Bài này tôi viết cho SGTT, đã đăng trên trang online hôm nay, nhưng tôi chưa đọc lại. Thôi thì cứ đăng nguyên văn bản tôi đã gửi đi lên đây để chia sẻ với mọi người. Các bạn đọc và trao đổi nhé, tôi cho rằng đây là một vấn đề rất quan trọng, các bạn ạ.
Bài đăng trên SGTT có thể đọc ở đây.
------
Lại một lần nữa trong năm 2010 này, đạo văn trở thành một chủ đề nóng trên báo chí. Điều đáng nói của vụ đạo văn lần này là nó liên quan đến một bài báo đã công bố trên một tạp chí khoa học quốc tế của một nhóm tác giả Việt Nam. Sau khi bị phát hiện, bài báo bị rút xuống và hành vi đạo văn của nhóm tác giả bị thông báo rộng rãi đến cộng đồng khoa học của thế giới. Riêng với tờ tạp chí đã phát hiện ra vụ đạo văn nói trên thì nhóm tác giả này vĩnh viễn không còn cơ hội để công bố các bài viết nữa.
Vụ việc đáng buồn này chắc chắn sẽ có tác động không tốt đến giới khoa học nước nhà, và hơn thế sẽ làm xấu đi hình ảnh của đất nước đối với thế giới bên ngoài. Làm thế nào để ngăn chặn những vụ tai tiếng tương tự trong tương lai? Câu trả lời dường như khá đơn giản: chỉ cần phạt thật nặng những trường hợp bị phát hiện như trong trường hợp đã xảy ra thì sẽ chẳng còn ai dám đạo văn nữa, có lẽ thế.
Thực ra, mọi việc phức tạp hơn rất nhiều, vì việc bị phát hiện và xử lý như mới đây chỉ là một trường hợp hy hữu, trong khi ở Việt Nam có nhiều vụ đạo văn trầm trọng hơn nhiều nhưng “kẻ phạm tội” không những không bị trả giá mà còn được tưởng thưởng – thăng chức, “phong hàm” giáo sư, phó giáo sư. Hơn nữa, đối với những trường hợp như vụ đạo văn mới đây, không loại trừ khả năng những người vi phạm đã “chết vì thiếu hiểu biết”, vì đã phạm phải tội “đạo văn không cố tình”. Dù tất nhiên ngay cả có chứng minh được là mình không cố tình thì điều này vẫn không thể giúp họ thoát tội.
Đạo văn không cố tình là một điều rất dễ xảy ra với những người mới bắt đầu làm khoa học từ những nước như Việt Nam, Trung Quốc, và cả Hàn Quốc, Nhật Bản, những nơi không có truyền thống khoa học minh bạch và liêm chính như các nước phát triển phương Tây. Vì vậy, trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nếu các quốc gia này muốn ngăn ngừa tình trạng đạo văn cho có hiệu quả thì không nên chỉ xem xét trách nhiệm cá nhân, mà còn phải thay đổi cái “văn hóa đạo văn” vốn tồn tại đã lâu ở các nước châu Á nữa.
Nhưng “văn hóa đạo văn” là gì? Văn hóa, theo định nghĩa của từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary (ấn bản lần thứ sáu, năm 2000) là “những phong tục, niềm tin, cách thức, hoặc lề thói sinh hoạt và tổ chức xã hội của một quốc gia hoặc một nhóm người” – nói nôm na là điều mà hầu như ai cũng làm và cho là đương nhiên. Vậy “văn hóa đạo văn” chỉ có nghĩa là đạo văn là một thói quen, một cách làm mà ai cũng thấy là bình thường, cả người vi phạm lẫn người bị vi phạm (dù tất nhiên người bị vi phạm sẽ không cảm thấy thoải mái gì cho lắm).
Với định nghĩa này, rõ ràng Việt Nam – cũng nhiều nước khác trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản vv – là một nước có một nền văn hóa đạo văn thật rõ nét. Cứ thử tìm hiểu trên mạng Internet thì sẽ rõ, chỉ riêng những vụ đạo văn bị phanh phui cũng đủ cho thấy tính phổ biến và mức độ nghiêm trọng của đạo văn ở Việt Nam. Có thể nói, nếu áp dụng định nghĩa của phương Tây thì ở Việt Nam, nạn đạo văn ở Việt Nam đang hoành hành ở mọi cấp học và kẻ vi phạm không hề thiếu bất kỳ một thành phần nào, từ người học đến giáo viên, và đáng buồn hơn là cả những nhà quản lý nữa.
