Wednesday, October 27, 2010

Văn hóa đạo văn?

Entry này tôi viết tản mạn, chủ yếu là để lưu lại những đường dẫn đến những bài viết có liên quan đến một vấn đề mà tôi quan tâm đã lâu, đó là khía cạnh văn hóa của việc đạo văn.

Câu hỏi mà tôi tự đặt ra cho mình đã lâu, là phải chăng đạo văn có nguồn gốc từ văn hóa? Vì rõ ràng là các nước châu Á có thói quen đạo văn cao hơn nhiều so với các nước Âu-Mỹ. Và cả người đạo lẫn người bị đạo đều ... xem đó là việc bình thường (!?). Ừ thì thực ra cũng không hoàn toàn bình thường, nhưng tôi có một kinh nghiệm nho nhỏ về việc phát hiện văn của mình bị đạo, và phản ứng - tất nhiên cũng không nhẹ nhàng lắm, vì rất bực do sự việc lập đi lập lại nhiều lần, thì dường như dư luận cũng không ít người cho rằng tôi đã quá nhẫn tâm với đồng nghiệp. Nói cách khác, việc đạo văn ấy, có gì đâu mà ầm ĩ! Vậy đấy.

Khi đa số mọi người cùng chia sẻ một cách nghĩ, một cách làm, không cần tự hỏi tại sao mình lại làm như thế (vì ai cũng làm thế mà), thì đó là văn hóa. Vậy khi đa số ai cũng đạo văn, và nghĩ rằng việc ấy có gì đâu mà rộn, nó cũng bình thường thôi (!), thì điều đó nếu không gọi là văn hóa đạo văn thì gọi là gì chứ? Nếu vậy, rõ ràng là châu Á có văn hóa đạo văn. Cái này không chỉ tôi nghĩ, mà nhiều người đã viết như vậy. Đó là lý do tại sao tôi có entry này: để lưu những links dẫn đến những bài viết về văn hóa đạo văn của châu Á.

Vậy thì đây:
1. A Culture of Plagiarism - thấy chưa, tựa bài bằng tiếng Anh cũng đúng là văn hóa đạo văn đấy nhé, có phải tôi "chế" ra cụm từ này đâu. Đọc ở đây. Bài này nói về đạo văn ở Indonesia. Còn dưới đây là vài đoạn trích đáng lưu ý:
With an avalanche of plagiarism cases here, we have unwittingly nurtured a culture of plagiarism. In fact, the habit of copying one’s intellectual property is deeply rooted in our education. A simple case is a teacher who is fond of asking the students to provide answers of an exam in line with the materials provided to be memorised.

A number of studies on plagiarism have suggested that plagiarism is culturally rooted, and that understanding plagiarism under the framework of culture can provide useful insights into how it is perceived differently by different cultures.

2. China must protect intellectual property. Nói về TQ (of course!). Đọc ở đây. Và những đoạn trích đáng lưu ý:
In China, production of goods bearing counterfeit brands as well as pirated music, films and game software is flourishing as a full-blown industry.
[...]
Even if one demands compensation for copyright infringement in a trial in China, one will be able to win only a minimum amount of money, a pattern that apparently fails to deter infringement of intellectual property.
[...]
[...] because creators in China, such as lyricists and composers, do not receive sufficient reward for their own works, they are believed to have little sense of guilt in copying other people's works.
Mở ngoặc một chút: như thế này thì chẳng phải chính nền văn hóa ở đây đã sinh ra những người đạo văn sao?
3. Plagiarism controversy. Ở đây. Nói về đạo văn ở Hàn Quốc (đấy, một nước phát triển như Hàn Quốc vẫn cứ có đạo văn, chứ chẳng phải chỉ là chuyện của nước nghèo nữa, vậy phải chăng đó là vấn đề văn hóa?)

Bài viết này đáng lưu ý vì có viết về các loại đạo văn, trong đó có "tự đạo văn" (self-plagiarism) tức là cùng một ý tưởng/ câu chữ của mình nhưng sử dụng nhiều lần ở nhiều nơi mà không có trích dẫn; và đứng tên "đồng tác giả" (co-authorship) mà thực ra chẳng có đóng góp công sức bao nhiêu vào tác phẩm.

Gì chứ 2 loại đạo văn mới nêu (đồng tác giả và tự đạo văn) thì ở VN vô cùng phổ biến, và theo tôi thì cho đến nay chưa thấy ai phản ứng về mấy việc này cả! Có phải lại là vấn đề văn hoá đó chăng?

4. Internet has created culture of plagiarism in universities. Đây là chuyện Mỹ. Đọc ở đây. Đấy, lại một bằng chứng rằng đạo văn là văn hóa.

5. Wang Hui, plagiarism, and the Great Bourgois Academic Cultural Revolution. Ở đây. Lại là chuyện TQ. Hình như văn hóa đạo văn bắt nguồn từ TQ thì phải? Nhưng hình như mọi việc đang thay đổi? Một cuộc CM văn hóa mới? Bài rất đáng đọc.

6. Cultural insight can help tackle plagiarism. Ở đây. Cái tựa rất hay, vì nó ... trùng với ý của tôi. ;-) Bài trên Times Higher Education.

Tạm thời thế đã. Nói vắn tắt: Có thể tin đạo văn là một vấn đề văn hóa. Và để thay đổi một yếu tố văn hóa thì rõ ràng không hề dễ. Phải có những giải pháp đồng bộ, và sự kiên trì. Ôi, tôi không muốn VN lọt vào hàng ... có hạng về đạo văn, giống như một vài nước anh em trong khu vực châu Á này của chúng ta đâu ạ!

Các tiêu chuẩn đánh giá ... (5): Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM

4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM

Là một trong hai thành viên của AUN từ Việt Nam, ĐHQG-HCM đã rất tích cực tham gia phong trào ĐBCL của AUN và cố gắng áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí ĐBCL của AUN vào các hoạt động của mình với những kết quả đáng khích lệ.

