Tuesday, February 7, 2017

Giáo dục trong thời đại công nghiệp 4.0 (Nhân Dân số Xuân Đinh Dậu 2017)

Giáo dục trong thời đại công nghiệp 4.0

Thế giới ngày nay đang trải qua những thay đổi lớn lao chưa từng có. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - còn được biết đến dưới tên gọi là công nghiệp thế hệ 4.0 - đã, đang và sẽ tiếp tục tạo ra những biến động khôn lường, gây ảnh hưởng đến mọi mặt của cuộc sống con người trong thế kỷ 21. Đó là thông điệp của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum, WEF) tại Hội nghị thường niên được tổ chức tại Thụy Sĩ vào đầu năm 2016.

Vì sao cách mạng công nghiệp lần thứ tư lại được chọn làm chủ đề thảo luận tại một diễn đàn chuyên về kinh tế như WEF? Không khó để có thể đoán được rằng cuộc cách mạng này sẽ ảnh hưởng đến sâu sắc đến nền kinh tế toàn cầu. Theo lời của chủ tịch Diễn đàn kinh tế thế giới, tiến sĩ Klaus Schwab,“chưa từng bao giờ có một thời đại đầy hứa hẹn và cũng đầy hiểm họa đến thế.”[1] Sẽ có kẻ được và người mất, trong đó kẻ được là những người đã chuẩn bị và người mất là người chưa sẵn sàng cho cái thế giới mới mẻ và đầy biến động ấy.

Lịch sử nhân loại chưa từng chứng kiến những đột phá về khoa học công nghệ xuất hiện dồn dập như trong vài thập niên qua. Có thể liệt kê một loạt các thành tựu mới như mạng viễn thông hội tụ đa phương tiện, các loại thiết bị di động, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, kết nối vạn vật (IoT), hình ảnh ba chiều, trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa - danh sách này còn có thể kéo dài thêm nhiều nữa. Những thành tựu này cho phép một người chỉ ngồi tại nhà vẫn có thể nhìn thấy và trao đổi với người thân ở cách xa nửa vòng trái đất, mua hàng qua mạng, giao dịch ngân hàng, mua vé máy bay, đặt khách sạn, hội họp và trao đổi với các đối tác kinh doanh, hoặc tham gia một lớp học, nghe giảng, trao đổi với thầy cô bạn bè, nộp bài tập và nhận kết quả vv - tất cả chỉ với một chiếc điện thoại thông minh - điều mà cách đây vài chục năm không ai có thể tưởng tượng.

Toàn bộ cuộc sống cùng thói quen của con người đã thay đổi một cách căn bản và không thể đảo ngược. Công nghiệp 4.0 đã mang lại cho chúng ta những ngôi nhà tự báo động khi có kẻ trộm, tự bật đèn hoặc lò sưởi, tự tưới cây vv; những robot thông minh có thể chăm sóc người già; những chiếc xe hơi tự điều khiển không cần người lái; và cả những nhà máy hoàn toàn không có công nhân. Máy móc, thiết bị điện tử, phần mềm máy tính, và mạng viễn thông đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của cuộc sống con người. Thế giới ngày nay không còn là một thế giới vật lý đơn thuần với những sự vật và ranh giới cụ thể của cách đây 50 năm, mà đã mở rộng ra vô biên và kết nối chằng chịt, đồng thời có sự hòa quyện và tương tác giữa con người và các yếu tố vật lý (physical), tức thế giới của các đồ vật, của máy móc thiết bị; và yếu tố “kỹ thuật số” (digital) - là yếu tố “ảo”, không có sự tồn tại dưới dạng vật thể của các dữ liệu và thuật toán. Như tựa của một bài viết vào tháng 7/2016 trên trang The Verge, “thế giới của chúng ta đang nhanh chóng trở thành một thuộc địa số.”[2]