Vậy phải làm sao đây? Theo tôi, ngoài việc đưa ra những luật lệ, quy định về xử phạt các vụ đạo văn và thực hiện nghiêm các luật lệ, quy định này, cần xem trọng việc tạo ra một nền văn hóa học thuật mới thay thế cho “văn hóa đạo văn” hiện nay. Để làm được điều này, rõ ràng là nhà trường (hoặc viện nghiên cứu) có vai trò quyết định. Văn hóa là giá trị chung, là thói quen, và là quy tắc ứng xử của một nhóm người, một cộng đồng. Nhà trường với tư cách là một tổ chức là nơi có điều kiện thuận lợi nhất để áp đặt những giá trị và lề thói mới lên các cá nhân là người học và các giáo viên, các nhà khoa học hoạt động trong tổ chức của mình. Riêng trong trường hợp của Việt Nam thì cần chú trọng ở hai cấp quan trọng nhất là đại học và tiểu học.
Ở bậc đại học, những ai có điều kiện đi học ở nước ngoài sẽ thấy kỹ năng thông tin, kỹ năng sử dụng thư viện, và trích dẫn khoa học (referencing) được chú trọng đến như thế nào trong các trường đại học. Ngay từ khi mới vào trường thì các sinh viên đã có thời gian định hướng (orientation), trong đó những kỹ năng vừa nêu được hướng dẫn tổng quát cho sinh viên, tất nhiên là kèm với những tài liệu như sổ tay sinh viên với những thông tin cần có, kể cả các về yêu cầu trích dẫn và việc xử lý khi vi phạm đạo đức học thuật.
Sau đó, khi vào học thì giảng viên từng môn học cũng sẽ lập lại các yêu cầu về tài liệu cần đọc, cách trích dẫn tài liệu, và những quy tắc ứng xử cũng như đạo đức khoa học đối với sinh viên là như thế nào. Và cứ mỗi bài tiểu luận nộp cho giảng viên là một lần các kỹ năng và quy tắc ứng xử nói trên lại được củng cố, để tạo ra một thói quen, một cách làm, và một giá trị mà cộng đồng cùng chia sẻ.
Một dạng bài tập rất được ưa chuộng mà bản thân tôi cho là rất hữu ích là bài tập chú giải tài liệu tham khảo (annotated bibliography) của một môn học [1]. Ở bài tập này, sinh viên được yêu cầu tự chọn ra một số tài liệu chính có liên quan đến môn học, và viết một đoạn tóm tắt về nội dung chính của tài liệu này kèm theo lời bình luận của mình. Thông qua bài tập này, sinh viên học được cách tìm tài liệu, thực hành một số kỹ thuật về trích dẫn khoa học, cách trình bày lại ý tưởng của tác giả bằng lời của mình (không “đạo câu chữ” của tác giả), và cách nêu ý tưởng riêng, độc lập của mình đối với những gì đã đọc được từ những tác giả khác, kể cả các tên tuổi lớn trong ngành.
Ở bậc tiểu học, thay vì bị yêu cầu học thuộc lòng những gì đã viết trong sách và trả bài theo đúng nguyên văn những gì đã học, các em được yêu cầu sử dụng lời của mình để viết lại những gì đã đọc được. Các dạng bài tập giúp các em tự quan sát, ghi chép, giao tiếp với người khác, vận dụng tư duy độc lập, và cả kỹ năng sử dụng từ điển, sử dụng thư viện luôn được sử dụng. Nghe thì to tát, nhưng thật ra những bài tập ở bậc tiểu học có thể rất đơn giản, ví dụ như yêu cầu các em chép lại định nghĩa của từ “đạo văn” trong một vài cuốn từ điển có sẵn trong thư viện của trường, trong đó có cả yêu cầu ghi rõ nguồn trích dẫn tài liệu. Hoặc yêu cầu các em tự tóm tắt lại các bài đọc bằng lời của mình – những điều hoàn toàn có thể làm được trong hoàn cảnh của Việt Nam.