Hệ thống ĐBCL bên trong hiện nay của ĐHQG-HCM đang cố gắng áp dụng mô hình của AUN trong tình hình cụ thể của mình, và được xem là khá hoàn chỉnh. Hệ thống ĐBCL của ĐHQG-HCM hiện nay gồm 3 cấp (cấp ĐHQG, cấp trường, và cấp khoa) và 2 hệ thống con như sau:

i. Hệ thống thường xuyên: Gồm TTKT, phòng ĐBCL tại các trường thành viên, và một thành viên thuộc Ban chủ nhiệm các khoa/bộ môn chịu trách nhiệm về ĐBCL (hiện nay chỉ mới có tại các khoa có chương trình tài năng, tiên tiến, chất lượng cao vv). Hệ thống này chịu trách nhiệm thực hiện trực tiếp hoặc triển khai các hoạt động trong 2 yếu tố cuối cùng của mô hình IQA, tức các tiêu chí từ 4 đến 12 trong danh mục nêu trên.
ii. Hệ thống không thường xuyên: Gồm Hội đồng kiểm định ĐHQG-HCM (hiện nay là 23 thành viên, gồm 1 Phó GĐ ĐHQG-HCM, lãnh đạo TTKT, đại diện lãnh đạo tất cả các trường thành viên, các đơn vị trực thuộc, các đoàn thể trong ĐHQG-HCM) và các đoàn đánh giá nội bộ (mỗi đoàn 7 người) do Chủ tịch Hội đồng ra quyết định thành lập nhằm thực hiện các hoạt động được nêu trong 3 tiêu chí đầu tiên của danh mục nêu trên.

Hiện nay, tất cả các trường thành viên của ĐHQG-HCM đã thực hiện TĐG, 5/6 trường đã được ĐGN nội bộ, 18 khoa đang hoàn tất báo cáo TĐG cấp chương trình và đang triển khai ĐGN nội bộ theo AUN-QA và chuẩn bị tham gia liên thông trong AUN (chương trình ACTS). Việc TĐG và ĐGN nội bộ không nhằm công nhận mà nhằm vào việc cải thiện, và nhiều rất nhiều thực tiễn tốt đã xuất hiện.

Có thể nói, việc tham gia AUN có nhiều tác động tích cực đến hoạt động ĐBCL bên trong tại ĐHQG-HCM, và về phần mình, hoạt động này cũng đã đem lại nhiều tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường.

Những việc dự kiến sẽ thực hiện trong thời gian 5 năm tới (2011-2015):
- 20 chương trình thực hiện tự đánh giá (chỉ xem xét những chương trình có khả năng đánh giá đạt chuẩn AUN-QA, và có thể giảng dạy bằng tiếng Anh). Những chương trình này cũng là những chương trình tham gia ACTS.
- 10 chương trình được đánh giá ngoài đạt mức 4.5 trở lên (mỗi năm 2 chương trình).
- Mỗi năm cung cấp 10 học bổng để nhận sinh viên các trường thành viên AUN vào học tại ĐHQG-HCM trong một học kỳ tại các chương trình học bằng tiếng Anh.
- Xây dựng bộ chỉ số hoạt động cốt lõi (KPI) và tham gia xếp hạng khu vực để tiến hành đối sánh hiệu quả hoạt động của ĐHQG-HCM so với các trường thành viên khác và thực hiện cải thiện.
- Hoàn chỉnh và văn bản hóa các quy trình, quy định, sổ tay chất lượng tại ĐHQG-HCM. Gắn kết chặt chẽ hoạt động ĐGCL với hoạt động xây dựng và triển khai chiến lược và hoạt động thi đua, khen thưởng trong các đơn vị.

Các thông tin liên quan có thể xem trên trang web của TTKT tại địa chỉ: .www.cetqa.vnuhcm.edu.vn. Cần phải đăng ký thành viên (miễn phí) để có thể truy cập các tài liệu.

Các tiêu chuẩn đánh giá ... (4): Các tiêu chí đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN-QA

B. Các tiêu chí đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN-QA

Quan điểm của AUN-QA là mọi hệ thống ĐBCL bên trong dù có những khác biệt nhưng đều cần đáp ứng một số điều kiện chung để có thể vận hành có hiệu quả. Vì vậy, AUN-QA khuyến cáo việc thiết lập các hệ thống ĐBCL bên trong tại mọi trường thành viên, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá cho hệ thống này để khuyến khích sự tương hợp(harmonisation) giữa các hệ thống khác nhau.

Với quan điểm tôn trọng sự khác biệt giữa các hệ thống và sự tự chủ của các thành viên, các “tiêu chí” đánh giá của AUN-QA đa phần chỉ là những nguyên tắc chung. Việc đánh giá phụ thuộc rất lớn vào phán đoán của các chuyên gia đánh giá trong đoàn đánh giá, đặc biệt là trưởng đoàn (lead assessor). Vì vậy, để hỗ trợ đánh giá, AUN có các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật triển khai do các chuyên gia quốc tế biên soạn, và để nhất quán với từ “tiêu chí” đã được sử dụng với nghĩa nguyên tắc, AUN không gọi đây là các tiêu chí đánh giá, mà chỉ gọi là chúng là danh mục kiểm tra (checklist). Về thực chất, danh mục này là sự cụ thể hóa các nguyên tắc đã được AUN đưa ra, và có thể hiểu là các tiêu chí đúng theo cách hiểu của VN hiện nay. Trong bài viết này, từ “tiêu chí” được sử dụng để chỉ các yếu tố được nêu trong tài liệu hướng dẫn triển khai.

AUN-QA đưa ra 12 tiêu chí nhằm đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong của một trường đại học như sau:
1. Chính sách và các quy trình ĐBCL
2. Giám sát thường xuyên
3. Định kỳ thẩm định các hoạt động cốt lõi (giảng dạy, nghiên cứu, dịch vụ cộng đồng)
4. ĐBCL việc kiểm tra đánh giá người học
5. ĐBCL đội ngũ giảng viên
6. ĐBCL cơ sở vật chất
7. ĐBCL dịch vụ hỗ trợ sinh viên
8. Thực hiện tự đánh giá
9. Kiểm toán nội bộ
10. Các hệ thống thông tin
11. Công bố thông tin về chất lượng
12. Sổ tay chất lượng

Khi kết nối các tiêu chí này vào các mô hình chất lượng của AUN, ta sẽ ngoài thấy tiêu chí 1 có liên quan đến yếu tố cốt lõi đầu tiên trong mô hình chất lượng tổng quát (các chính sách tổng thể của nhà trường, trong đó có cả chính sách về chất lượng), các tiêu chí từ 2 đến 12 chính là các chi tiết của mô hình IQA, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các quy trình và công cụ đảm bảo chất lượng chuyên biệt (yếu tố 3 và 4 trong mô hình, được cụ thể hóa bằng các tiêu chí từ 4 đến 12). Đây cũng là những tiêu chí mà các trường đại học mới xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong thường chưa thực hiện, hoặc thực hiện chưa đầy đủ, và cần chú trọng.

