Friday, July 11, 2014

Cái học ngày nay ... - Về cuốn sách "Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ" của GS Trần Ngọc Thêm (1)

Dẫn: GS Trần Ngọc Thêm là một "tên tuổi". Nếu viết đầy đủ danh xưng khoa học của ông (được phong và tự xưng) thì, nói theo tiếng Anh, sẽ là "a mouthful". Nó đại khái là như thế này: Giáo sư Tiến sĩ khoa học Viện sĩ Viện hàn lâm (với một cái tên gì đó)Trần Ngọc Thêm. 

Ông và tôi đã từng là đồng nghiệp trong nhiều năm tại trường ĐH KHXH-NV TP HCM, tất nhiên tôi nhỏ tuổi hơn nhiều nên là "đàn em", thậm chí có những người bạn của tôi còn là học trò của ông khi học cao học ngành ngôn ngữ học so sánh. Ông đã từng giữ nhiều chức vụ, có sách viết được dùng làm tài liệu chính thức cho môn học này trong toàn quốc (Cơ sở văn hóa VN), có nhiều đề tài, công trình được nghiệm thu (có lúc tôi ngồi hội đồng nghiệm thu đề tài do ông làm chủ nhiệm). Tôi với ông còn cùng đứng tên hướng dẫn một luận án tiến sĩ ngôn ngữ học so sánh của một người cũng là đồng nghiệp của tôi từ đầu thập niên 2000, ông đứng tên hướng dẫn chính, tôi đứng tên người hướng dẫn thứ hai, mặc dù về công việc thì ngược lại. Cho đến khi người đồng nghiệp đó làm luận án thành công, thì ông đương nhiên lại xuất hiện với đúng tư cách được ghi trên giấy.

Nói ngắn gọn là tôi biết ông nhiều, biết rõ. Và nhiều người khác trong khoa của tôi hồi ấy cũng biết ông rõ, với tư cách học trò và đồng nghiệp. Và chúng tôi chưa bao giờ phục ông, nếu không nói là ngược lại với "phục". Nhưng chúng tôi chưa bao giờ nói gì công khai về ông (ngoài việc bàn gẫu với nhau).

Hôm nay tôi đọc được những bài này, với chứng cứ rõ ràng. Xin không bình phẩm gì thêm, vì chứng cứ trong các bài viết đã tự nó nói lên mọi điều. Chỉ đăng lên đây để lưu lại những câu chuyện về cái học ngày nay mà thôi.

Xin mời các bạn.
------------
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/22364702-nhung-cau-hoi-chung-quanh-cuon-sach-van-hoa-nguoi-viet-vung-tay-nam-bo.html

Những câu hỏi chung quanh cuốn sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ 
Nguyễn Thanh Lợi
***


Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ là đề tài nghiên cứu KHXH - NV trọng điểm của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, do GS, TSKH Trần Ngọc Thêm làm chủ nhiệm, thực hiện trong hai năm 2009 - 2010.


Sau khi đề tài được nghiệm thu, năm 2013, NXB Văn hóa - Văn nghệ in thành cuốn sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do GS, TSKH Trần Ngọc Thêm chủ biên. Theo tác giả Nguyễn Thanh Lợi, nhiều câu hỏi đặt ra với cuốn sách này.

Đọc cuốn sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ dày 889 trang do GS, TSKH Trần Ngọc Thêm chủ biên, tôi thấy trong đó có hiện tượng đạo văn từ kết quả nghiên cứu của rất nhiều tác giả đã công bố về văn hóa dân gian Nam Bộ như: Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc, Huỳnh Thanh Bình, Lê Công Lý, Trương Ngọc Tường, Nguyễn Thanh Lợi, Trần Minh Thương...