Và đây chính là căn nguyên của những hứa hẹn và những hiểm họa của thời đại công nghiệp 4.0 mà báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới đã nhắc đến và nhấn mạnh nhiều lần. Chất lượng sống của con người đang được cải thiện đáng kể, nhưng thị trường lao động cũng đang thay đổi nhanh chóng, với hàng loạt các công việc truyền thống không còn tồn tại do thay đổi công nghệ hoặc tự động hóa. Nền “sản xuất thông minh” với “những nhà máy của tương lai” nơi mọi dữ liệu và thông tin trao đổi giữa các bộ phận trong nhà máy và với khách hàng bên ngoài trên khắp thế giới được chuyển đi trong thời gian thực, nơi các robot sản xuất thay thế toàn bộ hoạt động từ nặng nhọc đến phức tạp, nơi các camera và thiết bị cảm ứng giúp giám sát mọi hoạt động của công ty, xí nghiệp mọi lúc mọi nơi mà không cần sự có mặt của con người... - tất cả những điều này không còn là khoa học viễn tưởng mà đã thực sự tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới.

Một thời đại như vậy đòi hỏi một nền giáo dục ra sao? Nếu hiểu giáo dục là chuẩn bị hành trang cần thiết để người học tự tin bước vào cuộc sống, thì cần trang bị cho họ những kỹ năng hữu ích, không chỉ cho hiện tại mà còn cả tương lai. Nếu thế giới ngày nay ngày càng trở thành một thế giới tự động hóa, số hóa và được kết nối cao độ, nơi máy tính trở nên một công cụ lao động phổ biến và việc khai thác thông tin trên Internet trở thành một kỹ năng cơ bản như kỹ năng đọc viết trước đây, thì chẳng có lý do gì để nhà trường không trang bị máy tính có nối mạng đến từng học sinh phổ thông ở mọi địa phương, ít ra là từ trung học phổ thông nếu không phải là sớm hơn. Ngoài ra, cũng cần nhanh chóng áp dụng việc giảng dạy và học tập với sự hỗ trợ của công nghệ (ít ra là từ trung học phổ thông), chẳng hạn các hệ thống quản lý học tập trên Internet như Blackboard hoặc Moodle, các thiết bị đa phương tiện, các phần mềm mô phỏng, sử dụng phương pháp học tập hỗn hợp (blended learning) và lớp học đảo ngược (flipped classroom). Phương pháp giảng dạy trong nhà trường cần phải được thay đổi cho phù hợp với thế giới ngày nay, để vừa tận dụng các thành tựu công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, và quan trọng hơn là để trang bị cho người học sự tự tin và thành thạo trong việc sử dụng các máy móc thiết bị hiện đại - tức trang bị cho học sinh có “kỹ năng công nghệ” (technology skill), vốn được các nước tiên tiến xem là kỹ năng cơ bản của mọi học sinh ngay từ đầu thiên niên kỷ.

Đặc biệt, trong giáo dục sau trung học (bao gồm cả giáo dục nghề nghiệp lẫn giáo dục chuyên nghiệp), cần có những dự báo chính xác về thị trường lao động để lựa chọn đào tạo những ngành nghề thực sự cần thiết - không chỉ cho thị trường trong nước của ngày hôm nay, mà còn là thị trường toàn cầu của tương lai. Không phải tự nhiên mà các nước tiên tiến, ví dụ như Mỹ, Úc, Canada, lại khuyến khích học sinh, sinh viên lựa chọn các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, thậm chí còn tạo điều kiện cho sinh viên quốc tế ở lại làm việc sau khi học, bởi đó là những ngành cần thiết nhằm cung cấp nhân lực cho cuộc cạnh tranh kinh tế trong nền công nghiệp 4.0. Những ngành học này tất nhiên đòi hỏi một mức đầu tư cao hơn nhiều so với các ngành xã hội, nhân văn hoặc khoa học cơ bản, nhưng đó là sự đầu tư cho cần thiết cho tương lai nếu chúng ta không muốn bị trở thành kẻ thua cuộc. Để chuẩn bị nhân lực sống và làm việc trong một thế giới nơi các máy móc thiết bị ngày càng đóng một vai trò quan trọng, thì không thể chấp nhận việc sinh viên thuộc các ngành kỹ thuật vẫn phải học chay với sách vở mà thiếu thực hành do không đủ máy móc như hiện nay. Cuối cùng, thời đại công nghiệp 4.0 đòi hỏi những con người có năng lực tư duy và sáng tạo-đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các chứng cứ và dữ liệu – và đó cũng là những kỹ năng mà sinh viên Việt Nam đang thiếu nhiều nhất.