Việc sử dụng các tiêu chí này để đánh giá được hướng dẫn cụ thể trong các tài liệu do AUN-QA cung cấp, đặc biệt là cuốn Cẩm nang hướng dẫn triển khai các nguyên tắc ĐBCL của AUN. Tài liệu này đã được dịch ra tiếng Việt do TTĐBCL&NCPTGD thuộc ĐHQG Hà Nội thực hiện.

Các bạn đọc blog này nếu có quan tâm có thể liên hệ với TTKT (địa chỉ mail: ttkt@vnuhcm.edu.vn) để có thêm thông tin liên quan đến AUN-QA.

(còn tiếp)

Saturday, October 23, 2010

Các tiêu chuẩn đánh giá ... (3): Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA

3. Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA

A. Mô hình hệ thống ĐBCL bên trong của AUN-QA

Như đã nêu ở trên, ĐBCL là quá trình thường xuyên kiểm tra (assessing), giám sát (monitoring), bảo chứng (guaranteeing), duy trì (maintaining) và cải thiện (improving) chất lượng. ĐBCL bao gồm các hoạt động bên ngoài - ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới là kiểm định, và đảm bảo chất lượng bên trong (tự kiểm soát, đánh gía và cải thiện), trong đó ĐBCL bên trong đóng vai trò quyết định.

AUN-QA đã chi tiết hóa một mô hình hệ thống IQA của một trường đại học với 4 yếu tố, trong đó 2 yếu tố đầu là các công cụ nhằm thu thập thông tin và thực hiện đánh giá thường xuyên, và 2 yếu tố sau là các quy trình ĐBCL đặc biệt với các công cụ thu thập thông tin dành riêng cho các hoạt động đánh giá tổng kết theo chu kỳ dài.

i. Các công cụ giám sát (monitoring instruments):
Đây là những công cụ nhằm giám sát các hoạt động cốt lõi của một trường đại học, bao gồm: tiến trình học tập của sinh viên (student progress), tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ bỏ học (pass rates, drop out rates), phản hồi từ thị trường lao động và cựu sinh viên (feedback from the labour market and alumni), và hiệu suất nghiên cứu (research performance).

ii. Các công cụ đánh giá (evaluation instruments):
Những công cụ này bao gồm: đánh giá giảng viên do sinh viên thực hiện (student evaluation), đánh giá môn học và chương trình học (course and curriculum evaluation), đánh giá kết quả nghiên cứu (research evaluation), và đánh giá các dịch vụ phục vụ sinh viên (service evaluation).

iii. Các quy trình ĐBCL đặc biệt (special QA processes):
Ngoài các hoạt động thu thập thông tin thường xuyên, ĐBCL bên trong còn có những quy trình ĐBCL đặc biệt như sau: ĐBCL việc kiểm tra đánh giá học viên (QA student assessments), ĐBCL giảng viên/ nhân viên (QA staff), ĐBCL cơ sở vật chất, thiết bị (QA facilities), và ĐBCL việc hỗ trợ người học (QA student support).

iv. Các công cụ ĐBCL đặc biệt (special QA instruments):
Yếu tố cuối cùng của hệ thống ĐBCL bên trong theo AUN là các công cụ ĐBCL đặc biệt phục vụ việc đánh giá tổng kết, đó là phân tích SWOT (SWOT analysis), kiểm toán nội bộ/ đồng nghiệp (inter-collegial audits), hệ thống thông tin (information system), và sổ tay chất lượng (quality handbook).

(còn tiếp)

Free download, must-read và phân tích chính sách công tại VN

Mấy ngày nay tôi bận quá, vì phải tham gia một đoàn đánh giá ngoài ở một trường đại học.

Đây là một trường công lớn và rất có truyền thống, nhưng cũng như đa số các trường công (và tư?) khác ở VN, nó rất ngổn ngang, thành tựu cũng nhiều và không thể chối cãi (đặc biệt khi xét về các điều kiện nguồn lực tài chính và nhân lực của nó), và những điều chưa tốt và cần phải cải thiện cũng không hề ít.

Chứ gì nữa? Một ví dụ rất nhỏ trong vô vàn những cái yếu mà có lẽ ai cũng biết của trường này, cũng tiêu biểu cho mọi trường khác, là sinh viên vào học nhưng chẳng được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học của mình, ngoài ... thời khóa biểu (tổng quát) của một HK, và thời khóa biểu chi tiết nhưng chỉ chính xác một cách tương đối của hàng tuần. Còn mọi việc khác, chẳng hạn tổng số tín chỉ, việc được học rút ngắn thời gian (vì tín chỉ mà), các môn học được phép lựa chọn vv tất cả đều chỉ là ... dự kiến, và có lẽ đến 60% là sẽ có thay đổi?

Chà, cái này mà ở Tây thì sinh viên nó kiện cho phải biết! Nhưng ở VN thì ... mọi người quen rồi, mà có lẽ cũng vì bản chất là một dân tộc vui vẻ dễ tính nên thế nào cũng chấp nhận được.

Nhưng cũng không trách được thầy cô giáo và nhà trường, khi lương bình quân của giảng viên chỉ có 6 triệu, còn chuyên viên phòng ban la 5 triệu. Mà đó là lương của những người có học vị trung bình là thạc sĩ, đa số đã có gia đình, với thâm niên bình quân là xấp xỉ 10 năm, và đang sinh sống ở một thành phố đắt đỏ nhất nước (và ... nhiều rủi ro, tai nạn chết người trên đường phố có lẽ cũng thuộc hàng ... nhất nước), mà thu nhập như vậy, thì bảo làm sao mà đòi hỏi nhiều hơn được nữa? Nó cũng giống như đưa cho người nhà 20 ngàn đồng để đi chợ cho một nhà 8 miệng ăn, mà đòi khẩu phần mỗi người phải 200 gr thịt bò, tất nhiên là còn phải cân bằng dinh dưỡng, đủ chất đường bột, chất béo, rau xanh và chất khoáng ...!!!!