Đơn cử một vài thí dụ: 1a. Bài Nghề đươn đệm ở Đồng Tháp Mười (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật,số 2-2006) Lê Công Lý viết: "Có thể nói, cây bàng là một trong những loài cây chủ đạo ở Đồng Tháp Mười thuở còn hoang vu. Chính vì thế mà trong các tài liệu cũ của người Pháp, Đồng Tháp Mười được gọi là "Plaine des Joncs", tức "Đồng cỏ lát" mà Nguyễn Đình Đầu cho rằng để đúng thực với địa lý đương thời thì nên dịch là "Đồng Cỏ Bàng"... Theo Phạm Hoàng Hộ thì cây bàng có tên khoa học là Lepironia articulata và được miêu tả như sau: "Căn hành (thân dưới) cứng nằm trong bùn, to 8-10 mm; thân đứng cao khoảng 1m, có ngấn ngang, đáy có 3-4 bẹ, bao cao 15-20 cm. Gié hoa ở chót thân, cao 1,5-2 cm, rộng đến 1cm.

Bế quả (trái) cao 3-4 mm. Vòi nhụy chẻ hai. Thông thường mọc ở vùng trũng phèn như ở Đồng Tháp, Hà Tiên. Ra bông quanh năm"... Vương Hồng Sển có ghi: "Đất phèn... không trồng lúa được, để cho cây bàng cây đưng mọc..., bàng loại như lát nhưng thô xấu hơn, củ ăn thế cơm được, lá dùng đươn đệm, đươn bao gọi là đệm bàng, bao bàng, giúp cho đàn bà con trẻ vào mùa nghỉ việc ruộng bắt qua đươn đát đắp đổi hột cơm"...

Các sản phẩm bao gồm: đệm bàng, bao bàng, bị bàng, cặp bàng, nón bàng, bao nhãn, võng bàng, áo bàng, buồm ghe, nóp, v.v. Có thể nói không ngoa rằng, sản phẩm của nghề đươn đệm xuất hiện mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống của người dân Đồng Tháp Mười. Ngay từ lúc mới lọt lòng, đã là dân Đồng Tháp Mười, ai lại chẳng được nằm trên chiếc "manh em" (manh đệm nhỏ) xinh xắn; ai lại chẳng nằm trên chiếc võng bàng ấm áp lời ru của mẹ. Rồi lớn lên, trong lao động sản xuất nông nghiệp, bàng đệm là người bạn đồng hành trung thành và đắc lực của họ trong mọi công việc. Cuối cùng, lúc từ giã cõi đời, manh đệm lại quấn lấy thân thể họ như để âu yếm, chở che" (Lưu ý: Trong bài này, tác giả đã viết nhầm "cỏ lác" thành "cỏ lát").

1b. Cuốn Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ GS, TSKH Trần Ngọc Thêm gần như sao chép lại: "Ở tiểu vùng Ngập kín Đồng Tháp Mười có một loại thực vật mọc hoang rất nhiều gọi là cây bàng. Cây bàng có tên khoa học là Lepironia articulata, có thân dưới cứng nằm trong bùn, to khoảng một phân; phần thân đứng cao khoảng hơn một mét, ra bông (nở hoa) quanh năm, thường mọc ở vùng trũng phèn (hình III-40, 1). Trong "Gia Định thành thông chí", Trịnh Hoài Đức từng nói đến loại cây "không tâm bồ ( ), tục danh là cỏ bàng" [Quyển II]. Các tài liệu của người Pháp thì dịch địa danh "Đồng Tháp Mười" thành "Plaine des Joncs" (Đồng Cỏ Lát) mà theo Nguyễn Đình Đầu thì phải là "Đồng Cỏ Bàng" mới đúng... Vương Hồng Sển viết: "Đất phèn... không trồng lúa được, để cho cây bàng cây đưng mọc..., bàng loại như [cỏ] lát nhưng thô xấu hơn, củ ăn thế cơm được, lá dùng đươn đệm, đươn bao gọi là đệm bàng, bao bàng, giúp cho đàn bà con trẻ vào mùa nghỉ việc ruộng bắt qua đươn lát đắp đổi hột cơm" [Vương Hồng Sển 1993: 208]... Các sản phẩm của nghề đươn đệm làm từ cây cỏ bàng rất phong phú: đệm bàng, manh em (manh đệm nhỏ), bao bàng (cà ròn), bị bàng (giỏ xách), cặp bàng (cặp học trò), nón bàng, bao nhãn, võng bàng, nóp bàng... Sản phẩm của cây bàng đi theo người dân Đồng Tháp Mười trong suốt cuộc đời: sinh ra đã nằm trên chiếc "manh em", rồi được mẹ bế nằm ru trên chiếc võng bàng, lớn lên nằm trên chiếc đệm bàng, ngủ trong chiếc nóp bàng, lúc chết đi thân thể được cuốn trong tấm mê bàng".