“Thời đại công nghiệp 4.0 đòi hỏi một nền giáo dục 4.0”[3] – Thomas Osburg, giáo sư trường đại học Hannover (Đức) đã kết luận như vậy trong bài viết đăng trên trang LinkedIn cá nhân của ông. Việc chuyển đổi từ một nền giáo dục chỉ phù hợp với một thế giới ít biến động như trước đây sang một nền giáo dục phù hợp với thời đại công nghiệp 4.0 là một điều không dễ dàng ngay cả với một đất nước tiên tiến như Đức. Tuy nhiên, không dễ không có nghĩa là chúng ta được quyền không làm. Bởi, bắt chước lời của giáo sư Derek Bok nguyên hiệu trưởng của đại học Harvard khi nói về sự cần thiết của việc số hóa giáo dục, chúng ta hoàn toàn có thể nói với những ai còn ngần ngại với việc đổi mới: “Nếu bạn cho rằng giáo dục 4.0 là quá tốn kém, thì bạn cứ thử đứng ngoài xem hậu quả ra sao.”

Friday, January 20, 2017

"Thư gửi Việt Nam" đầu năm 2017 từ GS Jonathan London

GS Jonathan London, một người có nhiều hiểu biết về đất nước VN nói chung và giáo dục VN nói riêng, vừa có bức thư ngỏ mang tựa đề "Thư gửi VN" đăng trên trang fb cá nhân của ông. Nhận thấy bức thư đề cập đến nhiều vấn đề đáng quan tâm, xin chia sẻ lên trang blog này để gửi đến các thầy cô đang hoạt động hoặc có quan tâm đến ngành giáo dục của VN.

