyền lực chuyển từ người này tới người kia hay từ nhóm công tác này sang nhóm công tác nọ, tùy theo vấn đề đang được giải quyết là gì vào lúc đó”. Do đó, cá nhân trong những tổ chức đó thường là những người độc nhất nhận rủi ro, những người đã dự đoán trước và hiểu rõ sự thay đổi (Cameron & Quinn, 1999). 

(Nguồn: http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=5661; truy cập ngày hôm nay 17/10/012).

Như các bạn thấy, cả 3 từ năng động, chuyên biệt và tạm thời đều trái nghĩa hoàn toàn với từ "thường quy" mà chúng ta đã thấy ở trên. Không tin rằng vị tiến sĩ nọ lại nhầm lẫn như vậy, tôi mò mẫm đi tìm bản gốc tiếng Anh để xem tác giả bản tiếng Anh đã viết gì. May quá, tôi tìm được đường dẫn đến file bài viết gốc như dưới đây:
http://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&ved=0CB0QFjAA&url=http%3A%2F%2Fjournals.cluteonline.com%2Findex.php%2FTLC%2Farticle%2Fdownload%2F1528%2F1508&ei=Lql-UPrBFOS8igLGmoFY&usg=AFQjCNEAq3v98lu5NBX2-GV_ljTBtHvbcg&sig2=fBXqpQVteH-wo0BPpHxsTg

Bản tiếng Anh tương ứng với đoạn dịch nói trên là như sau:

The Adhocracy Culture
Adhocracy is based on the term ad hoc, which refers to a temporary, specialized, and dynamic unit (Cameron & Quinn, 1999). An organization possessing adhocracy can be seen in industries such as aerospace, software development, think-tank consulting, and filmmaking (Cameron & Quinn, 1999). The goal of these organizations is to be innovative and adaptable, as there is no form of centralized power or authority relationships (Cameron & Quinn, 1999). Within an adhocracy, “power flows from individual to individual or from task team to task team depending on what problem is being addressed at the time” (Cameron & Quinn, 1999). Therefore, individuals in an adhocracy are often unique risk takers who anticipate and understand change (Cameron & Quinn, 1999).

Khi đọc được bản gốc và so sánh nó với bản dịch, tôi giật mình vì dịch sai nhiều quá (mà đây mới chỉ là một đoạn ngắn thôi nhé). Trước hết, "ad hoc" có nghĩa là "tình thế", tức không cố định mà được tạo ra tức thời để đáp ứng với một tình thế nào đó. Hơn nữa, "adhocracy" như một loại văn hóa tổ chức, cũng như 3 loại văn hóa tổ chức còn lại trong hệ thống của Cameron và Quinn (1999), thì không phải là chưa có ai bao giờ được dịch ra tiếng Việt để đến nỗi vị dịch giả tiến sĩ nhà ta phải sáng tác ra từ mới.

Vì thực ra adhocracy đã được dịch ra tiếng Việt nhiều lần rồi, trong các tài liệu nói về văn hóa doanh nghiệp hoặc văn hóa tổ chức. Có thể tìm đọc trong các link dưới đây:

- http://open.ptit.edu.vn/hoctap/hoclieu/BG_DDKDvaVHDN.pdf
- http://www.iamvn.com/vn/default.aspx?news_id=198
- http://www.proprofs.com/flashcards/download.php?title=glossary-principle-management

Trong những tài liệu đã nêu, không có tài liệu nào dùng "văn hóa thường quy" để chỉ adhocracy cả. Những từ thường được sử dụng gồm có:

1. Văn hóa sáng tạo. 
Cụm từ này được dùng khá phổ biến, dù không sát nghĩa với từ gốc cho lắm (nhưng chắc chắn là hiểu được, không phải như từ "thường quy" bí hiểm kia).
2. Văn hóa đặc trưng
3. Văn hóa phi thể thức (theo nghĩa: không theo quy định cụ thể, không có quy trình cố định - và vì vậy, không thể là "thường quy")

(Mở ngoặc, lạc đề một chút: Ngoài cái sai về từ adhocracy nói trên thì đoạn trích dịch còn nhiều cái sai khác mà tôi chỉ xin nêu một ví dụ  nổi cộm, đó là "unique risk takers". Cụm từ này mà dịch thành "người độc nhất nhận rủi ro" thì tôi thấy đúng là bó tay thật. 