2a. Bài Hình tượng con rắn trong văn hóa dân gian Tây Nam Bộ (Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 1-2011, Trần Minh Thương viết: "Người đi bắt rắn có thể dẫn theo chó (loại chó săn mồi giỏi), hang nào chó ngửi miệng hang và chó sủa dữ mà mặt mày lấm la lấm lét, chạy xung quanh mà sủa không đứng yên, chắc hang đó có rắn hổ. Chó sủa vang hai chân trước cào xới đất, đứng trước miệng hang vừa sủa vừa tiếp tục cào xới đất, y như rằng, hang đó chỉ có chuột thôi" (tr.32).

2b. Theo Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ GS, TSKH Trần Ngọc Thêm chủ biên: "Nếu mang theo chó săn thì sau khi chó ngửi miệng hang, thấy hang nào chó chạy cuống lên xung quanh mà sủa dữ dội, mặt mày lấm lét thì biết chắc hang đó có rắn hổ. Nếu chó đứng trước miệng hang vừa sủa vang vừa hai chân cào bới đất bằng hai chân trước, thì hang đó chỉ có chuột mà thôi" (tr.506).
3a. Bài Ghe xuồng ở Nam Bộ của Nguyễn Thanh Lợi in trong sách Nam Bộ đất & người(Tập III, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2005) viết: "Ghe bầu là loại ghe lớn nhất, mũi và lái nhọn, bụng phình to, có tải trọng tương đối lớn, chạy buồm (từ 1 đến 3 buồm), lướt sóng tốt và đi nhanh, có nhiều chèo để đi sông và đi biển dài ngày, thường dùng đi đường biển... Ghe bầu (Prau) bắt nguồn từ tiếng Mã Lai, do người Việt trong quá trình Nam tiến tiếp thu được của người Chăm" (tr.561 -562), "Từ đầu thế kỷ XX, nghề đóng ghe xuồng ở Cần Thơ đã phát triển.

Lúc đầu chỉ vài hộ, rồi dần dần trở thành làng nghề, mang tính chuyên nghiệp, cha truyền con nối. Nổi tiếng nhất là ở Ngã Bảy (Phụng Hiệp). Ở Vàm Xáng, Phong Điền, thị trấn Cái Răng (Châu Thành) cũng là những làng nghề đóng ghe danh tiếng. Ghe đóng ở Cần Thơ nổi tiếng kiểu dáng thanh mảnh, mũi nhọn, nhảy sóng tốt. Phong Điền là nơi chuyên đóng ghe hầu với kỹ thuật chạm trổ rất khéo" (tr.566), "Ở An Giang, nghề đóng ghe xuồng ngày càng phát triển ở một số làng xã như: Mỹ Hiệp, Mỹ Luông, Chợ Thủ (Chợ Mới), Bình Mỹ, Bình Long (Châu Phú). Ghe xuồng có giá rẻ, dễ mua sắm, kiểu dáng luôn được cải tiến... ở Vĩnh Long hiện còn vài trại ghe nổi tiếng, do cha truyền con nối nhiều đời, như trại ghe Năm Danh, Phước Thành, Năm Sên, Thanh Hải ở Trà Ôn; trại ghe Hòa Hiệp tại Cầu Mới; trại ghe ở ấp Thanh Tân và Thanh Khê xã Thanh Bình, huyện Vũng Liêm" (tr.567).