Chỉ bằng cách tạo ra một nền văn hóa học thuật mới, trong đó tư duy độc lập, sáng tạo được khuyến khích ngay từ khi các em học sinh mới bước vào trường tiểu học, trong đó sự minh bạch, liêm chính, và tính chuyên nghiệp trong khoa học được nhấn mạnh và thường xuyên củng cố ở bậc đại học, thì những trường hợp đáng tiếc như vừa xảy ra mới có thể được ngăn ngừa một cách hữu hiệu. Bằng không thì việc đạo văn tại Việt Nam sẽ chẳng dừng lại ở một vụ tai tiếng như thế này, mà chắc chắn sẽ có thêm nhiều bài báo phân tích về nguồn gốc văn hóa của nạn đạo văn ở Việt Nam như bài viết này, đã được công bố cách đây 5 năm trên một ấn phẩm quốc tế [2]. Một cách nổi tiếng bất đắc dĩ và có lẽ không ai mong đợi cho Việt Nam trong nỗ lực hội nhập quốc tế.
---------
Chú thích:
[1] Có thể đọc thêm về loại bài tập này ở đây: http://library.ucsc.edu/help/howto/write-an-annotated-bibliography
[2] Bài viết này của các tác giả McCornack và Pham Thuy Chi đã đăng trên tạp chí Journal in Education for Business (Heldref Publications, 2005): http://dcmccornac.com/aresearch/Old/pedog/TeachinginVietnamMcCornac.pdf
Monday, November 1, 2010
Thế nào là đồng tác giả?
Vụ tai tiếng về "đạo văn" mới đây làm nảy sinh ra một câu hỏi mà theo tôi lẽ ra phải được đặt ra từ lâu, ngay từ khi VN bắt đầu thực hiện đào tạo sau đại học trong nước, đó là: thế nào là đồng tác giả?
Câu hỏi này cần được đặt ra là vì trong vụ việc vừa được báo chí đề cập đến gần đây, mặc dù bài báo ghi đến 4 tác giả (đồng nghĩa với việc: cả 4 người cùng hưởng danh tiếng và có thể cả những quyền lợi khác nữa), nhưng đến lúc bài báo bị kết án là có đạo văn thì các tác giả khác lại nói rằng thực ra chỉ có một tác giả chính, còn những người khác không tham gia gì (tức sẽ không chịu trách nhiệm về việc đạo văn!)
Bỏ qua việc xét đoán về động cơ và đạo đức của tất cả các tác giả có tên trên bài báo nói trên, tôi cho rằng nhân dịp này cần làm rõ khái niệm "đồng tác giả" để tránh những việc đáng tiếc về sau. Vì bản thân tôi cũng có dính dáng đến một vụ tranh cãi khá nặng nề dẫn đến việc chấm dứt quan hệ với một đồng nghiệp sau khi đã làm việc với nhau trên một đề tài khoa học. Việc xảy ra chỉ mới gần đây thôi, mới hơn một năm.
Điều đáng tiếc đó xảy ra là do giữa tôi và người đồng nghiệp đó không thống nhất quan điểm về thế nào là đồng tác giả, tôi thì áp dụng hiểu biết và cách ứng xử khá khắt khe mà tôi học được từ nước ngoài, còn người đồng nghiệp của tôi thì học trong nước, rất quen với "văn hóa đạo văn" (tôi dùng từ này để mô tả một sự việc khách quan chứ không có ý mỉa mai hoặc phê phán gì ở đây) thì có quan điểm rất "thoáng" về thế nào là quyền tác giả và đồng tác giả, và cảm thấy một khi ý tưởng của ai đó đã được nói ra thì nó đã trở thành của chung mà ai cũng có thể sử dụng thoải mái không cần xin phép cũng chẳng cần chú dẫn.
(Nếu tôi hiểu đúng thì thậm chí hình như người đồng nghiệp của tôi còn có quan điểm rằng ai tận dụng được cái ý tưởng được xem là của chung ấy mà đem viết ra được thành bài để công bố - mà ngay cả câu chữ cũng có thể cóp nhặt của người khác - thì đấy là điều rất đáng tự hào, vì như thế là tài giỏi, thông minh, và nếu ai đả phá điều này thì chắc là tại ... ganh tỵ với tài năng của người khác mà thôi?)
Tất nhiên, do tôi và đồng nghiệp của tôi chỉ là 2 cá nhân, nếu mỗi người có một quan điểm khác nhau thì chẳng ai có thể áp đặt quan điểm của mình lên người khác nên chỉ có thể chấm dứt quan hệ hợp tác. Nhưng nay, với vụ việc đáng buồn vừa xảy ra, thì rõ ràng là cần có những quy định rõ ràng về khái niệm "đồng tác giả".