---------------
THƯ GỬI VIỆT NAM
Chúng ta đang sống những ngày rất lạ, và rất tiếc phải nói rằng mỗi ngày một xa lạ hơn và không còn cảm giác an toàn như trước. Vốn thường nghi ngờ những lời lẽ đao to búa lớn, nhưng lúc này tôi lại đồng ý với nhận định rằng thế giới đang có nguy cơ rơi vào một cơn khủng hoảng sâu rộng chưa từng thấy kể từ sau Thế chiến II, riêng nước Mỹ thì rơi vào cơn khủng hoảng chính trị lớn nhất kể từ thời Nội chiến.
Đối với Việt Nam, nguy cơ bị tác động xấu là không thể coi nhẹ. Khác so với vài tháng trước, Việt Nam ngày nay không còn chỗ dựa ngoại giao “an toàn” nữa, ít nhất cho đến khi ẩn số Trump lộ diện. Trong không khí bất an đó, tôi xin chia xẻ vài ý kiến về thời cuộc với tư cách là một công dân Mỹ và là bạn của Việt Nam—một Việt Nam của cả dân lẫn người trong bộ máy, của cả những người nghi ngờ về từ diễn biến, tự chuyển hoá, tự này tự kia…
Về an ninh quốc phòng. Thứ nhất, về an ninh quốc phòng, các bạn hãy bình tĩnh. Dù Trump có vô số những động thái khác lạ, nhưng quan điểm an ninh ở Biển Đông khó mà có thay đổi lớn so với thới Obama. Riêng về quân sự và ngoại giao, “chế độ mới” hẳn sẽ mạnh bạo hơn. Tuy nhiên, liệu bộ sậu của Trump có hành động đủ cẩn trọng hay không là một câu hỏi lớn cho tương lai. Lúc này chỉ có một điều chắc chắn là không có chuyện Mỹ rút lui khỏi biển Đông và khoanh tay trước những đòi hỏi bất hợp pháp của Tập Cận Bình.
Điều đáng chờ đợi, thậm chí rất đáng chờ đợi, là một số nhân vật trong bộ sậu của Trump. Chẳng hạn tướng Mattis (nick Chó Điên) được đánh giá là có trí tuệ và được tôn trọng từ lính đến sĩ quan. Trong khi đó, ông Rex Tillerson, ngoại trưởng mới được đề cử, vẫn còn là một ẩn số trong vấn đề Đông Á. Tuần trước, phát biểu “cấm Bắc Kinh không được tiếp cận các đảo nhân tạo ở biển Đông” có lẽ là lời nói hơi thiếu thực tế, tuy nhiên nó là tín hiệu cho thấy ông không phải là người thuận theo Bắc Kinh. Hơn thế nữa, hợp đồng hợp tác dầu khí giữa Exxon Mobil và Việt Nam mới ký tuần trước là một tín hiệu đáng ghi nhận khác (nhân tiện, cũng hy vọng rằng hợp đồng này không biến thành một vài căn nhà ở Tam Đảo).
Câu hỏi ở đây là liệu Mattis và Tillerson (nếu được phê chuẩn) cùng với những nhân sự khác của “chế độ mới” Hoa Kỳ có đủ năng lực cáng đáng nhiệm vụ hay không, và không kém phần quan trọng là khi cần họ có đủ ý chí lẫn trí tuệ để chống lại một Tổng thống độc tài như Trump hay không. Còn Việt Nam thì sao?
Trong thời gian tới Việt Nam phải (và tôi tin sẽ) tiếp tục tăng cường quan hệ với các đối tắc trong khu vực. Tôi cũng khuyến nghị rằng dù kẻ lừa bịp đầu mầu cam nói gì đi nữa thì cũng hãy nhớ đại đa số các nước vẫn quyết tâm tìm kiếm một giải pháp an ninh bền vững cho Biển Đông.
Về kinh tế xã hội Thứ hai là kinh tế, vì chúng ta chưa rõ Việt Nam có cơ hội gì mới trong thời kỳ hậu Obama, nên những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt vẫn y như cũ. Tất nhiên khả năng lớn là sẽ không còn hiệp định thương mại đa phương nữa. Ngay sau thắng lợi bầu cử (được Putin góp tay dàn dựng) của Trump, ta đã thấy cả Tập lẫn Abe đều đua nhau lấp đầy không gian mà Mỹ đã chiếm.
Với tổng giá trị của xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ chiếm tới 20% GĐP thì Mỹ là mối quan hệ kinh tế mà Việt Nam không thể bỏ qua. Trong khi đó, hai nước (dù Trump hoặc ai cầm quyền) vẫn còn chia sẻ những quyền lợi kinh tế xã hội. Ví thế tôi khuyến nghị Việt Nam cứ tiếp tục nỗ lực tái cấu lại nền kinh tế, đầu tư vào giáo dục sao cho hiệu quả hơn, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân càng nhiều càng tốt.
Muốn Việt Nam trở thành một thị trường hấp dẫn, hãy chọn con đường chính đại. Hãy dũng cảm và sáng suốt để bảo vệ người lao động Việt Nam. Hãy dứt khoát nói không với những dự án không đảm bảo môi trường. Hãy hiểu và biết quý trọng giá trị câu ‘“dân cần nước sạch”. Làm như thế thì Việt Nam mới có lực để ‘chịu phát triển’ bền vững, và có chất lượng hơn so với những năm gần đây.