3b. Sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ GS, TSKH Trần Ngọc Thêm chủ biên viết: "Ghe bầu (thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Mã Lai prau) là loại ghe có kích thước lớn nhất, mũi và lái nhọn, phần bụng và lái phình to, có sức chở nhiều và thường dùng vận tải đường dài, kể cả đi biển. Khả năng đó của ghe bầu không có gì là lạ, vì ghe bầu có nguồn gốc từ vùng Ngũ Quảng, từ thế kỷ XVII, nó đã chở người đi dọc bờ biển từ Ngũ Quảng vào thẳng tận Nam Bộ" (tr.426), "Ghe Cần Thơ đóng ở Ngã Bảy (Phụng Hiệp), ở Vàm Xáng, Phong Điền, Cái Răng (Châu Thành) nổi tiếng với kiểu dáng thanh mảnh, mũi nhọn, mình lớn, thân dài; nhảy sóng tốt, tiện dụng cho việc đi lại trên sông rạch" (tr.430), "Nghề đóng ghe xuồng An Giang phát triển ở một số xã thuộc các huyện Chợ Mới và Châu Phú. Ghe xuồng An Giang có giá rẻ, kiểu dáng luôn được cải tiến" (tr.430), "Chẳng hạn, tỉnh Vĩnh Long có các trại ghe Năm Danh, Phước Thành, Năm Sên, Thanh Hải ở huyện Trà Ôn; trại ghe Hòa Hiệp ở huyện Tam Bình; các trại ghe Thanh Vân, Thanh Khê ở huyện Vũng Liêm. Tỉnh Trà Vinh có trại ghe ở các huyện Trà Cú, Cầu Kè, Cầu Ngang, Càng Long" (tr.430),...

Không chỉ tân trang, sửa sang sản phẩm của nhiều tác giả khác đã công bố để đưa vào sách của mình, tai hại hơn, trong khi làm việc đó người chủ biên cùng các cộng sự (do không biết, không hiểu?) đã làm sai lạc cả nội dung "tham khảo". Thí dụ họ viết: "Trên các quyển lịch hàng năm thời xưa, người ta thường vẽ hình trẻ mục đồng dắt trâu; mục đồng ở đây chính là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông" (tr.377). Về điều này, ai nắm được vấn đề đều biết trong lễ tế Xuân Ngưu, thần Câu Mang dắt trâu chứ không phải là mục đồng. Vì sách ghi chú nội nguồn nội dung này từ "Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc (2008)", tôi tìm đọc bài Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc trên nguyệt san Giác ngộ năm 2008 lại thấy hai tác giả đó không hề viết như vậy. Tương tự, trong bài của Lê Công Lý viết nhầm "cỏ lác" thành "cỏ lát", cuốn Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ cũng lại nhầm theo viết "cỏ lác" thành... "cỏ lát"! Thậm chí không biết "đươn đát" - từ chỉ chung các nghề đan lát, nên các tác giả đã chế tạo một nghề chưa thấy nói tới bao giờ là nghề... "đươn lát"! Thậm chí chỉ một đoạn viết ngắn về tượng thờ ở Tây Nam Bộ được "tái tạo" đã chứa nhiều sai sót: "Về sau, khi việc làm tượng bằng đất sét thô không còn phổ biến nữa thì cư dân Tây Nam Bộ thường dùng gỗ mít để tạc tượng. Loại tượng làm bằng chất liệu đất sét nung (như bộ tượng La Hán ở chùa Long Châu thuộc huyện Tân An, tỉnh Long An thường có nguồn gốc từ các lò gốm vùng Lái Thiêu ở Bình Dương thuộc Đông Nam Bộ" (tr.379). Đoạn văn có mấy nội dung sai lạc: tỉnh Long An ngày nay chỉ có TP Tân An chứ không có huyện Tân An, còn xa hơn thì phủ Tân An được lập năm 1832, hạt tham biện Tân An lập năm 1867, và tỉnh Tân An lập năm 1899. Tượng đất nung cũng không dính dáng với các lò gốm vùng Lái Thiêu (Bình Dương). Đất nung cổ chỉ có ở gốm Cây Mai xứ Sài Gòn xưa (vùng Phú Lâm - Phú Định), các bộ tượng gốm đất nung Biên Hòa có mặt tại các chùa ở vùng Châu Thới, Hóa An, Tân Vạn, Cù Lao Phố,... Trong hai cuốn Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa(NXBTrẻ, 1994), Tượng gốm Đồng Nai - Gia Định (NXB Đồng Nai, 1997) Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc đã trình bày rõ.