Để trả lời câu hỏi mà tôi đặt ra trong cái tựa của entry này, tôi đã tìm trên mạng, và tìm được một bài viết rất đầy đủ, rõ ràng mà mọi người cần đọc. Bài viết có tựa là "What is authorship, and what should it be? A survey of prominent guidelines for determining authorship in scientific publications", đăng trên tạp chí mạng Practical Assessment, Research and Evaluation, ở đây.
Ai làm công tác quản lý khoa học công nghệ nên chịu khó đọc hết cả bài, rất nhiều thông tin, và điều đáng nói là bài báo đã bỏ công tổng hợp hết những hướng dẫn về "đồng tác giả" từ các tạp chí và hiệp hội lớn của các lãnh vực khác nhau. Còn dưới đây tôi chỉ đưa ra một định nghĩa về "co-authorship" mà tôi thấy là khá trùng với những gì tôi biết qua kinh nghiệm thời tôi đi học nước ngoài (cũng hơn 15 năm nay rồi). Định nghĩa này cũng rút từ bài báo trên, ở trang 5, định nghĩa của Hiệp hội xã hội học Anh Quốc. Xin đọc dưới đây:
Những người được liệt kê là tác giả phải có những đóng góp đáng kể và trực tiếp về mặt học thuật trên ít nhất hai trong bốn khía cạnh chính yếu của một đề tài hoặc bài báo khoa học tiêu biểu như sau: a) hình thành ý tưởng hoặc thiết kế; b) thu thập dữ liệu và xử lý; c) phân tích và diễn giải số liệu; và d) chắp bút những phần đáng kể trong bài viết. Quyền tác giả phải được dành riêng cho những người, và chỉ những người đó mà thôi, có đóng góp tri thức đáng kể vào công trình nghiên cứu.
Kèm theo định nghĩa này, có thêm phần diễn giải về quyền được tính công là tác giả (authorship credit), mà theo tôi là rất đáng được các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý chú trọng, vì Việt Nam dường như đang làm rất khác với thế giới:
Sự tham gia vào đề tài chỉ thông qua việc xin tài trợ hoặc giám sát tiến trình công việc của nhóm nghiên cứu thì không đủ để được tính là tác giả. Không chấp nhận tác giả danh dự.
Theo kinh nghiệm của tôi, thì hiện nay có rất nhiều vị làm quản lý nhưng vẫn tham gia các đề tài khoa học theo cách chỉ đứng tên cho có (đề tài dễ được duyệt), hoặc chỉ nhắc nhở, giám sát nhóm nghiên cứu nhưng không thực sự làm bất cứ điều gì. Tóm lại là vi phạm hoàn toàn phần diễn giải mà tôi đã tô đậm ở trên.
Khái niệm "tác giả danh dự" cũng đáng quan tâm suy nghĩ. Ở đây tôi thấy rõ ràng có vấn đề văn hóa, vì chính tôi cũng đã vô tình vi phạm vào điều này - mặc dù đã rất lâu rồi. Hồi ấy, tôi mới đi học ở nước ngoài về, và làm việc ở một khoa trong một trường đại học. Còn trẻ và ... xung, nên tôi rất hăng hái tham gia các hoạt động khoa học, và có viết bài, làm đề tài ... xôm tụ lắm. Có thể nói chính tôi là người khuấy động phong trào khoa học ở khoa lúc ấy.
Nhưng làm một mình tất nhiên là không được, mà cũng buồn, nên tôi rủ rê một số đồng nghiệp khác cùng làm. Có một vài đồng nghiệp lớn tuổi không quen với việc nghiên cứu (trước đó không thấy yêu cầu bắt buộc về nghiên cứu), thấy bọn tôi làm thì ... ngượng ngượng, tránh tránh, buồn buồn. Thế là tôi bèn “hào phóng” cho luôn tên một vài người vào trong nhóm tác giả, cho dù họ có đóng góp được gì hay không. Của đáng tội, những người ấy cũng cố gắng đóng góp theo cách của mình, như đánh máy, tìm tài liệu (hồi đó còn rất khó kiếm, phải nhờ người đi học nước ngoài photo dần và đem về). Chứ không đến nỗi không làm gì. Tóm lại là động cơ hai bên cùng trong sáng, vả lại nó cũng chỉ là những đề tài nho nhỏ cấp khoa mà thôi. Nhưng xét theo định nghĩa ở trên thì rõ ràng là vi phạm, dù có thể liệt vào loại “không cố ý”.