Nếu ai chưa biết, xin thưa rằng risk taker phải dịch là người liều lĩnh, dám chấp nhận rủi ro, hoặc "dám nghĩ dám làm" như trong tiếng Việt ta vẫn thường nói đấy ạ. "Unique risk takers" phải dịch là "những con người độc đáo, dám nghĩ dám làm"; có thế thì mới "có khả năng dự đoán và hiểu rõ sự thay đổi" chứ nhỉ. 

Cũng còn những sai sót khác nữa mà các bạn có thể tự nhìn thấy rõ ràng nên tôi không nêu ra ở đây nữa, e rằng mang tiếng bới lông tìm vết).

Quay lại từ adhocracy, từ này có thể có nhiều cách dịch như đã nêu ở trên. Riêng tôi thì tôi cảm thấy dịch là "văn hóa linh hoạt" hoặc "văn hóa tình thế" cũng có thể phù hợp ở một số ngữ cảnh cụ thể nào đó. Nhưng dù có chọn cách dịch ra tiếng Việt là gì đi nữa, thì adhocracy không thể là "thường quy" (regular) được, trời ạ! Nên mới có câu hỏi trong cái tựa của entry này.

Lại thêm một ví dụ của dịch sai từ các vị có học hành, tên tuổi trong giới "học giả" nước nhà. Bảo sao mà chất lượng giáo dục không đi xuống cho được cơ chứ?

Hay là vị tiến sĩ của chúng ta có lý do gì rất riêng, rất "chuyên biệt" hoặc rất "thường quy" (!) để dịch khác đi như vậy nhỉ? Cũng có thể! Vì vậy, rất mong nhận câu trả lời của dịch giả có liên quan.
--------------
Cập nhật ngày 1/11/2012
Tôi mới nhận được comment của một bạn đọc blog, là người làm trong ngành Y (chắc thế), có góp ý về cách hiểu từ "thường quy" trong ngành này. Do comment hơi khuất nên e rằng các bạn sẽ bỏ qua một góp ý (đúng hơn là lời giải thích) hay, nên tôi đăng một phần của comment đó lên đây. Rất cám ơn bạn TTH đã gửi comment nhé!

Trong y khoa, chữ thường quy dùng để chỉ những gì thường làm và được dịch từ chữ routine(adj). Ví dụ xét nghiệm thường quy là những xét nghiệm thường được thực hiện cho bệnh nhân khi vào viện bao gồm xét nghiệm về huyết học, sinh hóa hay vi sinh tương đối đơn giản. Trái với những xét nghiệm phức tạp, cao cấp hơn như CAT hay MRI. Khi nói rửa tay thường quy là rửa tay bình thường sau thăm khám bệnh nhân; khác với rửa tay trước khi phẩu thuật thì kỹ hơn lâu hơn. Ngoài ra còn được dùng như một danh từ (noun) là một quy trình thông thường được làm như vậy (regular procedure) như ví dụ trên "thường quy xét nghiệm vi khuẩn đường ruột" nhưng bước thông thường phải làm khi xét nghiệm vi khuẩn đường ruột. 

Sunday, February 26, 2012

Thư trả lời chị Phạm Thị Ly

Tình cờ tôi được bạn bè báo cho biết chị Phạm Thị Ly có thư ngỏ gửi tôi ở trên trang web của chị ấy. Tôi không rõ chị ấy viết bài đó từ hôm nào, vì bình thường tôi không đọc trang của chị ấy mà chỉ đọc lướt qua khi có bạn bè hay học trò báo cho biết có gì liên quan đến cá nhân hoặc công việc của mình mà thôi.