Trên đây là một số thí dụ về việc nhào nặn tư liệu trong cuốn sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ. Với nghiên cứu khoa học, việc tham khảo, sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác là điều bình thường.

Tuy vậy, chỉ được coi là bình thường khi việc tham khảo, sử dụng có ghi chú nguồn tư liệu, nếu không có thao tác này, thì chỉ có kết luận duy nhất là đạo văn. Câu hỏi đặt ra là: Không rõ các tác giả của Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ không có điều kiện hay không muốn điền dã để nghiên cứu trực tiếp, cụ thể, mà chủ yếu dựa trên tài liệu nghiên cứu đã được công bố của người khác?

Wednesday, July 9, 2014

Chương trình tiếng Anh tích hợp: Chỉ vì lợi nhuận (Người Lao Động 2/7/2014)

Dẫn: Đây là bài báo viết từ ngày 2/7/2014, một ngày sau khi Tổng Lãnh Sự Anh lên tiếng lần đầu tiên về việc Sở GD không có quan hệ gì với Bộ Giáo dục Anh hoặc STA. Báo NLĐ đã phỏng vấn tôi và tôi có phát biểu như trong bài (những chỗ có chữ màu xanh). Ngay sau đó, tôi có nhận được một cú điện thoại không thân thiện lắm của người có liên quan, và hôm nay là một thư yêu cầu đính chính.  Lời lẽ của lá thư rất nặng nề, trong đó cố tình trích dẫn không đầy đủ những chỗ tôi đã phát biểu kèm những diễn giải sai lệch dựa trên những trích dẫn không đầy đủ đó, và sau đó là những kết luận mang tính quy chụp nặng nề, thậm chí đe doạ và xúc phạm.

Lẽ ra tôi đã không định đăng bài này lên blog vì không muốn vụ việc ầm ĩ thêm, do mục đích của tôi khi trả lời phỏng vấn chỉ là muốn bộc lộ những suy nghĩ thẳng thắn của mình với tư cách một người làm trong ngành giáo dục và cũng là một phụ huynh để các vị có trách nhiệm quan tâm và thay đổi. Nhưng do hôm nay nhận được thư yêu cầu đính chính nói trên nên tôi phải chép lại lên blog, trước hết là để bảo vệ mình (vì sợ có lúc bài báo sẽ bị rút xuống, chẳng hạn).

Ngành giáo dục của chúng ta cứ mãi như thế này sao? 

http://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/chuong-trinh-tieng-anh-tich-hop-chi-vi-loi-nhuan-20140702002520582.htm 

--------------

Chương trình tiếng Anh tích hợp: Chỉ vì lợi nhuận!

Thứ Tư, 04:24  02/07/2014

Cách làm của Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM cho thấy việc triển khai chương trình Cambridge hoặc chương trình tiếng Anh tích hợp thực chất là vì lợi nhuận, bất chấp những rủi ro và bất lợi cho người học.


Trong cuộc họp báo ngày 23-6, ông Lê Hồng Sơn, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) TP HCM, cho biết: “Đề án chương trình tiếng Anh tích hợp đã được chuẩn bị từ tháng 1-2011, khi sở làm việc với Bộ Giáo dục Anh (DfE) để bàn về chương trình”. Bên cạnh đó, trong đề án “Đổi mới dạy các môn toán, khoa học và tiếng Anh theo chuẩn tiên tiến” có khẳng định: “Đề thi do Cơ quan Quản lý và Khảo thí quốc gia Anh (STA) trực thuộc DfE cung cấp thống nhất cho các trường trong và ngoài lãnh thổ Anh. Các đề thi và kiểm tra đều do STA cung cấp cho các trường thông qua đăng ký với DfE”.