Đấy, nói ra để biết là chúng ta cần phải thay đổi nhiều lắm, để thoát ra khỏi “văn hóa đạo văn” hiện nay, mà hội nhập với thế giới chứ! Không lẽ cứ chấp nhận người ta bảo mình là có văn hóa đạo văn, thậm chí “văn hóa gian lận” (cheating culture), mãi như thế này hay sao? Ai không tin, cứ vào google mà search mấy từ culture of plagiarism hoặc cheating culture và asia, thì sẽ tha hồ mà đọc, các bạn ạ!
Câu hỏi này cần được đặt ra là vì trong vụ việc vừa được báo chí đề cập đến gần đây, mặc dù bài báo ghi đến 4 tác giả (đồng nghĩa với việc: cả 4 người cùng hưởng danh tiếng và có thể cả những quyền lợi khác nữa), nhưng đến lúc bài báo bị kết án là có đạo văn thì các tác giả khác lại nói rằng thực ra chỉ có một tác giả chính, còn những người khác không tham gia gì (tức sẽ không chịu trách nhiệm về việc đạo văn!)
Bỏ qua việc xét đoán về động cơ và đạo đức của tất cả các tác giả có tên trên bài báo nói trên, tôi cho rằng nhân dịp này cần làm rõ khái niệm "đồng tác giả" để tránh những việc đáng tiếc về sau. Vì bản thân tôi cũng có dính dáng đến một vụ tranh cãi khá nặng nề dẫn đến việc chấm dứt quan hệ với một đồng nghiệp sau khi đã làm việc với nhau trên một đề tài khoa học. Việc xảy ra chỉ mới gần đây thôi, mới hơn một năm.
Điều đáng tiếc đó xảy ra là do giữa tôi và người đồng nghiệp đó không thống nhất quan điểm về thế nào là đồng tác giả, tôi thì áp dụng hiểu biết và cách ứng xử khá khắt khe mà tôi học được từ nước ngoài, còn người đồng nghiệp của tôi thì học trong nước, rất quen với "văn hóa đạo văn" (tôi dùng từ này để mô tả một sự việc khách quan chứ không có ý mỉa mai hoặc phê phán gì ở đây) thì có quan điểm rất "thoáng" về thế nào là quyền tác giả và đồng tác giả, và cảm thấy một khi ý tưởng của ai đó đã được nói ra thì nó đã trở thành của chung mà ai cũng có thể sử dụng thoải mái không cần xin phép cũng chẳng cần chú dẫn.
(Nếu tôi hiểu đúng thì thậm chí hình như người đồng nghiệp của tôi còn có quan điểm rằng ai tận dụng được cái ý tưởng được xem là của chung ấy mà đem viết ra được thành bài để công bố - mà ngay cả câu chữ cũng có thể cóp nhặt của người khác - thì đấy là điều rất đáng tự hào, vì như thế là tài giỏi, thông minh, và nếu ai đả phá điều này thì chắc là tại ... ganh tỵ với tài năng của người khác mà thôi?)
Tất nhiên, do tôi và đồng nghiệp của tôi chỉ là 2 cá nhân, nếu mỗi người có một quan điểm khác nhau thì chẳng ai có thể áp đặt quan điểm của mình lên người khác nên chỉ có thể chấm dứt quan hệ hợp tác. Nhưng nay, với vụ việc đáng buồn vừa xảy ra, thì rõ ràng là cần có những quy định rõ ràng về khái niệm "đồng tác giả".
Để trả lời câu hỏi mà tôi đặt ra trong cái tựa của entry này, tôi đã tìm trên mạng, và tìm được một bài viết rất đầy đủ, rõ ràng mà mọi người cần đọc. Bài viết có tựa là "What is authorship, and what should it be? A survey of prominent guidelines for determining authorship in scientific publications", đăng trên tạp chí mạng Practical Assessment, Research and Evaluation, ở đây.