Mọi người có thể đọc nó tại đây.

Có lẽ cả tôi với chị Ly đều là những người có nhiều người biết đến. Ai như thế nào đều có cả một quá trình lâu dài để chứng minh. Và tất cả những người biết chúng ta đều là người lớn, chí ít cũng là các sinh viên đã trưởng thành, nên không ai có thể lừa ai được.

Vì chính chị Ly muốn nhắc lại vấn đề này nên tôi xin nói như sau:

Từ lâu nay tôi vẫn chờ - và cho đến hôm nay thì hoàn toàn thất vọng - một lời xin lỗi chính thức từ chị Ly về những hành động đạo văn, dù vô tình hay cố ý, của chị ấy, không phải chỉ về bài dịch mà tôi vô tình phát hiện với đầy đủ chứng cớ, mà còn nhiều thứ khác. Những thứ ấy chị Ly biết rõ, có lẽ không cần nhắc lại vì đã được nêu ra trước đây, và cũng chẳng tốt đẹp gì cho chị, nhưng tôi cũng sẵn sàng đưa ra công khai nếu chị Ly có yêu cầu đối chất - là điều mà trước đây chị đã một lần yêu cầu tôi (theo lời của chị là "minh định") với thái độ rất tự tin ngạo nghễ đến khó hiểu, chắc chị vẫn nhớ.

Ngay cả bài dịch mà chị Ly bảo rằng chị ấy nhầm lẫn, tôi cũng có một chứng cớ rất rõ ràng rằng chị ấy đã không nói đúng sự thật, liên quan đến một chỗ sửa ở cuối bài dịch của tôi theo hướng có lợi cho chị ấy, trong khi chị Ly thì bảo rằng chị không đọc lại bài dịch nên mới bị nhầm lẫn như thế. Tôi có hỏi lại về chi tiết này, nhưng chị Ly đã không trả lời (không thèm trả lời, hay không thể trả lời?)

Về việc chị ấy nói rằng chỉ vì việc nhầm lẫn ấy mà chị ấy phải rời vị trí PHT, lại một lần nữa tôi thấy chị nói không đúng. Ai quan tâm đến việc này nên hỏi người nguyên là cấp trên của chị ấy. Còn tôi, tôi muốn nói trực tiếp với chị Ly điều này: khi tiếp xúc với cấp trên của chị Ly - người mà tôi rất kính nể vì đã hết sức chân thành xin lỗi tôi, face-to-face, về sự cố này, trong khi lẽ ra điều ấy phải đến từ chị Ly - thì tôi đã nói rằng tôi chỉ cần một lời xin lỗi, một sự thừa nhận sai sót, để chị ấy thực sự rút kinh nghiệm, và đã đồng ý gặp chị Ly ba mặt một lời theo đề nghị của cấp trên của chị ấy. Nhưng rồi việc ấy đã không xảy ra, mà không phải do tôi - do ai thì nên hỏi chị Ly.

Quanh vụ "nhầm lẫn" bài dịch của tôi, thực ra tôi đã không nhận được một lời xin lỗi nào ngoài bức thư mà chị ấy đã viết gửi tất cả mọi người - bằng tiếng Việt không dấu, một cách tỏ thái độ xem thường người khác, vì những bức thư khác chị ấy đều viết có dấu đầy đủ - vốn chỉ nhằm mục đích che đậy cho chính mình, chứ không hề gửi riêng để giải thích và/hoặc xin lỗi tôi. Trong khi đó, để chất vấn thêm về những điều chưa rõ quanh việc này tôi đã gửi mail riêng cho chị ấy. Chị Ly không những không trả lời mà còn đưa lên trang web của mình những lời chửi xéo, đại ý là không có thì giờ đâu mà quan tâm đến những con người chỉ biết dùng thì giờ của mình để hạ thấp người khác, đại khái thế. Bài viết ấy sau đó chị ấy đã xóa đi, có lẽ theo yêu cầu của cấp trên, tôi nghĩ thế, nhưng tôi vẫn còn lưu lại, như lưu những trải nghiệm về một con người.