Liên tục chỏi nhau
Tuy nhiên, trong ngày 30-6, Đại sứ quán Anh đã ra thông cáo báo chí nêu rõ: “Không hề có bất cứ thỏa thuận nào giữa DfE hoặc STA với Sở GD-ĐT TP HCM hoặc EMG (EMG Education - thường gọi là EMG - đối tác của Sở GD-ĐT TP HCM trong việc triển khai chương trình tiếng Anh tích hợp) về việc cung cấp chương trình học, tài liệu hoặc bảo đảm chất lượng liên quan tới chương trình giảng dạy được thực hiện tại TP HCM”. Thông cáo cũng cho biết “không hề có bất cứ liên lạc chính thức nào với DfE hay STA về thỏa thuận này”.
Ông Lê Hồng Sơn, Giám đốc Sở GD-ĐT TP HCM, trả lời tại cuộc họp báo ngày 23-6 Ảnh: ĐẶNG TRINH
Ông Lê Hồng Sơn, Giám đốc Sở GD-ĐT TP HCM, trả lời tại cuộc họp báo ngày 23-6 Ảnh: ĐẶNG TRINH
Ngày 1-7, trả lời báo giới, ông Lê Hồng Sơn lại khẳng định: “Sở không hề có tuyên bố nào ký kết thỏa thuận với DfE. Trong buổi họp báo, tôi nói sở có chuyến đi làm việc với DfE tìm hiểu chương trình và hệ thống khảo thí giáo dục Vương quốc Anh vào tháng 12-2011. Tôi cũng nói rất rõ công việc này thông qua đối tác triển khai thực hiện. Trên thực tế là Công ty EMG đăng ký sử dụng chương trình giáo dục Anh để lấy chương trình đó thực hiện nội dung tích hợp với chương trình Việt Nam. Tất nhiên, bài thi đánh giá có đăng ký sử dụng, mua lại để tổ chức thi cho học sinh”.

Ông Sơn cũng cho biết chương trình tích hợp từ chương trình của Bộ GD-ĐT nhưng trên sự đăng ký của đối tác thực hiện nhằm mục đích giảm tải chương trình, tích hợp nội dung phương pháp của Việt Nam. Chương trình được xin phép, thẩm định từ bộ nhưng việc triển khai thực hiện là của UBND TP HCM, khi nào ủy ban phê duyệt mới thực hiện.

Làm mất thể diện
Cũng trong ngày 1-7, EMG gửi cho báo chí 2 văn bản nhằm chứng tỏ là có “bằng chứng” về sự liên quan với các cơ quan của Anh. Văn bản đầu tiên là của Đại sứ quán Việt Nam tại Anh và Bắc Ireland gửi đến Đại sứ quán Anh tại Hà Nội và Lãnh sự quán Anh tại TP HCM với đề nghị tạo điều kiện cấp thị thực cho đoàn cán bộ của Sở GD-ĐT TP HCM sang thăm Vương quốc Anh từ ngày 7 đến 18-12-2011. Mục đích của chuyến đi là “gặp gỡ các đơn vị và đối tác tại Vương quốc Anh để tiếp tục việc nghiên cứu về hệ thống đánh giá và quản lý chương trình giảng dạy của Anh”. Tuy nhiên, văn bản này không thừa nhận có bất kỳ buổi làm việc nào giữa Sở GD-ĐT TP HCM và DfE để bàn về chương trình tiếng Anh tích hợp.