Cho nên mới hiểu, tại sao mà hoạt động đảm bảo chất lượng, kiểm định vv đã được khởi động và hì hục làm cả chục năm nay mà không thấy tác dụng gì mấy: thì chính sách lương, chính sách thành lập trường đại học, chính sách tuyển sinh vv vẫn cứ như cũ, thì hỏi kiểm định như vậy chứ kiểm định dày hơn nữa, kỹ hơn nữa, thì liệu có hy vọng mang lại được tác dụng gì không?

Và lại nhớ mấy ngày nay báo chí đang đóng góp cho đại hội đảng, trong đó có đóng góp về chính sách giáo dục. Có nhiều ý hay, có nhiều người tâm huyết, có kinh nghiệm, và có cả lý luận, nhưng cũng không ít người chỉ có hư danh (cũng chuyên gia, cũng chức sắc, cũng sư cũng sĩ cả chẳng kém ai), và chỉ có lý sự và lời lẽ nổ lốp bốp, nhưng ý tưởng thì thuộc loại: "cái mới thì không hay, cái hay thì không mới!"

Chưa kể, còn nhiều cái ... rõ ràng là không đúng, hoặc rất đáng ngờ, thực thế!

Ví dụ, mới trên báo Tuổi trẻ hôm qua có một phần phát biểu mà tôi cứ ngờ ngợ mãi, muốn phản bác nhưng còn thận trọng không dám, cần kiểm tra kỹ lại (chưa kể, cũng muốn tránh vì nếu không thì lại bị hiểu lầm rằng có ... thành kiến cá nhân, hoặc ... chơi xấu đồng nghiệp? Vì ở VN thì, ai cũng rõ mà, "một trăm cái lý không bằng một tí cái tình?")

Vâng, điều tôi ngờ ngợ là thế này ạ: tôi mới đọc được trên báo Tuổi trẻ một phát biểu rằng ở Mỹ, Viện NC khoa học giáo dục được lập ra do một đạo luật của QH Mỹ, và Viện trưởng do tổng thống Mỹ trực tiếp bổ nhiệm?????

Lạ thật! Tôi nghĩ điều này cực kỳ vô lý vì nhiều lẽ:

1. Mỹ không chỉ có một viện nghiên cứu về giáo dục, mà phải hàng trăm, thậm chí hàng ngàn. Vậy Viện nào là Viện có Viện trưởng do TT Mỹ bổ nhiệm nhỉ?

2. Các viện nghiên cứu chính sách thực chất là các think tanks, mà think tanks của Mỹ thì là một biểu hiện rất rõ của xã hội dân sự; chúng làm việc độc lập với nhà nước, để có thể khách quan mà phản biện nhà nước. Ngay cả nếu chúng có sử dụng ngân sách công thì chúng cũng sẽ được quyền tự chủ rất cao để tha hồ phản biện. Vậy nếu tổng thống bổ nhiệm thì còn gì sự độc lập nữa? Nếu nói khác ý của tổng thống, sẽ bị cách chức thì sao? Vậy hóa ra là các think tanks của Mỹ là thuộc dạng ... bồi bút ư?

Tôi thắc mắc mãi, thực thế, nên nếu có ai hiểu biết hơn xin vui lòng chỉ bảo cho tôi biết với, để mở đầu ra, cho nó bớt ngu đi ạ!

Còn tôi, thì tôi chỉ nghĩ rằng, đã là người có học, thì nên bám chắc lấy câu: "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe!"

Nên mới đưa lên đây đường link dẫn đến cuốn sách rất đáng đọc (sorry, hơn 600 trang tiếng Anh), với cái tựa dịch ra tiếng Việt là "Cẩm nang phân tích chính sách công".

Nó ở đây này, rất đáng đọc.

Tôi cũng đang đọc, và nếu có gì hay, và nếu có thời gian, sẽ viết lên đây để chia sẻ với mọi người nhé.

Lại lẩn thẩn nghĩ, ở VN hiện nay, chính sách công được xây dựng theo kiểu rất không chuyên nghiệp như thế này - cứ đưa ra bàn rộng rãi, ai nói cũng được, mà nguời người nói thì biết một cũng tưởng mình biết mười, hùng hồn đao to búa lớn, rồi cuối cùng lấy ý kiến số đông, thì chẳng trách tại sao các chính sách công của ta cứ tệ hại như vậy?

Mà cả những người được xã hội kính trọng, xem là chuyên gia cũng có thể như thế, mới ... kinh hoàng chứ? À mà tôi sực nhớ, trước đây có mấy đồng nghiệp đáng kính của tôi phát biểu ngon lành rằng ... Mỹ không có Bộ Giáo dục! Lạ, làm sao một bộ quan trọng như thế, mà Mỹ lại không có? Hay tại vì nó có Viện NC KHGD rồi, do tổng thống bổ nhiệm lận đó, nên không cần bộ giáo dục nữa??????

Lạ thực đấy, nếu các chuyên gia, những nhân vật tai to mặt lớn trong ngành giáo dục mà đang phát biểu như vậy, thì tôi ... tiêu là cái chắc rồi. Rõ ràng là tôi phải kiểm tra lại những hiểu biết của tôi, vì nó ... khác những gì mà các chuyên gia của VN đang phán trên báo chí quá đi mất! (Ừ mà tôi vẫn đang làm điều ấy đó thôi, bằng chứng cụ thể là bài viết này, chẳng hạn.)

Nhân tiện, mọi người đọc thêm bài này, bằng tiếng Việt, khá hay, để hiểu thêm về quá trình xây dựng chính sách ở các nước nhé!
------
Cập nhật lúc 13:45 phút cùng ngày:
Bài này vừa đưa lên ít lâu là đã có người phản biện, góp ý. Rất hay. Các bạn đọc các comment bên dưới và tranh luận tiếp nhé!

Wednesday, October 20, 2010

Các tiêu chuẩn đánh giá ... (2): Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA

2. Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN

Quản lý chất lượng là một khái niệm và thực tiễn xuất phát từ trong lĩnh vực quản lý công nghiệp, và nhiều mô hình đã được đưa ra áp dụng, ví dụ như mô hình EFQM của châu Âu hoặc mô hình Balridge của Mỹ. Khi áp dụng quản lý chất lượng vào lĩnh vực giáo dục đại học, cần có những điều chỉnh thích hợp.