Cũng giống như vụ VTV và cô Lượm, tôi mãi chờ một lời xin lỗi, và đến bây giờ thì tôi có thể hoàn toàn kết luận rằng chẳng cần gì phải chờ nữa: lời xin lỗi ấy sẽ không thể có được từ một người cao ngạo vô lối như thế. Tôi thấy qua bức thư ngỏ trên trang web của chị Ly, lại một lần nữa chị ấy đang lên mặt dạy đạo đức cho tôi như trước đây khi còn đang nợ những câu hỏi của tôi. Giả dụ nếu tôi cần học đạo đức, thì chị Ly đóng vai thầy dạy đạo đức liệu có phù hợp không nhỉ?

Tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi chẳng có lý do riêng gì, lại càng không có thời gian, để phải quan tâm đến chị Ly như chị Ly đã nghĩ (chẳng lẽ chị lại cho rằng chị quan trọng đến thế đối với cuộc đời của tôi?) Việc tôi mở ngoặc trong bài viết mà chị Ly đề cập đến hay bất kỳ bài nào khác là điều tôi làm rất bình thường, vì tôi xem blog là nơi để ghi lại mọi reflections của tôi về mọi việc xảy ra trong cuộc đời tôi, xung quanh tôi, trong đó có rất nhiều việc liên quan đến chính bản thân tôi, dù xấu dù tốt. Nhưng việc xấu có liên quan đến người khác thì tôi luôn để ở dạng ẩn danh vì chỉ viết cho mình chứ không có mục đích bêu xấu người khác (chị nhớ lại xem, tôi cũng đã làm như thế với entry "Buồn hay phẫn nộ"), vì vậy, chỉ có người trong cuộc thì mới hiểu được kinh nghiệm mà tôi nhắc đến là gì mà thôi.

Mặc dù rất thất vọng về tư cách của chị Ly, và phẫn nộ vì hành vi đạo văn - dù vô tình hay cố ý - ở những mức độ khác nhau của chị Ly, trong đó có những hành vi liên quan đến tôi, nhưng những entry mà tôi tôi đã viết trong đó nêu ra những việc chẳng lấy gì làm tốt đẹp liên quan đến chị Ly thì tôi đã cất đi, để việc ấy được khống chế trong phạm vi hẹp vì lan ra quá rộng sẽ chẳng tốt gì cho chị ấy. Lẽ ra chị Ly phải cám ơn tôi vì điều ấy, và chắc chắn là không thể cám ơn bằng bức thư ngỏ lên giọng răn dạy đạo đức mà tôi đang đề cập đến ở đây.

Tôi không dùng blog để đôi co, và vì thế những entry ghi lại những điều không mấy tốt đẹp thì tôi sau khi đọc lại tôi đều cất đi để lưu cho riêng mình chứ không để public. Nhưng riêng entry này thì tôi sẽ để lại, để trả lời entry của chị trên trang của chị ấy, vì nếu không thì mọi người sẽ không đủ thông tin.

Chị Ly có đề nghị mọi chuyện nên chấm dứt ở đây. Mọi việc thì nó sẽ chấm dứt thôi chị ạ, dù chuyện lớn đến mấy đi nữa, vì sẽ chẳng có ai có thì giờ để nhớ. Huống chi đây chỉ là chuyện không đáng gì. Nhưng ký ức của tôi về những điều đã gây cho tôi ấn tượng mạnh - xấu hoặc tốt - thì nó vẫn còn đó, và thỉnh thoảng khi reflect về những gì có liên quan thì nó sẽ lại tuôn ra, độc lập với ý thức của tôi. Lúc ấy, nếu dòng liên tưởng của tôi có liên quan đến việc của chị, thì chắc chị lại cho rằng tôi cố tình xúc xiểm mạ lỵ chị (chẳng lẽ trong đời tôi chỉ có một mình chị để quan tâm?). Nếu sau này có như thế nữa thì tôi cũng đành chịu thôi. Nghìn năm bia miệng, chị ạ.