Văn bản thứ hai từ STA thông báo “tổ chức trên đây (EMG-PV) đã đăng ký với STA và chính thức trở thành một đơn vị được cấp mã code bởi STA, trực thuộc DfE. Các trường thuộc đơn vị này sẽ được ưu tiên tiếp cận với chương trình giáo dục Anh Quốc cũng như tất cả các tài liệu khảo thí và đánh giá có liên quan đến chương trình. Như một thành viên đã đăng ký gia nhập chính thức, các trường trực thuộc tổ chức trên đây sẽ được hưởng các lợi ích từ tất cả các dịch vụ và sản phẩm giáo dục mà tổ chức STA cung cấp cho các trường quốc tế có giảng dạy chương trình giáo dục quốc gia Anh Quốc”.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, “đơn vị được cấp mã code” có thể hiểu đơn giản là một mã khách hàng hơn là chứng thực đây là đơn vị đủ chất lượng để cung cấp chương trình giảng dạy. Trên trang web của DfE có thể dễ dàng tải về các tài liệu thi cũng như các tài liệu học miễn phí. Văn bản “xác nhận” này chỉ đơn thuần cho biết các thành viên đăng ký “được hưởng các lợi ích” từ các dịch vụ và sản phẩm giáo dục mà STA cung cấp, chứ không hề khẳng định đây là đơn vị được STA thừa nhận về chất lượng.

TS Vũ Thị Phương Anh - Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng và Hỗ trợ chất lượng giáo dục, Hiệp hội Các trường ĐH và CĐ ngoài công lập Việt Nam - cho rằng chương trình Cambridge bị ngưng do không làm đúng yêu cầu của CIE (Hội đồng Khảo thí quốc tế ĐH Cambridge), lẽ ra phải thông báo rõ cho nhà trường, gia đình học sinh và rút kinh nghiệm trong cách quản lý của mình, Sở GD-ĐT TP lại tiếp tục đối phó với dư luận và vội vã đưa ra một chương trình khác với tên gọi là chương trình tích hợp. “Nghiêm trọng hơn, sở còn nói dối công chúng, đến nỗi Tổng Lãnh sự quán Anh phải ra tuyên bố là DfE không có quan hệ gì với sở về chương trình này. Điều này làm mất thể diện Việt Nam đối với thế giới” - TS Phương Anh bức xúc.

Khai thác “mỏ vàng” từ học sinh
Một chuyên gia giáo dục tại TP HCM cho rằng về giải quyết vụ việc, Sở GD-ĐT đã liên tiếp bị động, lúng túng trong việc xử lý và giải thích cách xử lý của mình. Việc lãnh đạo sở đẩy trách nhiệm giải thích vụ việc cho UBND TP HCM càng cho thấy sở đã bế tắc vì UBND TP chỉ có trách nhiệm chỉ đạo hoạt động và các chủ trương chính sách, chứ không có trách nhiệm hành chính để giải quyết các vụ việc. Lãnh đạo sở cần cân nhắc tính đúng đắn của từng khía cạnh, sớm giải thích rõ ràng, chính xác những thắc mắc của dư luận bằng các văn bản minh chứng như phía các cơ quan của Anh Quốc đã làm.
Học sinh học chương trình tiếng Anh Cambridge tại Trường Tiểu học Minh Đạo, quận 5- TPHCM. Ảnh: TẤN THẠNH
Học sinh học chương trình tiếng Anh Cambridge tại Trường Tiểu học Minh Đạo, quận 5- TPHCM. Ảnh: TẤN THẠNH
TS Vũ Thị Phương Anh nhận định những gì đã xảy ra cho thấy Sở GD-ĐT TP đã sử dụng các chương trình Cambridge hoặc chương trình tích hợp (nói chung là chương trình chất lượng cao của nước ngoài, học bằng tiếng Anh) như một cơ hội để kiếm tiền cho sở hoặc cho một “công ty thân hữu” nào đó. Điều này thật đáng lên án.