Với sự tư vấn về kỹ thuật của các chuyên gia Hà Lan [xem chú thích 1], AUN-QA đã lựa chọn mô hình chất lượng giáo dục đại học của mình để làm cơ sở xây dựng các quy trình, quy định và hướng dẫn hoạt động đánh giá chất lượng. Mô hình chất lượng của AUN-QA bao gồm 6 yếu tố, trong đó có 4 yếu tố cốt lõi và 2 yếu tố ngoại vi, như sau:

A. 4 yếu tố cốt lõi:

i. Sứ mạng, mục đích và mục tiêu (mission, goals and aims)
Với định nghĩa "chất lượng là đạt được mục tiêu đã đề ra", mọi hoạt động đánh giá chất lượng đều có xuất phát điểm từ sứ mạng, mục đích và mục tiêu. Điều này tất nhiên dựa trên giả định là sứ mạng, mục đích và mục tiêu của một đơn vị là sự phản ánh trung thực và đầy đủ yêu cầu của các bên có liên quan (người học, giảng viên, nhà quản lý trường đại học, người sử dụng lao động, và toàn xã hội).

ii. Chính sách và kế hoạch, hệ thống quản lý, nguồn nhân lực, và nguồn lực tài chính (Policy plan, management, human resources, and funding)
Đây là những yếu tố liên đến đầu vào của hệ thống, là điều kiện cần thiết (nhưng chưa đủ) để tạo ra chất lượng mong muốn.

iii. Các hoạt động cốt lõi, bao gồm: đào tạo, nghiên cứu, và các dịch vụ cho cộng đồng (educational activities, research, and community services)
Đây là thành phần chủ yếu của một mô hình chất lượng. Mỗi loại hoạt động đã nêu - đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ - đòi hỏi có một mô hình chi tiết đặc thù riêng cho nó.

Trong 3 hoạt động này, AUN-QA trước mắt chú trọng đến hoạt động đầu tiên là đào tạo - cũng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong các hoạt động của một trường đại học - và đưa ra một mô hình chi tiết cụ thể để áp dụng trong đánh giá chất lượng chương trình đào tạo.

iv. Các thành quả đạt được (achievements)
Đây là kết quả cuối cùng của mọi hoạt động đã nêu ở trên, và cũng là chứng cứ rõ ràng nhất về chất lượng của một đơn vị. Mỗi loại hoạt động - đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ - sẽ có những loại thành quả riêng biệt, và sẽ được nêu cụ thể trong các mô hình chi tiết dành riêng cho từng hoạt động.
----
Cập nhật sáng 21/10/2010:

B. 2 yếu tố ngoại vi:


i. Sự hài lòng của các bên liên quan (stakeholder satisfaction)
Đây là những thông tin phản hồi mà một hệ thống giáo dục cần thu thập thường xuyên và nhanh gọn về mọi yếu tố trong suốt quá trình hoạt động của mình – từ nguồn lực đầu vào, đến quy trình vận hành, và thành quả đạt được. Những thông tin này giúp hệ thống luôn vận hành theo đúng mục tiêu đã đề ra.

ii. Đảm bảo chất lượng và đối sánh trong phạm vi quốc gia/quốc tế
Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) được định nghĩa là quá trình thường xuyên kiểm tra (assessing), giám sát (monitoring), bảo chứng (guaranteeing), duy trì (maintaining) và cải thiện (improving) chất lượng.

Đối sánh có thể định nghĩa nôm na là so sánh một chương trình hoặc cơ sở đào tạo với một chương trình hoặc cơ sở đào tạo khác khá hơn để nhận diện các điểm yếu của chính mình và học tập từ cách làm của người khác. [Chú thích: Định nghĩa này viết theo tài liệu của UNESCO 2007, tr. 34; địa chỉ truy cập: http://unesdoc.unesco.org/images/0015/001520/152045e.pdf]

ĐBCL và đối sánh là cách thu thập thông tin có cấu trúc và thường được thực hiện theo chu kỳ ở những thời điểm có ý nghĩa đối với một đơn vị hoặc một chương trình đào tạo (ví dụ chu kỳ 5 năm hay 10 năm, là thời gian đủ dài để có thể thấy được những thay đổi quan trọng).

Như vậy, có thể tóm tắt mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN như sau:

- Các yếu tố cốt lõi của mô hình liên quan đến toàn bộ hoạt động thường xuyên của một trường đại học, gồm (1) sứ mạng mục tiêu; (2) nguồn lực; (3) các hoạt động then chốt (đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ); và (4) các thành quả đạt được.

- Các yếu tố ngoại vi của mô hình liên quan đến các thông tin phản hồi và cơ cấu giám sát, đánh giá, đối sánh nhằm giúp cho hệ thống giáo dục có thể vận hành đúng hướng và hiệu quả.

(còn tiếp)

Tuesday, October 19, 2010

Các tiêu chuẩn đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của AUN-QA (1)

Entry này chỉ nhằm ghi lại những ý tưởng phác thảo để chuẩn bị cho một báo cáo mà tôi sẽ phải hoàn tất trong vòng vài ngày tới. Vì vậy, nó sẽ không hoàn chỉnh, hoặc sẽ chỉ được hoàn chỉnh dần dần. Viết ra đây để lưu cho mình, mà cũng là để chia sẻ với những người có quan tâm mà thôi.
---------
Đề cương báo cáo

1. Giới thiệu AUN và AUN-QA
2. Mô hình chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA
3. Hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) của AUN-QA
4. Kinh nghiệm áp dụng tại ĐHQG-HCM
---------
1. Giới thiệu AUN và AUN-QA

A. AUN

AUN là từ viết tắt của cụm từ Asean University Network, tạm dịch sang tiếng Việt là Mạng đại học Đông Nam Á, một tổ chức tự nguyện, phi chính phủ và phi lợi nhuận, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác và nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu giữa các trường đại học trong khu vực.

Được thành lập vào tháng 11 năm 1995 với 13 thành viên đầu tiên thuộc 6 nước Đông Nam Á lúc bấy giờ là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan, hiện nay tổ AUN đã có số lượng thành viên là 26 trường thuộc 10 nước trong khu vực, trong đó có 2 đại học quốc gia của Việt Nam. Danh sách đầy đủ của 26 trường thuộc AUN có thể xem trên trang web của AUN, ở đây.