Về giáo dục. Cải cách giáo dục cách khác so với trước— không chỉ nói suông mà không chỉ xem ngành là ngành hành chính: phải thực sự coi trọng, phát triển năng lực lẫn tinh thần sáng tạo của nhà giáo, nhà nghiên cứu, và toàn xã hội – và không chỉ những người mà đang ở đọ tưởi trẻ. Phải thực sự sẵn sàng tiếp nhận, thực hiện, và thi nhiệm với những cách dạy hiện đại, phương pháp sư phạm mới. Mừng để thấy hiện nay đang có những nỗ lực về vấn đề này.
Quan trọng là những nỗ lực tiếp tục được để mạnh trong khi đó cách giới thiệu những ý tưởng, phương pháp được nghiên cứu, điều chỉnh và khuyến kích. Những cải cách này không thề màng tính ‘hành chính’ mà phải đưa sâu vào thình thần của giáo dục ở mọi bậc học và kể cả ngoài ngành.
Thị trường dĩ nhiên có vai trò của thị trường, nhưng không có nghĩa là phải hy sinh giáo dục phi lợi nhuận như chúng ta đang thấy. Đừng lạm dụng làm giầu bằng thương mại hoá mọi thể loại giáo dục. Việc những trường đại học phi lợi nhuận có tôn chỉ hoạt động dựa trên giá trị của những vĩ nhân như Phan Chu Trinh đang bị doạ đóng cửa, đang bị doạ bán là những sự kiện cực xấu.
Hãy đừng lấy PISA hoặc đào tạo ra vài nhà toán học thực giỏi làm thước đo. Tinh thần sẵn sàng đầu tư cho giáo dục của con cái sẽ vô cùng lãng phí nếu chúng ta (tức là cộng đồng nhà giáo và người dân) không đòi hỏi và xây dựng được một hệ thống giáo dục thực sự phản ánh tinh thần cởi mở, phản biện khoa học. Nếu không thế, chúng ta không có cơ sở gì để kỳ vọng đất nước Việt Nam cất cánh. Trong thời gian bất trắc này thì tốt nhất Việt Nam phải tìm cách để khắc phục những trở ngại còn lại để thực sự cải cách và đẩy mạnh nỗ lực cải cách.
Về chính trị, xã hội, và tương lai. Nguyên nhân nước Mỹ có một kẻ lừa bịp mị dân lên nắm quyền bắt nguồn từ những sai lầm của chính quyền Mỹ suốt 40 năm qua: mức sống của người lao động không được cải thiện cộng với sự suy yếu của nền tảng dân chủ do…. quyền lực nhóm!!! Một nguyên nhân khác là chiến lược tranh cử của bà Hillary thiếu hấp dẫn, phản ánh bằng việc 1 tỷ đôla đã bỏ ra mà vẫn thua.
Dù nền dân chủ Mỹ có nhiều vấn đề từ lâu, nhưng Mỹ đến ngày hôm nay vẫn được coi là một nước tiêu biểu cho dân chủ và những nguyên tắc của chủ nghĩa tự do. Tôi thừa nhận khoản khác giữa những nguyen tắc dân chủ ấy và tình hình thực tế ở bên Mỹ quá là báo động – cho đến mức tôi lo về tương lai về số phận của nướn mình. Việc một nhân vật có nét độc tài như Trump thắng cử cộng với tình hình ở Châu âu, Nga v.v. dấy lên lo lắng về tương lai của dân chủ không chỉ là ở Mỹ mà còn cả trên thế giới.
Nhưng dù vậy, lý tưởng dân chủ vẫn luôn là nguồn cảm hứng. Vấn đề chỉ là bảo vệ và thúc đẩy như thế nào trong tình hình báo động của hôm nay. Ở đây vẫn phải lạc quan về Việt Nam.
Hiện nay người dân Việt Nam ngày càng quan tâm hơn đến số phận của đất nước mình. Và đây chính là lúc để cởi trói cho những giá trị chính trị quan trọng nhất đối với người dân Việt Nam từ thời Pháp đến nay: tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do tư duy chính trị. Nếu bạn hỏi tại sao tôi lại lạc quan khi những giá trị này chưa được tôn trọng đúng mức? Bởi vì tôi thấy ngày càng nhiều người Việt nhìn nhận rằng những quyền này là cần thiết hơn bao giờ hết.
Dù không loại trừ khả năng Ngài/kẻ lừa bịp mị dân sắp vào Nhà Trắng có thể gián tiếp đem lại lợi ích cho Việt Nam, chúng ta có đủ lý do để lo ngại về những kịch bản trước mắt có thể xảy ra của khu vực cũng như trên thế giới.
Trong tình trạng bất an hôm nay, tôi tin rằng người dân Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực học hỏi, tham gia đóng góp và ra sức thúc đẩy một xã hội dân chủ hơn, văn minh, minh bạch, công bằng, và có trật tự. Tôi nghĩ rằng dù ở Việt Nam hay ở Mỹ hay bất cứ ở nơi nào trên trại đất, những nỗ lực phát triển xã hội thể theo nguyện vọng dân chủ và nhân vân vẫn là vấn đề cột lõi và cần được khuyến khích hơn bao giờ hết.
JL, Hà Nội
---