Cũng theo TS Vũ Thị Phương Anh, việc cho phép nhà trường và phụ huynh đóng góp để con em mình có được những chương trình chất lượng cao là nên chấp nhận trong điều kiện đầu tư của nhà nước còn eo hẹp. Tuy nhiên, phải theo nguyên tắc “phi lợi nhuận”, nếu có lãi thì phải sử dụng để phục vụ lại cho chương trình hoặc cho hoạt động chung của trường, chứ không được chia cho cá nhân. Còn cách làm của sở cho thấy chỉ vì lợi nhuận mà bất chấp những rủi ro, bất lợi cho người học và phụ huynh.

Ông Huỳnh Công Hùng, Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND TPHCM:
Sở GD-ĐT phải giải trình
Tôi chỉ biết thông tin xung quanh chương trình tiếng Anh tích hợp thay thế chương trình Cambridge qua báo chí. Đây là vấn đề dư luận xã hội quan tâm, đặc biệt là phụ huynh có con em đang học chương trình Cambridge. Để làm rõ vấn đề do báo chí đặt ra, Ban Văn hóa - Xã hội sẽ yêu cầu Sở GD-ĐT TP báo cáo. Sau đó, Ban Văn hóa - Xã hội sẽ làm việc với Sở GD-ĐT TP để họ có giải trình nếu cần thiết!

Sao phải qua trung gian
Một chuyên gia giáo dục phân tích: Về pháp lý, khi triển khai các chương trình liên kết có yếu tố nước ngoài đều phải có sự thẩm định và cho phép của cấp thẩm quyền, ở đây là Bộ GD-ĐT. Việc chương trình tích hợp được đưa ra thay thế cho chương trình Cambridge có được gọi là chương trình có yếu tố nước ngoài hay không thì phải xem lại vì chẳng có một điều kiện ràng buộc nào giữa chương trình này với bất kỳ một đối tác nước ngoài nào về giảng viên, cơ sở vật chất và tài chính. Nếu trong chuyến làm việc tại Anh vào cuối năm 2011, Sở GD-ĐT TP đề cập có một văn bản pháp lý nào đó đã ký kết giữa sở với các đối tác thì đó mới là minh chứng cho yếu tố nước ngoài của chương trình tích hợp đang được ráo riết triển khai.
Cũng theo chuyên gia này, việc phải thuê một công ty tư nhân thay vì tự triển khai cũng thể hiện Sở GD-ĐT TP không đủ năng lực tổ chức. Đến khi thực hiện, EMG lại “mượn” đội ngũ quản lý, giảng dạy, cơ sở vật chất của các trường được giao thực hiện chương trình, biến đội ngũ công chức trở thành người làm thuê.
TS Vũ Thị Phương Anh cho rằng cách sở đã làm với chương trình Cambridge là khoán trắng cho EMG. Đáng ra, sở phải khuyến khích các trường áp dụng chương trình thông qua liên lạc trực tiếp với CIE (không qua trung gian). Khi đó, sở sẽ giám sát và hỗ trợ các trường.

Bất nhất!
Tại buổi họp báo ngày 23-6, ông Lê Hồng Sơn khẳng định: “Khi thực hiện chương trình Cambridge, EMG đã làm việc với sở về nội dung chương trình, xin phép Bộ GD-ĐT triển khai tại TP HCM. Từ ngày 12-6, sở mới nhận được thông tin ngưng cung cấp chương trình của CIE với EMG. Chúng tôi đã yêu cầu 2 đơn vị ngồi lại bàn bạc để bảo đảm quyền lợi cho học sinh đang theo học chương trình…”.
Tuy nhiên, CIE lại khẳng định vào tháng 2 và 3-2014, CIE nhận được 2 công văn từ Sở GD-ĐT TP HCM. Trong đó, ông Lê Hồng Sơn yêu cầu CIE tiếp tục làm việc với EMG và cho biết ông sẽ không hỗ trợ CIE triển khai chương trình Cambridge, nếu đơn vị này từ chối làm việc với EMG. CIE cũng khẳng định từ tháng 10-2013 cho đến nay, đơn vị này đã tích cực liên hệ với các cơ quan liên quan tại Việt Nam để thảo luận về những vấn đề này nhưng không được.

NHÓM PHÓNG VIÊN