B. AUN-QA
AUN-QA là nhóm công tác đảm bảo chất lượng của AUN. Ý tưởng thành lập AUN-QA được đưa ra và thông qua vào năm 1998 tại cuộc họp lần họp thứ tư của Hội đồng quản trị AUN. Sau đó, trong năm 1999 danh sách nhân sự của nhóm công tác đã được thông qua trên cơ sở đề cử từ các trường thành viên, mỗi trường một người phụ trách chính và có thể có thêm một người dự trữ nếu thấy cần thiết.

Trong những năm từ 2000 đến hết năm 2004, AU-QA tập trung vào việc xây dựng các mô hình và tiêu chuẩn chất lượng trường đại học, các quy định, quy trình, và tài liệu hưóng dẫn sử dụng. Từ năm 2005 đến nay, bộ tiêu chuẩn này đã được áp dụng để đánh giá các chương trình đào tạo của các trường thành viên, cũng trên cơ sở tự nguyện.

(còn tiếp)

Đóng cửa Khoa Pháp, nên chăng?

Ấy chết, các bạn đừng hiểu lầm. Tôi đang nói chuyện ở Mỹ, chứ không phải chuyện VN đâu ạ.

Số là một người quen của tôi mới gửi cho tôi đường dẫn đến cuộc tranh luận liên quan đến việc một vài trường đại học bên Mỹ buộc phải đóng cửa một số khoa/chương trình thuộc khối ngành nhân văn (humanities).

Cụ thể, trường SUNY Albany (State University of New York at Albany) vừa xóa bỏ các chương trình đào tạo thuộc các ngành tiếng Pháp, tiếng Ý, các ngôn ngữ cổ điển (Latin và Hy Lạp), tiếng Nga và ngành kịch nghệ. Lý do: ngân sách của trường bị cắt giảm, mà số lượng sinh viên đăng ký vào các ngành này lại ít.

Và thế là một cuộc tranh luận về vấn đề này đã được đưa ra trên tờ New York Times. Các bạn có thể vào đây mà đọc. Một cuộc tranh luận rất thú vị, với những ý kiến sắc sảo thuộc cả hai phe, chống và ủng hộ (tất nhiên rồi, có 2 phe thì mới là tranh luận chứ nhỉ?)

Với tư cách là một người tốt nghiệp từ khoa Ngữ văn Anh của trường ĐH Tổng hợp TP HCM, tức hoàn toàn thuộc khối nhân văn, đương nhiên là tôi thuộc phe chống. Nói rõ hơn, là chống việc đóng cửa các khoa ngoại ngữ, hoặc đóng cửa khối ngành nhân văn. Chứ gì nữa, ngành học mà mình đã chọn, và bỏ gần hết cuộc đời ra để theo đuổi (dù lúc sau này tôi bị đưa đẩy quẹo sang ngành khác, đó là đo lường đánh giá), mà bây giờ người ta xóa sổ, bảo sao tôi không chống cho được!

Mà nó không chỉ xảy ra ở Mỹ đâu nhé. Mấy năm gần đây, hiện tượng một số ngành, đặc biệt là thuộc khối ngoại ngữ và nói chung là khối xã hội nhân văn, không tuyển sinh được và có nơi phải đóng cửa, cũng đang diễn ra trong một số trường đại học của VN kia kìa. Nhân tiện, đa số điều ấy diễn ra ở trường tư, nơi hiệu quả kinh tế của việc đầu tư được đặt lên hàng đầu (cũng phải thôi!)

Không có người học, thì rõ ràng là ngành học phải bị đóng cửa. Điều đó có lẽ rất hiển nhiên. Nhưng tại sao ngay ở Mỹ người ta cũng vẫn còn tranh cãi về điều này nhỉ? Mà có phải cứ hễ không có người học thì đóng cửa ngành học hay không? Phải chăng đại học chỉ nên đào tạo những ngành có tính ... nghề? Đặc biệt là những nghề đang "hot", vd ở VN là tài chính, ngân hàng, kế toán, kinh tế, thương mại, rồi bớt "hot" một chút là báo chí, luật, công nghệ thông tin?

Hoặc tất nhiên là khối ngành y học và khoa học về sức khỏe (không "hot" theo nghĩa là có nhiều người đổ xô vào học, nhưng luôn luôn là một ngành đắt giá và sẽ không bao giờ bị đóng cửa, hẳn thế, vì tính nghề nghiệp của nó rất rõ ràng)?

Dường như đây là một xu hướng có thực trên toàn thế giới: những ngành mang tính rộng, phổ biến, ai học cũng được, học trước hết là vì thích học, vì thấy có nó thú vị, hấp dẫn, có ích một cách ... chung chung, mặc dù chưa biết sau này mình sẽ sử dụng nó vào công việc gì - tôi đang nói các ngành nhân văn và nghệ thuật ấy, arts and humanities - thì hình như ngày càng đang bị co cụm lại, và ... dần dần xóa sổ, thì phải?

Xóa sổ các ngành nghệ thuật và nhân văn ư? Tôi không bao giờ trông chờ ngày ấy! Vì nếu thế, thì ... có lẽ cuộc đời này cũng không còn đáng sống nữa!

Tại sao tôi nói vậy? Hãy thử xem một vài đoạn tranh luận chống lại việc xóa bỏ các ngành nhân văn này:
Cuts in the humanities are bad for business and bad for democracy. Even if a nation’s only goal were economic prosperity, the humanities supply essential ingredients for a healthy business culture.

[...] We also pride ourselves on our open democracy, and on the freedoms of speech and the press that make our political life one in which the people rule. To keep democracy vital, we urgently need the abilities that the humanities foster

Xem bài gốc ở đây. Tác giả của nó là giáo sư Đại học Chicago.

Va một người khác, giáo sư ở Harvard đấy nhé:
of course the humanities teach something. Their subject matter is culture, and since everything human beings do is mediated by culture -- by language, by representations, by systems of values and beliefs -- knowing how to understand other languages, interpret cultural expressions, and evaluate belief systems is as indispensable to functioning effectively in the professional world as knowing how to use a computer. This knowledge may or may not make you a better person; it can certainly make you more productive and successful in the workplace.

Link ở đây.

Nói ngắn gọn: để trả lời câu hỏi được nêu trong tựa entry này, câu trả lời của tôi là: không, trăm lần không, ngàn lần không, vạn lần không!

Bạn không đồng ý với tôi ư? Hãy đọc phần tranh luận trên báo NY Times, rồi quay lại đây, chúng ta cùng tranh luận.