Ai làm công tác quản lý khoa học công nghệ nên chịu khó đọc hết cả bài, rất nhiều thông tin, và điều đáng nói là bài báo đã bỏ công tổng hợp hết những hướng dẫn về "đồng tác giả" từ các tạp chí và hiệp hội lớn của các lãnh vực khác nhau. Còn dưới đây tôi chỉ đưa ra một định nghĩa về "co-authorship" mà tôi thấy là khá trùng với những gì tôi biết qua kinh nghiệm thời tôi đi học nước ngoài (cũng hơn 15 năm nay rồi). Định nghĩa này cũng rút từ bài báo trên, ở trang 5, định nghĩa của Hiệp hội xã hội học Anh Quốc. Xin đọc dưới đây:
Everyone who is listed as an author should have made a substantial direct academic contribution to at least two of the four main components of a typical scientific project or paper; a) conception or design, b) data collection and processing, c) analysis and interpretation of the data, and d) writing substantial sections of the paper. Authorship should be reserved for those, and only those, who have made significant intellectual contribution to the research.Còn đây là phần dịch của tôi:
Những người được liệt kê là tác giả phải có những đóng góp đáng kể và trực tiếp về mặt học thuật trên ít nhất hai trong bốn khía cạnh chính yếu của một đề tài hoặc bài báo khoa học tiêu biểu như sau: a) hình thành ý tưởng hoặc thiết kế; b) thu thập dữ liệu và xử lý; c) phân tích và diễn giải số liệu; và d) chắp bút những phần đáng kể trong bài viết. Quyền tác giả phải được dành riêng cho những người, và chỉ những người đó mà thôi, có đóng góp tri thức đáng kể vào công trình nghiên cứu.
Kèm theo định nghĩa này, có thêm phần diễn giải về quyền được tính công là tác giả (authorship credit), mà theo tôi là rất đáng được các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý chú trọng, vì Việt Nam dường như đang làm rất khác với thế giới:
Participation solely in the acquisition of funding or general supervision of the research group is not sufficient for authorship. Honorary authorship is not acceptable.Và đây là bản dịch (cũng của tôi):
Sự tham gia vào đề tài chỉ thông qua việc xin tài trợ hoặc giám sát tiến trình công việc của nhóm nghiên cứu thì không đủ để được tính là tác giả. Không chấp nhận tác giả danh dự.
Theo kinh nghiệm của tôi, thì hiện nay có rất nhiều vị làm quản lý nhưng vẫn tham gia các đề tài khoa học theo cách chỉ đứng tên cho có (đề tài dễ được duyệt), hoặc chỉ nhắc nhở, giám sát nhóm nghiên cứu nhưng không thực sự làm bất cứ điều gì. Tóm lại là vi phạm hoàn toàn phần diễn giải mà tôi đã tô đậm ở trên.
Khái niệm "tác giả danh dự" cũng đáng quan tâm suy nghĩ. Ở đây tôi thấy rõ ràng có vấn đề văn hóa, vì chính tôi cũng đã vô tình vi phạm vào điều này - mặc dù đã rất lâu rồi. Hồi ấy, tôi mới đi học ở nước ngoài về, và làm việc ở một khoa trong một trường đại học. Còn trẻ và ... xung, nên tôi rất hăng hái tham gia các hoạt động khoa học, và có viết bài, làm đề tài ... xôm tụ lắm. Có thể nói chính tôi là người khuấy động phong trào khoa học ở khoa lúc ấy.
Nhưng làm một mình tất nhiên là không được, mà cũng buồn, nên tôi rủ rê một số đồng nghiệp khác cùng làm. Có một vài đồng nghiệp lớn tuổi không quen với việc nghiên cứu (trước đó không thấy yêu cầu bắt buộc về nghiên cứu), thấy bọn tôi làm thì ... ngượng ngượng, tránh tránh, buồn buồn. Thế là tôi bèn “hào phóng” cho luôn tên một vài người vào trong nhóm tác giả, cho dù họ có đóng góp được gì hay không. Của đáng tội, những người ấy cũng cố gắng đóng góp theo cách của mình, như đánh máy, tìm tài liệu (hồi đó còn rất khó kiếm, phải nhờ người đi học nước ngoài photo dần và đem về). Chứ không đến nỗi không làm gì. Tóm lại là động cơ hai bên cùng trong sáng, vả lại nó cũng chỉ là những đề tài nho nhỏ cấp khoa mà thôi. Nhưng xét theo định nghĩa ở trên thì rõ ràng là vi phạm, dù có thể liệt vào loại “không cố ý”.
Đấy, nói ra để biết là chúng ta cần phải thay đổi nhiều lắm, để thoát ra khỏi “văn hóa đạo văn” hiện nay, mà hội nhập với thế giới chứ! Không lẽ cứ chấp nhận người ta bảo mình là có văn hóa đạo văn, thậm chí “văn hóa gian lận” (cheating culture), mãi như thế này hay sao? Ai không tin, cứ vào google mà search mấy từ culture of plagiarism hoặc cheating culture và asia, thì sẽ tha hồ mà đọc, các bạn ạ!
Nhãn:
co-authorship,
copyright,
plagiarism
Subscribe to:
Posts (Atom)