Có bao giờ chị nghĩ rằng cách tốt nhất để chấm dứt nó là hãy học ngay từ thái độ của người nguyên là cấp trên của chị, đó là chân thành và dũng cảm thừa nhận sai sót với chính người mà chị đã gây ra điều sai trái hay không?
---
Tôi cũng muốn nói một lần cho rõ đến mọi người và nhất là chị Ly như thế này: việc dịch một bài ngăn ngắn như bài chị đã lấy của tôi là hoàn toàn không khó khăn gì, khi ngày nay đã có google dịch và hàng trăm công cụ khác hỗ trợ. Hoặc có thể bỏ ra với giá vài chục ngàn, một trăm ngàn/trang là sẽ có ngay nhiều người dịch. Ở TT tôi thì có lẽ có hàng chục em có thể dịch bài ấy, trừ một vài thuật ngữ hoặc kiến thức, kinh nghiệm mà các em không có. Vì vậy sẽ không ai đánh giá chị hay tôi ai giỏi hơn ai qua một bài dịch đó.

Vấn đề là với sự cố đó, và hàng loạt những việc khác nữa, thì tôi có rất nhiều câu hỏi về việc liệu chị có hay không ý thức về bản quyền và công sức lao động trí tuệ của người khác, trong đó có tôi? Vì nếu chị không có ý thức về điều này thì chẳng thể nào tôi dám làm việc khi có chị ở xung quanh, vì luôn phải cảnh giác xem mình có cái gì hở ra và có thể bị mất bản quyền hay không. Những câu hỏi của tôi dành cho chị trước đây là hoàn toàn chính đáng, nhưng tôi đã không nhận được câu trả lời, mà cũng chẳng có được sự thừa nhận như sau này chị đã gián tiếp thực hiện ở nơi này nơi khác khi nói rằng chị đã sai (có thể do không biết?). Mà ngược lại, dường như chị lại cho rằng đó là sự đố kỵ, ganh ghét, xúc xiểm của tôi đối với chị? Nếu chị ở vào vị trí của tôi thì không hiểu chị sẽ nghĩ như thế nào nhỉ?

Cho nên, nếu mọi việc cứ dây dưa mãi không chấm dứt như thế này thì có lẽ chị cũng thấy rằng ít ra đó là một phần trách nhiệm của chị chứ. Hay lại cũng chỉ là tại tôi nữa, một người hình như chỉ biết lấy việc hạ thấp người khác làm mục đích tồn tại của đời mình (như chị đã nói)? Mà kể cũng lạ, sao tôi lại cứ phải có thái độ như thế với riêng một mình chị, chị Ly nhỉ?
----
Tôi cũng muốn nhắc lại với chị tựa đề của một email mà tôi đã gửi cho chị lần cuối cùng khi còn xem nhau là "bạn": "Mọi người không có cái quyền ấy đâu Ly ạ!". Mong chị cố gắng nhớ lại xem tại sao quan hệ "tốt" giữa chúng ta lại chấm dứt nhé, vì tôi thấy trong thư chị viết gửi tôi thì chị bảo là không rõ tại sao, rất ngây thơ!

Saturday, November 26, 2011

Xin cẩn thận khi viết tiếng Anh!



Entry này nhằm trả lời cho một người quen đã gửi link bài viết này đến tôi, và cũng để góp ý cho tác giả của bài viết.

Vì biết tôi quan tâm đến việc "đo lường” nên người quen của tôi đã gửi cho tôi một đường link đến một bài viết về “đo lường thư mục” (bibliometrics) trên trang web của một trung tâm thuộc một đại học lớn do một người đồng nghiệp khá nổi đình đám phụ trách.