Còn tôi, tôi chỉ muốn đưa ra thêm một nhận xét này: nước Mỹ cho đến nay vẫn có một nền giáo dục đại học mạnh nhất thế giới. Và những đặc điểm không lẫn vào đâu được của đại học Mỹ là sinh viên được học một chương trình đào tạo rộng (broad-based curriculum), trong đó các khoa học cơ bản - cả tự nhiên lẫn nhân văn, thường gọi là liberal arts - được chú trọng.

Và không khí học thuật của họ thì tuyệt vời: môi trường tự do tư duy, sáng tạo, tự do phát biểu ý kiến, tự do tranh luận, đi kèm với ý thức về trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng và xã hội ... Một nền giáo dục mà giờ đây các nước mới giàu lên như TQ cũng đang học theo.

Nói thêm: các trường đại học hàng đầu trên thế giới đa số đều là trường đa ngành, trong đó vai trò của các ngành nhân văn trong việc đem lại hình ảnh, vị thế và uy tín cho trường là điều không thể chối cãi. Ví dụ: Harvard và Yale của Mỹ, hay Cambridge và Oxford của Anh.

Nay, vì khủng hoảng kinh tế mà Mỹ phải cắt giảm ngân sách cho các trường đại học, dẫn đến việc các trường cắt bỏ các chương trình đào tạo ít người học như thế này, quả là đáng tiếc.

Ở một góc nhìn khác, tôi cho rằng giáo dục VN nói chung, giáo dục đại học của VN nói riêng, và suy rộng ra là toàn xã hội VN, sở dĩ hiện nay có lắm vấn đề rối rắm và dường như không giải quyết được như thế này là do chưa có sự đầu tư và quan tâm đúng mức cho khối ngành xã hội và nhân văn, mà đặc biệt là ngành nhân văn.

Nhưng có lẽ nó chỉ là tạm thời thôi. Các ngành nhân văn sẽ phải sống, rồi các bạn cứ thử theo dõi mà xem, dù ở VN hay ở Mỹ gì cũng vậy. Dù nó có thể tồn tại dưới một hình thức khác hơn hiện nay, có lẽ thế?

Bạn không bị thuyết phục ư? Vậy thì ... xin mời, chúng ta tranh luận nhé! :-)

Saturday, October 16, 2010

Có thế chứ, top của VN đây này!


------------------------------
Như các bạn đã biết, tôi đang quan tâm đến xếp hạng đại học, và cứ suốt ngày đọc về ranking với benchmarking, đến là chán.

Chán, là bởi vì chẳng riêng tôi, mà mọi người đều cảm thấy khá … mệt mỏi và vô vọng vì càng hiểu về xếp hạng đại học, về các yếu tố thành công của một trường đẳng cấp quốc tế, thì càng thấy cái mục tiêu lọt vào top 200 vào năm 2020 của một vài trường đại học VN nó mới … bất khả (impossible) làm sao!

Vì 2 điều quan trọng nhất của một trường đại học có đẳng cấp, theo ý tôi, là đội ngũ giảng viên và nhà khoa học giỏi, cùng danh tiếng thông qua các mối quan hệ và tác động với cộng đồng, không chỉ trên phạm vi trong khu vực mà còn toàn thế giới, thì đều không dễ đạt được theo những công thức có sẵn nào, mà đòi hỏi sự sáng tạo, chấp nhận rủi ro, bám sát cuộc sống, và sự kiên trì, bền bỉ – tức là đòi hỏi rất nhiều thời gian.

Cho nên, càng đọc thì tôi càng cảm thấy là chẳng thể có công thức chung nào cho sự thành công hết. Ngoài vài nguyên tắc hoạt động của một trường đại học mà ai cũng biết rồi: tự chủ đại học, tự do học thuật, tự do lựa chọn của người học, và trách nhiệm giải trình của mọi cá nhân, đơn vị đối với xã hội, mà đại diện là một nhà nước dân chủ với hệ thống giám sát minh bạch.

Nói tóm gọn trong vài từ, thì nó là cặp từ mà chúng ta đã nghe từ lâu, có lẽ cả gần 2 thập niên nay từ khi đổi mới giáo dục đại học của VN, đó là “tự chủ và tự chịu trách nhiệm”. Autonomy and accountability.

Vậy chứ cái tựa của entry này là nói đến điều gì đây? À, đang tìm tài liệu về ranking thì tôi lại tìm được global city ranking – xếp hạng thành phố toàn cầu. Và nhìn qua danh sách các thành phố được xếp hạng, bỗng thấy, ngạc nhiên chưa, TP HCM của ta đó!

Ừ thì cũng không có gì đáng nói lắm, vì TP HCM đứng hạng … gần chót, 61/65 thành phố. Nhưng mà … cũng tự hào chứ, vì đó là TP duy nhất của VN được lọt vào danh sách này.

Không những thế, khi nhìn vào phương pháp xếp hạng, ở đây này, thì thấy cũng đáng nể lắm nhé, vì các TP trong danh sách này được xếp hạng theo 25 chỉ số (metrics) thuộc 5 yếu tố sau:

1. Các hoạt động thương mại tại TP, bao gồm giá trị của thị trường tính bằng tiền, số lượng các hãng trong danh sách top 500 của Fortune Global có văn phòng đại diện ở TP, và khối lượng hàng hóa được trao đổi tại TP này.

2. Nguồn vốn nhân lực của TP, bao gồm “kích thước” (size) của dân nhập cư vào thành phố, chất lượng các trường đại học, số lượng các trường quốc tế, và tỷ lệ người dân thành phố có bằng đại học.

3. Sự trao đổi thông tin trong TP, bao gồm số lượng các hãng tin đặt tại TP, mức độ tự do báo chí (chính xác hơn là mức độ không kiểm duyệt), lượng thông tin về thế giới trên các tờ báo hàng đầu của TP, và số lượng người đăng ký sử dụng mạng băng thông rộng (broadband).

4. Trải nghiệm văn hóa tại TP, tức mức độ hấp dẫn về mặt văn hóa của TP đối với dân chúng và khách du lịch. Yếu tố này bao gồm các chỉ số như số lượng các hoạt động lớn văn hóa, thể thao, ẩm thực; các mối quan hệ kết nghĩa với các thành phố khác, vv.

5. Cuối cùng là yếu tố tham gia về chính trị và sự ảnh hưởng đến việc đối thoại và xây dựng chính sách toàn cầu. Làm sao đo được cái này nhỉ? Thì đây: số lượng các đại sứ quán/ lãnh sự quán, các tổ chức quốc tế, các tổ chức nghiên cứu chính sách (think-tank) lớn, và các hội nghị về chính trị mà TP đứng ra tổ chức.

Các bạn cứ thử nhìn kỹ các chỉ số trên kia mà xem kìa, trong 5 yếu tố thì chỉ có 1 yếu tố liên quan đến kinh tế mà thôi, 4 yếu tố khác là nguồn nhân lực, là thông tin, là văn hóa, và là sự tham gia chính trị toàn cầu. Mà yếu tố thứ hai, nguồn nhân lực, cũng nêu hẳn vai trò của các trường đại học nhé. Cho nên nếu TP HCM mà lọt vào được danh sách này thì cũng đáng tự hào chứ bộ. Mà VN chỉ có một mình TP HCM thôi nhé!

Nói thêm: bài viết này của tôi đăng lên đây cũng không lạc đề lắm đâu, vì đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới nói đến vị trí địa lý của các trường đại học hàng đầu. Ví dụ như những bài viết này, ở đây, ở đây, và ở đây.

Điều này có nghĩa là gì? Nếu TP HCM là một thành phố toàn cầu, đã lọt vào danh sách xếp hạng cùng với những thành phố quan trọng khác trên thế giới (trong khu vực ĐNA ta thấy ngoài TP HCM còn có Jakarta, Bangkok, Kualar Lumpua, vv), thì khả năng TP HCM sẽ có một (vài?) trường đại học có đẳng cấp trong tương lai chắc là sẽ không đến nỗi vô vọng. Mặc dù có lẽ sẽ không phải là năm 2020. Hy vọng nó sẽ là 20…60, hoặc sớm hơn một chút. Sao không là 2050 nhỉ, vì hiện nay dân Mỹ đang ngồi đoán 2050 thế giới sẽ ra sao đấy.

Có đúng vậy không, hay là tôi đang mơ?

Bài đáng đọc, từ báo Trung Quốc: “ĐH châu Á cần thúc đẩy nghiên cứu & sáng chế tư nhân”

Một bài viết của tác giả Binod Sing, mới đăng ngày 15/10/2010 trên trang mạng của tờ Trung Hoa Nhật báo (China Daily). Có thể tìm thấy bản gốc tiếng Anh ở đây.

Một bài viết khá hay, nói lên tình trạng quản lý nghiên cứu khoa học tại các trường đại học Trung Quốc và sự trì trệ, quan liêu của nó. Theo tác giả, quản lý như hiện nay không thể làm cho nghiên cứu khoa học trong các trường đại học phát triển được, và vì vậy cần phải thúc đẩy việc nghiên cứu và sáng chế của tư nhân.

Dưới đây là một vài đoạn trích mà tôi cho là đáng đọc nhất trong bài, và bình loạn của tôi.

Due to the bureaucratic nature of Chinese universities, a serious researcher cannot pursue his research interest in a very nurturing environment. Chinese universities now have abundant funds for R&D to support their scholars, but the way it is channeled smells of corruption and red-tapism. Living and studying in China, we know about the fapiao (bill) being used to get money appropriated from the R&D fund.

Các bạn chú ý phần in đậm nhé: “Các trường đại học TQ hiện nay có ngân quỹ nghiên cứu phát triển khá dồi dào cho các học giả của mình, nhưng cách thức phân bố kinh phí khoa học sặc mùi tiêu cực và quan liêu”!

Vậy phải làm gì? Theo tác giả thì hệ thống quản lý hiện nay phải thay đổi. Nhưng thay đổi cụ thể ra sao thì tác giả không nêu rõ, mà chỉ mô tả cách tuyển sinh của trường IIT của Ấn Độ. Dường như tác giả có ý nói rằng quá trình tuyển chọn các đề tài nghiên cứu cần phải công bằng, tương tự như quá trình tuyển sinh tại IIT vây.

Và đây là đoạn kết luận:
First and foremost, government must reform the fund allocation system and reduce the red-tapism and check out any chance of misuse of fund allocated for R&D purposes. This is the only way to realize the dream of making the 21st century an Asian century. If our universities fail us on the innovation front, we will be in a disadvantaged position to negotiate with the developed world on many fronts.

Nhân tiện, xin đọc thêm phần nhận xét của các độc giả cho bài viết trên:
After the war, for 50 years all the way to the 21th century, African and Indian intellectual elite went to Oxford, Cambridge, Harvard, Yale, Sorbonne etc. to study, while Chinese elite had to settle for Qinghua, Beijing Daxue, Shanghai Jiaotong, and when they were lucky, Moscow or Zagreb University. And remember that China was not a (medium) rich country then, but poorer than India and at least as poor as Africa.

Nominally, theoretically, or dogmatically, no developing country has had such a "poor" academic environment the last 50-60 years as China, but at the same time...

Shi shi qiu shi. Please be realistic, mr Singh. I hate to see developing countries getting the wrong message from their own people.

Các bạn có để ý phần in đậm không? Vâng, đào tạo được người tài cho các trường đại học, thì trước hết những thầy cô và nhà nghiên cứu trong các trường phải được đào tạo tử tế ở các trường đại học tử tế. Chứ cứ như VN hiện nay, lạm phát bằng cấp mà bất chấp chất lượng đào tạo, rồi những người có bằng cấp ấy họ lại nắm được các vị trí quản lý trong các trường đại học, thì chất lượng giáo dục đi về đâu chắc là ai cũng đoán được.

In China the problem is in Copy Right Protection. When that problem is solved then creativity will systematically flourish.

Một nhận xét rất hay phải không các bạn. Không bảo vệ quyền tác giả thì ai tội gì nghiên cứu, sáng chế làm chi cho khổ. Cứ đợi người khác nghĩ xong thì mình … chôm, có phải là khỏe hay không? Cứ chôm ý tưởng, thậm chí chôm cả lời lẽ nữa, của người khác – mà dễ nhất là những đồng nghiệp của mình, những người mà mình gần gũi ấy, vì thế nào họ cũng hớ hênh, nói ra bằng lời, chia sẻ bài viết vv – rồi sửa đi đôi chút, và công bố dưới tên mình, là có công trình ghi vào lý lịch rồi … phong giáo sư thôi, có khó gì?

Ôi, nếu TQ mà thế, thì không hiểu VN ra sao nhỉ?