Gửi, kèm một câu hỏi xem tôi nghĩ gì về bài viết, đặc biệt là phần tiếng Anh, vì người quen của tôi nói rằng thấy nó … kỳ kỳ.

Tôi đang bận nên không quan tâm đến nội dung của bài viết này (và có vẻ cũng không có thông tin gì mới), nên chỉ vào đọc sơ sơ và chú ý xem tiếng Anh có vấn đề gì không. Nhìn một cái thì đã thấy ngay một lô những lỗi ngữ pháp rất cơ bản, không kể văn phong và cách dùng từ là điều khá cảm tính, mỗi người một gu khác nhau. Xin trích một đoạn ngắn dưới đây:

Assessment of research output is a necessary requirement. The information is needed for research and development policy strategies, and to form a foundation for research funding allocation decisions. However, the dominant bibliographical databases Thomson WoS and Scopus have strong linguistics [lẽ ra phải là linguistic vì là tính từ] and geographical bias. They do not cover the whole picture in that they do not fully represents [đã do not, thì represent không chia thì nữa; mà nếu có chia thì thì chủ từ là “they”, làm sao lại chia số ít?] research performance throughout the world.

Since 2007, UNESCO created [đã dùng since, thì không dùng simple past; thực ra ở đây phải dùng "In 2007" mới đúng] a guide for improving research assessment in developing countries. These guidelines [câu trên là "a guide", nhưng câu dưới là "these guidelines", nên không biết từ “these” trỏ về đâu?] provide a comprehensive evaluation, to assess research outcomes in connection with levels of investment such as the number of researchers and size of research funding.

Regarding the qualitative versus the quantitative evaluation of research, it is impossible to avoid metrics-based methods. Compared with the nature sciences [lỗi này cơ bản quá, "natural sciences" chứ không phải là "nature sciences", các bạn ạ!], the bibliometrics methods used for social sciences and humanities cause more problems and concerns. [...]


Ngoài ra, cái tựa của bài viết cũng không đúng chính tả tiếng Anh: “Bibliometrics And New Trends In …”. Xin nhớ giúp một luật chính tả cơ bản: các hư từ ngắn trong tựa tiếng Anh được viết chữ thường chứ không viết hoa.

Chắc là còn nhiều nữa, nhưng thôi, chỉ xin có vài dòng nhắn gửi: Hãy thận trọng, và hãy nhờ những người biết nhiều hơn mình kiểm tra lại cho mình.

Chỉ có vậy thôi.

Thursday, March 17, 2011

Thông báo ngắn

Tôi xin thông báo là tôi đã rút bài "Thư trả lời chị Phạm Thị Ly" xuống, mặc dù đã hứa sẽ để nó lại trên mạng để làm rõ thông tin liên quan đến thư ngỏ mà chị Ly viết trên trang của chị ấy. Việc rút xuống này vừa tự nguyện như tôi đã làm những lần trước liên quan đến vụ chị Ly, vừa theo yêu cầu của một người mà tôi luôn tôn trọng. Bởi vì thật ra những gì được đề cập trong bài viết đó chẳng có gì là hay, và bản thân tôi cũng không muốn đề cập đến nó một cách trực tiếp như vậy nếu không bị rơi vào tình huống buộc phải làm như thế.

Trước đây tôi nghĩ cần phải có bài trả lời để cung cấp đủ thông tin về phía mình cho bài viết mà chị Ly đã đưa lên trang của chị ấy, nhưng cho đến bây giờ thì tôi nghĩ điều đó không còn cần thiết nữa. Mà có hơn kém, ăn thua gì một vài chi tiết trong sự việc ấy. Ai là ai thì ai cũng đã biết cả rồi.

Xin cám ơn những lời động viên, chia sẻ của các bạn bè, thân hữu của tôi.